Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 2: Đoạt Mệnh Nhổ Đinh - Chương 67: Cuộc Vượt Ngục Dưới Mưa
Tiếng sấm rền vang trên đỉnh đầu làm rung chuyển những khung cửa kính chớp của gian nhà kho áp sát cổng sau dinh thự. Hai tên vệ sĩ quẳng tôi xuống sàn…
Nội dung chương
Tiếng sấm rền vang trên đỉnh đầu làm rung chuyển những khung cửa kính chớp của gian nhà kho áp sát cổng sau dinh thự. Hai tên vệ sĩ quẳng tôi xuống sàn gạch bông cũ kỹ, lạnh toát. Cú va chạm mạnh khiến lồng ngực tôi quặn thắt, từng thớ thịt rách toạc ra dưới áp lực của tà thuật Hắc Lỗ Ban. Máu lẫn nhựa sưa sền sệt, đen ngòm rỉ qua lớp vải áo sơ mi đã rách bươm, bốc lên mùi tanh nồng của gỗ mục ngâm nước lâu năm.
- Nằm yên ở đó đi, đại thiếu gia. - Một tên vệ sĩ vỗ vỗ cây dùi cui điện vào lòng bàn tay, nhếch mép cười khinh bỉ - Đừng có ráng cựa quậy chi cho uổng công. Cánh cửa sắt này khóa ba lớp, bên ngoài còn có dây thép gai nối nguồn điện cao thế. Thầy Tư dặn kỹ rồi, tới sáng mai xe chuyên dụng của bệnh viện tâm thần Biên Hòa tới rước, tụi này mới mở cửa.
Tên còn lại bước lùi ra ngoài hiên, giũ chiếc áo mưa bạt màu xanh rêu, châm một điếu thuốc lá:
- Nói nhiều với thằng phế nhân đó làm gì. Mày coi cái tay trái của nó kìa, xám xịt như khúc củi khô trôi sông. Chủ tịch với cậu Ba đã ra lệnh phế truất, thì coi như xong một đời. Canh chừng cho cẩn thận, mưa gió kiểu này tao chỉ muốn vào trạm gác pha ấm trà nóng.
Tiếng khóa sắt lách cách vang lên khô khốc bên ngoài. Cánh cửa gỗ dày bọc tôn của gian nhà kho đóng sầm lại, ngăn cách tôi với thế giới bên ngoài. Bóng tối bao trùm lấy không gian chật hẹp, nồng nặc mùi ẩm mốc, phân chuột và mùi dầu máy của những chiếc máy cắt cỏ cũ kỹ nằm ngổn ngang ở góc tường.
Tôi nằm sấp trên nền gạch hoa văn thời Pháp thuộc đã mòn vẹt. Từng cơn đau buốt nhói từ sau lưng lan thẳng lên đỉnh đầu, mỗi nhịp thở giống như có hàng ngàn mũi kim sắt nung đỏ đâm xuyên qua phổi. Tôi cắn chặt răng, cảm nhận vị mặn chát của máu tươi và vị chát đắng của nhựa cây dâng lên tận cuống họng.
Không thể nằm đây chờ chết.
Tôi dùng bàn tay phải còn lành lặn chống xuống sàn, gồng mình nhổm dậy. Cánh tay trái hoàn toàn mất cảm giác đau đớn, khớp khuỷu và các ngón tay cứng đờ như một khối gỗ lim đẽo dở, phát ra những tiếng cọt kẹt trầm đục mỗi khi cử động.
Tôi đưa tay phải vào trong vạt áo, chạm vào thanh thước Lỗ Ban bằng gỗ mun sừng của Lê Thanh Nhã. Bề mặt gỗ mun mát lạnh, những đường khắc chữ son trên thân thước tỏa ra luồng dương khí ấm áp, áp chế bớt sự cuồng bạo của tử khí đang gặm nhấm kinh mạch tôi. Thanh thước này chính là chìa khóa sống còn, là bằng chứng cho thấy Bạch Lỗ Ban vẫn còn tồn tại để đối đầu với tội ác của cha tôi.
Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở của cánh cửa sổ lá sách hướng ra sân sau. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, dội xối xả xuống những tán cây cổ thụ trong khuôn viên dinh thự. Nước mưa cuộn thành từng dòng đục ngầu chảy xiết trên mặt đường lát đá hoa cương, tràn qua miệng cống thoát nước.
Cách gian kho chừng mười lăm mét là trạm gác cổng sau. Hai tên vệ sĩ đang ngồi bên trong chiếc bốt bọc kính cường lực, mải mê nhìn vào màn hình điện thoại, mặc cho khói thuốc lá bay mù mịt. Phía trên cao, bờ tường bao quanh dinh thự cao hơn bốn mét, trên đỉnh gắn hàng rào thép gai hình lưỡi dao cạo và hệ thống dây điện trần giăng mắc chằng chịt. Cứ cách mười mét lại có một camera an ninh góc rộng gắn đèn hồng ngoại quét qua quét lại, phát ra những vệt sáng đỏ rực trong màn mưa đêm.
Cổng sau là cánh cổng sắt đúc nguyên khối nặng hàng tấn, khóa chặt bằng then cài điện tử kết hợp xích sắt đường kính bằng cổ tay. Một người bình thường dù có xà beng cũng đừng hòng cạy phá trong vòng nửa tiếng, huống chi một kẻ tàn tạ mang đầy thương tật như tôi.
Nhưng tôi không còn là một người bình thường nữa.
Cánh tay trái của tôi, thứ mà cha tôi và Vĩnh Khang coi là phế phẩm của quá trình biến dị, lại là một khối gỗ sưa hóa thạch cứng hơn bất kỳ loại thép công nghiệp nào. Cấu trúc tế bào da thịt đã bị mộc hóa hoàn toàn, gân cốt biến thành những sợi thớ gỗ đan bện xoắn chặt vào nhau, không biết đau đớn, không biết mỏi mệt.
Tôi tiến lại gần cánh cửa sổ lá sách bằng gỗ lim. Chấn song sắt của cửa sổ đã hoen gỉ theo năm tháng nhưng vẫn còn rất chắc chắn, bắt vít sâu vào khung tường gạch thẻ dày ba mươi phân. Tôi luồn các ngón tay trái cứng như móc sắt vào giữa hai thanh chấn song.
Hít một hơi thật sâu, tôi vận sức từ cơ hoành, ép toàn bộ áp lực của luồng tử khí trong lồng ngực dồn xuống cánh tay mộc hóa.
Một âm thanh răng rắc vang lên nghẹt thở.
Thớ gỗ trên cánh tay tôi co thắt lại, vân gỗ sẫm màu dưới da nổi gồ ghề như những chiếc rễ cây cổ thụ bám vào vách đá. Hai thanh chấn song sắt tròn dày bằng ngón chân cái bắt đầu uốn cong, biến dạng dưới lực bóp kinh hồn của năm ngón tay gỗ. Khớp ngón tay tôi ken két chà sát vào lớp rỉ sét, cạo bay từng mảng kim loại vụn.
Tôi nghiến răng, giật mạnh sang hai bên. Hai mối hàn nối chấn song với khung bao bật tung ra, gạch vữa quanh chân ốc rớt lả tả xuống sàn gỗ.
Tiếng sấm sét rền vang đúng lúc che lấp hoàn toàn tiếng đổ vỡ của kim loại. Tôi cẩn thận tháo rời hai thanh sắt cong queo, đặt nhẹ nhàng xuống đất. Khoảng trống vừa đủ để một người gầy guộc chui lọt.
Tôi trèo qua bệ cửa sổ, đặt chân xuống nền cỏ sũng nước bên ngoài gian kho. Gió bão lập tức thốc thẳng vào người, mưa táp rát mặt. Cái lạnh buốt của nước mưa ngấm vào từng thớ thịt nứt nẻ sau lưng, làm dấy lên những cơn co giật buốt tận tủy sống.
Tôi khom lưng, nấp sau những bụi trúc đào rậm rạp chạy dọc theo chân tường rào, mắt dán chặt vào trạm gác và các mắt camera an ninh trên tường.
Chiếc đèn hồng ngoại của camera số 14 đang quét về phía bờ tường cách tôi tám mét. Chỉ cần bước ra khỏi bóng tối của bụi cây, còi báo động sẽ lập tức rú vang khắp khuôn viên, và hệ thống lưới điện cao thế trên bờ tường sẽ giật chết bất kỳ sinh vật nào chạm vào.
Tôi siết chặt thanh thước Lỗ Ban trước ngực, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh hòa lẫn nước mưa. Khoảng cách tám mét ấy là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Tôi cần một kẽ hở, một sự hỗn loạn để vượt qua vùng quét tử thần.
Ngay khi tôi chuẩn bị liều mạng lao ra, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra.
Từ lòng đất dưới chân tôi, một làn sóng chấn động âm ỉ truyền lên qua lớp đất sũng nước. Luồng tử khí nồng nặc mùi gỗ sưa đỏ từ sâu dưới tầng hầm mười hai mét đột ngột co giật dữ dội, giống như một con cự thú bị đâm trúng tim đen.
Tiếp theo đó là một tiếng "bụp" khô khốc vọng lên từ lỗ thông hơi ngầm gần chân tường.
Toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng quanh sân sau chớp nháy liên hồi rồi vụt tắt. Đèn pha công suất lớn trên các góc tường lịm dần, chỉ để lại những sợi dây tóc đỏ quạch trước khi tối đen như mực. Đèn hồng ngoại của các camera an ninh đồng loạt phụt tắt, những thấu kính cơ học rũ xuống bất động.
- Cái quái gì thế này? Mất điện à? - Tiếng la hét từ trong bốt gác vang lên.
- Máy phát điện phụ đâu? Sao hệ thống tự động không nhảy áp? Chết tiệt, tối thui rồi!
Hai tên vệ sĩ lúng túng đẩy cửa bốt gác chạy ra ngoài, tay cầm đèn pin chiếu loạn xạ vào màn mưa.
Tôi nhìn chằm chằm vào hộp kỹ thuật ngầm dưới chân tường rào. Từ khe hở nắp cống bọc gang, một làn khói tím nhạt bốc lên khét lẹt, kèm theo mùi dầu mỡ xác động vật cháy xém.
Đường dây cáp ngầm dẫn điện và tín hiệu âm dương kết nối giữa sa bàn Bách Mộc Yếm Thắng và hệ thống an ninh mặt đất đã bị chặt đứt.
Vết cắt rất ngọt, chuẩn xác đến từng milimet, chỉ có thể được tạo ra bởi một nhát rìu cổ mang theo sát khí chí âm chí hàn. Trong toàn bộ dinh thự họ Trần này, chỉ có một người duy nhất nắm rõ từng đường đi nước bước của mạng lưới phong thủy ngầm dưới tầng hầm thứ ba, và chỉ có một người đủ khả năng phá hủy mạch dẫn âm dương mà không bị phản phệ tức thì: Lão Thất.
Lão Thất, người thợ gác hầm tật nguyền câm điếc, kẻ đã im lặng chịu đựng sự đày đọa của cha tôi suốt mấy chục năm qua. Ông đã chọn thời điểm này để vung rìu, chặt đứt huyết mạch an ninh của dinh thự, mở ra một đường máu duy nhất cho tôi chạy trốn.
Cơ hội chỉ có trong vài chục giây ngắn ngủi trước khi hệ thống phòng vệ phụ được kích hoạt thủ công.
Tôi không chần chừ thêm một giây nào nữa.
Bằng tất cả sức lực còn sót lại trong cơ thể tàn tạ, tôi phóng vụt ra khỏi bụi cây, lao thẳng về phía chân tường rào sắt gai. Đôi giày da trượt trên nền đá trơn trượt, nhưng các khớp chân mộc hóa cứng cáp giúp tôi giữ vững thăng bằng.
- Có người trốn! Bắt nó lại! - Một tên vệ sĩ tình cờ lia chùm sáng đèn pin quét trúng bóng lưng tôi, gầm lên thất thanh - Là thằng Minh Quang! Bấm còi báo động mau!
- Mất điện rồi, còi không kêu! Đuổi theo nó!
Tiếng bước chân rầm rập của đám vệ sĩ đuổi gấp phía sau lưng. Tiếng đạn hoa cải lên nòng lách cách vang lên giữa tiếng mưa gầm rú.
Tôi lao tới chân bức tường cao bốn mét. Bình thường, với chiều cao này và hàng rào gai góc bên trên, không ai có thể trèo qua mà không có thang dây.
Tôi dẫm mạnh chân phải lên gờ tường gạch rêu phong, lấy đà bật nhảy lên cao hơn hai mét. Cánh tay trái cứng như xà beng vung ra, năm ngón tay gỗ cắm phập thẳng vào mạch vữa giữa hai hàng gạch thẻ, giữ chặt thân người tôi lơ lửng trên không trung.
Gạch đá vụn vỡ dưới sức nặng của tôi, nhưng các ngón tay gỗ găm sâu như đinh đóng cột, không hề lung lay. Tôi tiếp tục dùng chân phải đạp vào một hốc tường lồi ra, kéo người vọt lên đỉnh tường.
Hàng rào thép gai hình dao cạo cuộn tròn trên đỉnh tường rào hiện ra ngay trước mắt.
Tôi không có thời gian gỡ từng nút buộc. Tôi vung cánh tay trái đã mộc hóa ra phía trước, dùng cẳng tay cứng như thanh sắt đập thẳng vào giữa cuộn thép gai.
Một tiếng rách toạc chói tai vang lên.
Những lưỡi dao thép sắc như dao mổ cứa mạnh vào cánh tay trái tôi, nhưng chỉ cạo ra những lớp vỏ gỗ sẫm màu và vài vệt nhựa đen đặc quánh. Tôi dùng lực của cả cơ thể nghiến mạnh cánh tay, ép bẹp cuộn gai thép xuống mặt bê tông, tạo thành một điểm tựa phẳng lì.
Bàn tay phải lành lặn của tôi bám vào mép tường. Dây thép gai cứa sâu vào lòng bàn tay tôi, máu tươi rỉ ra hòa cùng nước mưa lạnh ngắt. Cơn đau nhói buốt chạy dọc cánh tay phải, nhưng tôi nghiến răng chịu đựng, không để phát ra một tiếng rên rỉ nào.
- Đứng lại! Bắn nó!
Tiếng súng nổ vang lên đanh gọn xé toạc màn mưa.
Một viên đạn chì găm trúng vào góc tường gạch ngay dưới chân tôi, làm bắn tung tóe những mảnh vữa sắc nhọn cào rách ống quần.
Tôi dồn toàn lực vào chân trụ, bật người qua đỉnh tường rào, lao thẳng xuống con hẻm phía bên ngoài dinh thự.
Khoảng cách từ đỉnh tường xuống mặt đất bên ngoài sâu hơn bốn mét. Tôi rơi tự do giữa màn mưa xối xả, gió quất rát rạt vào hai bên tai.
Rầm!
Thân người tôi nện mạnh xuống mặt đường nhựa của con hẻm ngập nước. Cú tiếp đất làm chấn động toàn bộ khung xương. Đầu gối chân phải tôi khuỵu xuống, trượt dài trên lớp sỏi đá dăm. Cơn đau dữ dội từ ngực và lưng như muốn xé nát cơ thể tôi thành trăm mảnh, khiến tầm mắt tôi tối sầm lại trong vài giây. Máu tươi ộc ra từ khóe miệng, nhỏ từng giọt nóng hổi xuống vũng nước mưa lạnh ngắt dưới chân.
Phía bên kia bức tường, tiếng la hét của đám vệ sĩ vẫn vang lên ầm ĩ:
- Mở cổng phụ! Lấy chìa khóa cơ mở cổng phụ mau! Nó nhảy ra ngoài hẻm rồi!
- Báo cho cậu Ba! Gọi ngay cho đội bảo vệ khu vực Chợ Lớn chốt chặn các ngả đường!
Tiếng kim loại va đập vào nhau chát chúa khi chúng cố gắng mở chiếc khóa xích khổng lồ của cánh cổng sắt. Chúng sẽ mất ít nhất hai đến ba phút để phá được chốt cơ học trong tình trạng mất điện toàn phần.
Tôi run rẩy chống tay đứng dậy. Toàn thân ướt sũng, lạnh buốt thấu xương, nhưng bên trong lồng ngực, ngọn lửa tà thuật của Hắc Lỗ Ban vẫn đang âm ỉ thiêu đốt từng mạch máu. Cánh tay trái rủ xuống nặng nề, những vết chém của dây thép gai để lại những rãnh sâu hoắm trên thớ gỗ lim, rỉ ra từng giọt nhựa sưa đen sì.
Tôi dùng tay phải ôm chặt lồng ngực, giữ chặt lấy thanh thước Lỗ Ban đang giấu kín dưới lớp áo ướt sũng, rồi quay người lao đi.
Con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo phía sau dinh thự tối tăm như một họng súng đen ngòm. Nước mưa từ các mái tôn cũ kỹ của những căn nhà phố đổ xuống như thác xối, che mờ mọi biển hiệu và tầm nhìn. Tôi cắm đầu chạy, dẫm đạp qua những vũng nước ngập đến nửa bắp chân, bỏ lại sau lưng ánh đèn pin quét loạn xạ và những tiếng gầm rú điên cuồng của đám tay sai dòng họ Trần.
Dinh thự nguy nga, chiếc ghế đại thiếu gia quyền quý, tương lai kiến trúc sư rực rỡ, tất cả đã bị chôn vùi vĩnh viễn sau bức tường gai góc kia.
Tôi đơn độc lao vào màn mưa đêm mịt mùng của Sài Gòn, nơi giông bão đang cuồng nộ gào xé bầu trời Chợ Lớn.