Bến Nước Cửa Đền - Chương 16: Mực gạch tên

Ngày thứ mười của tháng tám, mùa nước đỏ. Tôi đứng trên bờ nhìn xuống bến đá vào một buổi sáng mà nắng chưa kịp lên khỏi mặt sông. Ba ngày đã trôi qua kể…

Nội dung chương

Ngày thứ mười của tháng tám, mùa nước đỏ.

Tôi đứng trên bờ nhìn xuống bến đá vào một buổi sáng mà nắng chưa kịp lên khỏi mặt sông. Ba ngày đã trôi qua kể từ rạng sáng máy ủi tràn vào, vậy mà mùi dầu máy vẫn còn phảng phất đâu đó giữa mùi bùn non. Mặt bến bị san phẳng như một vết sẹo lớn. Những bậc đá cổ xô lệch, nghiêng ngả, có bậc vỡ đôi, có bậc chìm hẳn xuống bùn. Dân thôn đi ngang đều ngoảnh mặt đi, không ai muốn nhìn lâu vào chỗ đất đá ấy, như thể nhìn lâu sẽ thấy lại cảnh tôi bị hai gã đàn ông lôi xềnh xệch ra khỏi bậc đá mà tôi đang ôm chặt.

Chỉ có một thứ không ai san nổi.

Bậc đá thứ chín vẫn trồi lên giữa đống bùn đất, nguyên vẹn đến lạ. Mặt bậc khắc đóa hoa sen đã được nước sông rửa sạch sau ba ngày, cánh sen hiện rõ từng đường nét, như thể có bàn tay nào đó đêm đêm lau chùi. Tôi bước xuống, quỳ gối, đặt bàn tay lên mặt đá lạnh. Dưới lòng bàn tay, tôi cảm thấy một nhịp rung rất khẽ, không phải rung của đất, mà như nhịp thở của một sinh thể đang ngủ.

- Chị Lan.

Tiếng gọi làm tôi giật mình. Thằng Tý, học trò lớp bốn của tôi, đứng trên bờ với cái giỏ tre. Nó lén lút nhìn quanh rồi chạy xuống, dúi vào tay tôi một nắm hoa dại.

- Mẹ em bảo mang ra đặt lên bậc đá. Mẹ bảo đừng để ai thấy.

Tôi nhìn nắm hoa cúc dại vàng nhạt, cổ họng nghẹn lại.

- Sao mẹ em lại dặn thế?

- Mẹ bảo nhà mình chưa ký giấy của ông Sang, nhưng bố thì muốn ký. Mẹ bảo em lén mang hoa ra, coi như nhà mình vẫn còn lòng với bến.

Tôi đặt nắm hoa lên bậc đá thứ chín, ngay giữa đóa sen khắc. Gió sông thổi qua, cánh hoa rung rinh mà không bay.

Buổi chiều, tôi mang cuốn gia phả lên đền Bảo Hà gặp cụ Kính.

Đền nằm trên quả đồi thấp nhìn xuống khúc sông. Mười năm nay tôi lên đền không quá vài lần, phần vì bận dạy học, phần vì trong lòng vẫn còn một hòn đá nặng: chính khúc sông trước mặt đền này đã cướp đi chồng tôi ba năm trước. Nhưng từ ngày đào được hũ gốm, đôi chân tôi cứ tự tìm đường lên đây, như có sợi dây vô hình buộc vào cổ chân.

Cụ Kính đang quét sân đền. Thấy tôi, cụ dừng chổi, ánh mắt già nua ánh lên một niềm vui kín đáo.

- Cô mang nó lên đấy à?

Tôi gật đầu, đặt cuốn gia phả bọc vải điều lên chiếc bàn gỗ trong nhà tổ. Cuốn gia phả da đã mục một góc, giấy dó ngả màu nâu sẫm, chữ Nôm viết tay đã nhòe ở nhiều chỗ. Từ hôm đào được hũ gốm, tôi và cụ mới đọc được phần ghi chép về bảy đời người họ Phạm giữ bến, còn một đoạn ở giữa cuốn, chữ viết ngoằn ngoèo như rắn bò, cụ bảo phải đợi lúc tâm tĩnh mới giải được.

- Hôm nay tâm cô đã tĩnh chưa? - cụ hỏi.

Tôi cười buồn.

- Chưa tĩnh hẳn, nhưng không đợi được nữa, cụ ạ. Ông Sang đã cho người đi từng nhà ép ký giấy đồng thuận san lấp nốt phần bến còn lại. Cháu sợ chậm một ngày, bến mất một phần.

Cụ Kính gật đầu, thắp một nén hương lên ban thờ Quan Hoàng Bảy rồi mới ngồi xuống. Cụ đeo kính lão, lật từng trang giấy dó một cách nâng niu như lật da thịt người thân.

- Đoạn này đây.

Ngón tay run run của cụ dừng lại ở trang giấy có chữ viết khác hẳn những trang trước. Nét chữ ở đây gấp gáp, giận dữ, mực đen đặc quánh, có chỗ mực còn vón cục như người viết đã ấn bút mạnh đến rách giấy.

Cụ đọc chậm rãi, vừa đọc vừa dịch nghĩa:

- "Năm ấy, trong họ có kẻ tên là..."

Cụ nheo mắt nhìn vào chỗ giấy bị mủn.

- Tên bị nhòe mất rồi, chỉ còn đọc được họ. Kẻ ấy vì tham của cải trong mộ tổ, nửa đêm đào trộm, lấy đi đồ tùy táng. Tộc họ họp lại, định tội chết. Nhưng kẻ ấy trốn xuống bến, bơi qua sông. Đến giữa vực xoáy, nước bỗng cuộn lên như có bàn tay khổng lồ túm lấy. Người trên bờ chỉ kịp thấy hắn giơ tay kêu cứu một tiếng rồi chìm nghỉm. Từ đó, trong họ truyền lại: dòng dõi kẻ trộm mộ, đời đời mang trên người dấu vết hình lưỡi liềm, như lưỡi cuốc hắn dùng đào mộ tổ năm xưa.

Tôi rùng mình. Ngoài hiên, gió bỗng thổi mạnh làm cánh cửa gỗ đập vào khung kêu đánh rầm một tiếng.

- Dấu lưỡi liềm... - tôi lẩm bẩm - Cháu nhớ trong thôn có người mang vết bớt hình như thế.

Cụ Kính ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt sắc lại.

- Cô nhớ ai?

Tôi định nói ra cái tên đang trực chờ nơi đầu lưỡi, nhưng rồi nuốt xuống. Chưa chắc chắn. Vết bớt tôi thoáng thấy sau tai người ấy trong buổi họp dân hôm nào, lúc ánh đèn dầu chập chờn, có thể tôi nhìn nhầm. Nói ra lúc này chỉ gieo nghi ngờ vô cớ.

- Cháu chưa chắc, cụ ạ. Để cháu nhớ kỹ đã.

Cụ gật đầu, không gặng hỏi, lại cúi xuống trang giấy.

- Còn một điều lạ nữa, cô Lan xem này.

Cụ lật về những trang đầu, nơi ghi tên bảy đời người giữ bến họ Phạm. Sáu cái tên đầu viết bằng nét chữ ngay ngắn, trang trọng. Đến dòng thứ bảy, tên người giữ bến đời thứ bảy bị gạch xóa bằng mấy nét mực đậm, gạch đi gạch lại đến rách cả mặt giấy, như người gạch mang một nỗi giận dữ không nguôi.

- Cháu đã thấy từ hôm đầu mở gia phả - tôi nói - Cháu cứ thắc mắc mãi, ai lại gạch tên người giữ bến của chính dòng họ mình.

Cụ Kính đưa trang giấy lại gần ngọn đèn dầu, rồi lại đưa trang có đoạn kẻ trộm mộ ra đặt cạnh. Cụ im lặng một lúc lâu, rồi khẽ nói:

- Cô nhìn kỹ nét mực này.

Tôi cúi xuống. Dưới ánh đèn, hai vệt mực, một ở dòng tên bị gạch, một ở đoạn chữ về kẻ trộm mộ, hiện lên cùng một sắc đen đặc quánh, cùng một độ vón cục ở đầu nét bút. Ngay cả cái cách người viết ấn mạnh đầu bút đến rách giấy cũng giống hệt nhau.

- Cùng một bàn tay - cụ Kính thì thào - Cùng một người viết, cùng một lúc. Người viết đoạn tội trạng của kẻ trộm mộ, cũng chính là người gạch tên người giữ bến đời thứ bảy.

Trong gian nhà tổ bỗng lạnh đi. Nén hương trên ban thờ cháy dở, khói bay thẳng đứng rồi đột ngột tản ra như bị một bàn tay vô hình xua đi.

- Nghĩa là sao hả cụ? - giọng tôi run - Người giữ bến đời thứ bảy có liên quan gì đến kẻ trộm mộ?

Cụ Kính lắc đầu chậm rãi.

- Gia phả chỉ ghi đến đây. Trang cuối bị xé mất, cô nhớ không? Có lẽ lời giải nằm ở trang bị xé ấy. Nhưng có một điều cụ dám chắc: người gạch tên không phải kẻ thù ngoài họ. Chỉ người trong họ, người giữ cuốn gia phả này, mới có thể gạch tên bằng nét mực ấy, trong cơn giận ấy.

Tôi nhìn dòng tên bị gạch đến rách giấy. Bảy đời giữ bến, sáu tên còn, một tên mất. Đời thứ bảy là ai? Vì sao bị xóa tên khỏi dòng họ? Và người ấy có liên quan gì đến kẻ đào trộm mộ tổ mang dấu lưỡi liềm?

- Cô Lan này - cụ Kính bỗng nói, giọng trầm xuống - Cô có nhớ hôm đào hũ gốm, trong hũ ngoài kiếm đồng và gia phả còn có gì không?

Tôi sững người. Hôm ấy, trong lúc bàng hoàng, tôi chỉ chú ý đến thanh kiếm đồng khắc hai chữ Bảo Hà và cuốn gia phả. Nhưng giờ cụ nhắc, tôi mới nhớ: dưới đáy hũ, còn có một vật nhỏ bọc trong mảnh vải mục.

- Nửa miếng ngọc bội - tôi thì thào - Cháu nhớ rồi. Nửa miếng ngọc bội vỡ đôi, màu xanh đục. Cháu cất trong hộp gỗ ở nhà, định hôm nào rảnh mới xem kỹ.

- Giữ cẩn thận - cụ dặn, ánh mắt sâu thẳm - Ngọc bội vỡ đôi, một nửa ở trong hũ, nửa kia ở đâu? Người xưa không vỡ ngọc chơi. Ngọc vỡ là để nhận nhau.

Trên đường về, tôi đi ngang qua bến đá. Chiều đã xuống, mặt sông đỏ ngầu phù sa lấp lánh ánh tà dương. Tôi bất giác nhìn về phía điện chính của đền trên đồi. Bát hương ở đó đã lạnh từ lâu. Cụ Kính từng bảo tôi: hương ở điện chính tắt từ hai mươi hai ngày trước ngày tôi cứu thằng Khôi. Tính đến hôm nay, đã là ngày thứ ba mươi hai.

Ba mươi hai ngày không một nén hương.

Tôi nhớ lại lời cụ dặn hôm mở hũ gốm: mỗi lần hiển linh đều tốn hương hỏa. Bảy ngày phải có người thành tâm thắp hương. Hương tắt quá bốn mươi chín ngày, thần lực suy yếu.

Còn mười bảy ngày nữa.

Tôi siết chặt quai túi vải đựng bản chép tay đoạn gia phả, bước nhanh về phía thôn. Trong đầu tôi, nét mực gạch tên đời thứ bảy và nét mực đoạn kẻ trộm mộ chồng lên nhau, đen đặc như một câu hỏi chưa có lời đáp.

Và đâu đó sau gáy tôi, hình ảnh vết bớt hình lưỡi liềm thoáng thấy hôm nào lại hiện về, rõ dần, rõ dần như trăng lên khỏi mặt sông.

---

Chương khác

Xem thêm