Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 2: Đoạt Mệnh Nhổ Đinh - Chương 43: Nỗi Đau Dân Nghèo
Cần gạt nước của chiếc xe bán tải quét qua quét lại trên mặt kính chắn gió, phát ra từng hồi ken két rợn tai giữa cơn mưa tầm tã. Phía trước mũi xe, con…
Nội dung chương
Cần gạt nước của chiếc xe bán tải quét qua quét lại trên mặt kính chắn gió, phát ra từng hồi ken két rợn tai giữa cơn mưa tầm tã. Phía trước mũi xe, con đường nhựa phẳng lì của trung tâm đô thị thưa dần, nhường chỗ cho lối mòn lầy lội dẫn vào khu kho bãi cảng sông Chợ Lớn cũ. Bánh xe trượt nhẹ trên lớp bùn nhão nhoét đặc quánh, phát ra những tiếng bì bõm nặng nề.
Tôi tấp xe vào một bãi đất trống rậm rạp cỏ dại, nép sát chân tường rào rỉ sét của một xưởng đóng tàu đã bỏ hoang từ thập niên trước. Bên cạnh tôi, Lê Thanh Nhã mặc một chiếc áo mưa cánh dơi màu xanh thẫm, hai tay giữ chặt chiếc hộp gỗ bọc da đựng đồ nghề gia truyền của phái Bạch Lỗ Ban.
- Chúng ta phải đi bộ từ đây. - Tôi tắt máy xe, kéo chiếc mũ áo măng tô đen trùm kín nửa khuôn mặt - Lối đi vào xóm chài toàn là cầu ván ghép tạm, xe không vào nổi đâu.
Thanh Nhã gật đầu, ánh mắt cô hướng ra ngoài cửa kính, nơi những đốm sáng vàng vọt leo lét đang chập chờn trong màn mưa đêm dày đặc:
- Em ngửi thấy mùi tử khí rất nặng xộc lên từ lòng kênh. Không đơn thuần là mùi rác thải sinh hoạt, mà là thứ khí uế tạp tích tụ nhiều năm bị ép chặt dưới đáy bùn.
Tôi mở cửa xe, bước chân chạm xuống lớp bùn lầy ngập tới mắt cá. Không khí lập tức siết lấy cổ họng tôi bằng một mùi tanh tưởi hỗn tạp giữa nước cống rãnh ứ đọng, bùn đen mục ruỗng và mùi tanh nồng của cá ươn. Trước mắt chúng tôi, xóm nhà sàn của hơn ba trăm hộ dân hiện ra như một vết chàm xám xịt bám chặt vào mép nước đen ngòm của dải đất bồi.
Hàng trăm mái tôn gỉ sét chen chúc, đè nghiến lên nhau trong một không gian chật hẹp đến mức ngột ngạt. Những căn nhà chồ xiêu vẹo dựng tạm bằng đủ loại phế liệu: ván ép mục nát, bao tải rách, những tấm bạt nhựa chắp vá tả tơi đang phần phật bay trong gió bão. Toàn bộ khu dân cư này bám víu trên hàng nghìn chiếc cọc tràm, cọc bạch đàn cắm xiêu vẹo xuống đáy kênh. Mỗi khi con sóng dưới lòng kênh vỗ mạnh vào bờ, cả dãy nhà sàn lại rùng mình run rẩy, phát ra những tiếng cót két như sắp sụp đổ bất cứ lúc nào.
Tôi bước lên chiếc cầu khỉ nối từ bờ đất ra xóm nổi. Cánh tay trái cứng đờ của tôi giấu dưới lớp áo măng tô bỗng nhiên nhói buốt. Lớp vỏ gỗ lim dưới da thịt tôi co thắt lại, như thể nó đang cảm nhận được sự cộng hưởng từ hàng ngàn thân gỗ mục rỗng đang rên rỉ dưới chân.
Một đứa bé trạc năm tuổi, người gầy trơ xương sườn, chỉ mặc độc một chiếc quần đùi rách rưới đang ngồi co ro dưới mái hiên dột nát của căn nhà đầu tiên. Nước mưa từ mép tôn xối thẳng xuống bên cạnh, bắn bùn đất tung tóe lên đôi chân khẳng khiu lấm lem của nó. Đôi mắt đứa trẻ hõm sâu, trừng trừng nhìn tôi và Thanh Nhã với ánh nhìn đờ đẫn, hoàn toàn mất đi vẻ ngây thơ vốn có của lứa tuổi.
Khung cảnh bần hàn cùng cực này quất mạnh vào lồng ngực tôi một cơn đau âm ỉ.
Hơn 27 năm trước (1998), trước khi Trần Thế Hùng tìm ra tôi để chuẩn bị cho việc hiến tế sa bàn, mẹ con tôi cũng từng sống trong một khu ổ chuột ven sông không khác nơi này là bao. Tôi nhớ rõ những đêm mưa bão, mái nhà dột tứ bề, mẹ tôi đã phải dùng những chiếc thau nhôm thủng đáy để hứng nước, rồi ôm chặt lấy tôi vào lòng để che chắn từng cơn gió lạnh buốt lùa qua khe liếp. Tôi nhớ ánh mắt cay nghiệt của những người họ hàng bên nội khi họ lái xe hơi sang trọng đến ném một xấp tiền lẻ vào mặt mẹ tôi, xua đuổi hai mẹ con như xua đuổi một đàn sâu bọ làm vấy bẩn danh giá của gia tộc họ Trần.
Trần Thế Hùng đã nuôi tôi lớn lên trong nhung lụa, cho tôi ăn học ở trời Tây, khoác lên người tôi những bộ âu phục đắt tiền nhất. Nhưng sâu thẳm trong cốt tủy, tôi nhận thức rõ mình chưa từng thuộc về sự hào nhoáng giả tạo đó. Tôi là sản phẩm của một âm mưu, một con vật nuôi được chăm bẵm cẩn thận để chờ ngày lên bàn mổ. Nhìn những đứa trẻ nheo nhóc nơi đây, tôi thấy lại chính cái bóng của mình trong quá khứ, những mảnh đời nhỏ bé luôn sẵn sàng bị nghiền nát dưới bánh xe lợi ích của những kẻ nắm quyền bính.
- Chú... chú tìm ai?
Một giọng nói khàn đặc, yếu ớt vang lên từ ô cửa sổ trống hoác bên cạnh. Tôi quay đầu lại, thấy một người đàn bà trung niên gương mặt hốc hác, làn da xám ngoét như màu tro bếp đang bám tay vào khung cửa gỗ mục.
- Chào chị. - Tôi bước lại gần, cố gắng hạ giọng nhẹ nhàng nhất có thể - Chúng tôi là nhân viên khảo sát công trình. Chúng tôi nghe nói khu vực này sắp có lệnh di dời nên muốn đến kiểm tra tình hình đời sống của bà con trước khi có phương án hỗ trợ.
Người đàn bà nghe đến hai chữ "di dời" thì toàn thân run lên bần bật. Bà ta nhìn chiếc áo vest lộ ra dưới lớp áo măng tô của tôi, ánh mắt tràn ngập sự sợ hãi và cảnh giác:
- Hỗ trợ cái gì chứ? Lại là người của tập đoàn Trần Thị phái tới ép giá đền bù đúng không? Các người đã cho đám giang hồ tới đe dọa chúng tôi cả tháng nay rồi! Các người muốn đẩy chúng tôi xuống sông chết hết thì các người mới vừa lòng hả?
- Chị bình tĩnh đi, chúng tôi không phải đám người đó. - Thanh Nhã bước lên, kéo chiếc nón lá trên đầu xuống để lộ gương mặt hiền hòa - Chúng tôi tới đây là vì nghe tin trong xóm đang có nhiều người bị bệnh. Em là người làm thuốc Nam, em muốn xem có thể giúp gì cho bà con không.
Nhìn thấy nét mặt chân thành của Thanh Nhã và chiếc trâm cài tóc bằng gỗ đào giản dị, sự đề phòng trong mắt người đàn bà mới dịu bớt đôi chút. Bà ta thở dài một hơi dài não nuột, hai hàng nước mắt lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo:
- Chữa chạy gì được nữa cô ơi... Cả cái xóm này sắp chết hết rồi. Không phải vì đói, mà vì cái chứng bệnh quái ác này đây.
Bà ta lùi lại, đẩy cánh cửa liếp ọp ẹp sang một bên để chúng tôi bước vào trong.
Căn nhà chỉ rộng chừng mười lăm mét vuông, tối tăm và ẩm thấp. Nền nhà lát bằng những tấm ván bìa gồ ghề, bên dưới là dòng nước đen kịt lững lờ trôi, thỉnh thoảng lại bốc lên những bọt khí sủi tăm tanh nồng. Ở góc nhà, trên chiếc giường tre ọp ẹp kê sát vách, một người đàn ông lớn tuổi đang nằm co quắp, phát ra những tiếng rên rỉ ngắt quãng đầy đau đớn.
Tôi và Thanh Nhã tiến lại gần chiếc giường tre.
Khi tấm chăn rách được người đàn bà lật ra, tôi không khỏi giật mình lùi lại nửa bước. Đập vào mắt tôi không phải là một chứng bệnh da liễu hay nhiễm trùng thông thường do nước bẩn.
Hai cẳng chân của người đàn ông sưng vù lên gấp đôi bình thường, nhưng màu da không phải đỏ tấy vì viêm nhiễm mà lại mang một sắc tím tái thâm đen kỳ dị. Những đường gân máu dưới da nổi cộm lên, ngoằn ngoèo đan xen chằng chịt, tạo thành những đường vân uốn lượn hệt như thớ gỗ của một thân cây mục. Các khớp ngón chân và mắt cá chân của ông ta co quắp lại, cứng đờ như bị ai đó dùng dây thép siết chặt.
Tôi đưa bàn tay phải chạm nhẹ vào bắp chân ông ta.
- Bị bao lâu rồi chị? - Tôi hỏi, giọng nói bắt đầu trầm xuống.
- Ban đầu là thằng Tí nhà tôi bị trước, cách đây chừng hai tuần. - Người đàn bà quẹt nước mắt, chỉ tay về phía đứa trẻ ngoài hiên - Nó chỉ bị ngứa ở mắt cá chân sau khi lội xuống mép nước vớt mấy cái can nhựa. Nhưng chỉ ba ngày sau, chân nó bắt đầu cứng lại, đi đứng không nổi. Rồi đến lượt chồng tôi, rồi lan ra cả mấy chục nhà dọc theo bờ kè này. Cứ ai lội chân xuống dòng kênh hay dùng nước giếng khoan ở khu này là bị. Đi bệnh viện huyện thì bác sĩ bảo bị viêm tắc tĩnh mạch do nhiễm độc chì và vi khuẩn, phát thuốc về uống nhưng càng uống chân tay lại càng cứng đờ ra như khúc gỗ thế này đây!
Thanh Nhã ngồi thụp xuống bên mép giường. Cô mở chiếc hộp gỗ, lấy ra một chiếc kim bạc dài chừng ba tấc cùng một lọ con đựng nước ngâm vỏ cây dâu tằm. Cô nhẹ nhàng chấm nước thuốc lên mu bàn chân của người đàn ông, sau đó châm nhẹ mũi kim bạc vào một huyệt vị dưới mắt cá.
Một giọt máu rỉ ra từ đầu kim.
Giọt máu đó không hề có màu đỏ tươi, mà sẫm đặc lại như màu nước trà đen lâu ngày, bốc lên một mùi chua nồng pha lẫn mùi nhựa thông cháy dở.
Đồng tử của Thanh Nhã co rút lại. Cô rút nhanh chiếc kim bạc ra, dùng miếng vải trắng lau sạch rồi đưa lên sát mũi ngửi. Ngay lập tức, nét mặt cô trở nên vô cùng nghiêm trọng. Cô quay sang nhìn tôi, khẽ lắc đầu:
- Không phải bệnh dịch. Máu bị mộc độc phong tỏa kinh lạc, huyết dịch ngưng trệ biến thành nhựa cây. Đây là dấu hiệu của việc bị Mộc Sát khí xâm thực trực tiếp vào thân thể.
Trái tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Mộc Sát khí. Thứ tà khí mà tôi hiểu rõ hơn bất kỳ ai trên cõi đời này, bởi vì ngay lúc này, một nửa cơ thể tôi cũng đang bị giam cầm trong thứ nguyền rủa tàn khốc ấy.
Cánh tay trái của tôi bắt đầu co giật dưới lớp áo khoác. Khối gỗ lim đen ngòm thay thế cho xương thịt tôi dường như đang reo rắc những rung động ngầm khi đối diện với giọt máu đen kịt kia. Nỗi đau đớn từ vết thương hình chữ thập trên ngực trái lại nhói lên, từng thớ thịt rỉ ra cảm giác nhức nhối như bị kim châm.
Sa bàn Bách Mộc Yếm Thắng ở tầng hầm thứ ba của tập đoàn Trần Thị.
Hình ảnh sa bàn bằng gỗ sưa đỏ nghìn năm tuổi lại hiện lên rõ mồn một trong tâm trí tôi. Dải kho bãi cảng sông Chợ Lớn cũ chính là một nhánh rễ chính trong đồ hình long mạch mà Trần Thế Hùng đang toan tính kiểm soát. Ông ta không chỉ muốn chiếm đất để xây dựng cao ốc thương mại, mà ông ta đang biến toàn bộ khu vực này thành một lò luyện ngải phong thủy khổng lồ.
Người dân ở đây không chết vì đói nghèo, mà họ đang bị biến thành vật tế sống. Họ hít thở tử khí, uống nước nhiễm sát khí, từng ngày từng giờ bị tà thuật bòn rút sinh lực để tẩm bổ cho trận pháp ngầm đang hình thành dưới lòng đất. Dịch bệnh kỳ quái này chính là kết quả của việc Mộc Tinh đang hút cạn nguyên khí của mảnh đất này, biến cơ thể của những con người bằng xương bằng thịt thành những khúc gỗ khô mục vô tri.
- Anh Quang... - Thanh Nhã đứng dậy, thì thầm bên tai tôi, giọng cô run rẩy vì phẫn nộ - Người của Vĩnh Khang không chỉ dùng bạo lực để đuổi người. Bọn chúng đã can thiệp vào phong thủy của khu này từ trước rồi. Dưới lòng đất hoặc dưới chân những cọc móng này, chắc chắn có vật yểm trấn hung hiểm cực độ!
Tôi siết chặt nắm tay phải, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đến ứa máu. Sự tàn nhẫn của cha tôi và sự đê hèn của Vĩnh Khang đã vượt xa khỏi mọi giới hạn đạo đức của con người. Để đạt được mục đích trường sinh bất lão, để dựng lên đế chế Bảo Gia Vạn Đại bằng vàng ròng và máu thịt, bọn họ sẵn sàng dẫm đạp lên mạng sống của hàng trăm con người khốn khổ, biến họ thành những con tốt thí chết dần chết mòn trong đau đớn cùng cực.
Người đàn ông trên giường lại phát ra một tiếng rên rỉ thống thiết, bàn tay co quắp của ông ta run rẩy túm lấy vạt áo măng tô của tôi:
- Cứu... cứu tôi với cậu ơi... Chân tôi... nó không còn cảm giác gì nữa rồi... Nó như biến thành khúc củi mục rồi...
Ánh mắt tuyệt vọng của ông ta nhìn thẳng vào mắt tôi, như một lưỡi dao sắc nhọn cứa nát chút bình tĩnh cuối cùng trong tâm can tôi. Tôi nắm lấy bàn tay gầy trơ xương, lạnh ngắt của ông ta, giọng nói nghẹn lại nơi cổ họng:
- Bác yên tâm. Cháu hứa với bác, đêm nay cháu sẽ tìm ra nguyên nhân. Bằng mọi giá, cháu sẽ không để khu xóm này bị hủy diệt.
Tôi rút từ trong túi áo ra một xấp tiền mặt nhét vào tay người đàn bà đang đứng thẫn thờ bên cạnh:
- Chị cầm lấy số tiền này, mua nước sạch đóng bình và lương thực khô cho bà con dùng tạm. Tuyệt đối không được cho bất kỳ ai uống nước giếng khoan hay lội chân xuống dòng kênh nữa. Nhớ kỹ lời tôi!
Nói xong, tôi kéo mũ áo trùm kín đầu, dứt khoát quay lưng bước nhanh ra khỏi căn nhà sàn rách nát. Thanh Nhã ôm chặt hộp đồ nghề, vội vã bước theo sau tôi trên cây cầu ván chao đảo.
Gió bão ngoài trời càng lúc càng gầm thét dữ dội. Những giọt mưa quất rát rạt vào mặt chúng tôi. Tôi bước nhanh về phía cuối dải đất bồi, nơi cây cầu sắt cũ kỹ bắc qua dòng kênh đen ngòm đang sừng sững đứng đó như một bóng ma khổng lồ trong đêm tối.
Mộc khí tà ác đang từ dưới những trụ cầu đó tỏa ra, nồng nặc và đặc quánh như một tấm lưới tử thần bao trùm lên toàn bộ xóm chài.