Bến Nước Cửa Đền - Chương 17: Vết bớt sau tai

Đêm mùng mười tháng tám, tôi không ngủ được. Tôi nằm trên chiếc giường tre trong gian buồng nhỏ, nghe tiếng sông Hồng ì ầm vọng vào qua khe cửa. Mùa nước…

Nội dung chương

Đêm mùng mười tháng tám, tôi không ngủ được.

Tôi nằm trên chiếc giường tre trong gian buồng nhỏ, nghe tiếng sông Hồng ì ầm vọng vào qua khe cửa. Mùa nước đỏ, sông chảy xiết hơn mọi năm, tiếng nước như tiếng ai đó đang kể một câu chuyện dài không dứt. Mẹ tôi đã ngủ ở gian ngoài, tiếng thở đều đều. Từ ngày bố mất sớm, hai mẹ con tôi nương nhau mà sống trong căn nhà ba gian này, cũng đã hơn chục năm.

Tôi trở mình, hình ảnh vết bớt hình lưỡi liềm lại hiện về.

Đó là buổi họp dân hôm ông Sang về thôn giới thiệu dự án, cách đây bốn hôm. Hội trường thôn chật ních người. Ông Sang đứng trên bục, áo sơ mi trắng phẳng phiu, nói về tương lai bến du thuyền, về việc làm, về tiền đền bù. Dân thôn xì xào. Tôi ngồi ở hàng ghế cuối, mắt lơ đãng nhìn quanh thì bắt gặp Lê Văn Cò.

Hắn đứng dựa cột ở góc hội trường, tay khoanh trước ngực. Ánh đèn điện chập chờn vì điện yếu. Đúng lúc hắn nghiêng đầu nói gì đó với người bên cạnh, vành tai hắn hất ra sau, để lộ vùng da sau tai. Dưới ánh đèn vàng vọt, tôi thấy rõ một vệt sẫm màu cong cong như lưỡi liềm non.

Lúc ấy tôi không để tâm. Vết bớt thì ai chẳng có. Nhưng chiều nay, khi cụ Kính đọc đến đoạn "dòng dõi kẻ trộm mộ, đời đời mang trên người dấu vết hình lưỡi liềm", toàn thân tôi như có luồng điện chạy qua.

Tôi ngồi bật dậy, châm đèn dầu. Ánh sáng vàng hắt lên vách đất, in bóng tôi to lớn, xiêu vẹo.

Lê Văn Cò, bốn mươi tuổi, người thôn bên sang ở rể thôn Cửa Đền đã hơn chục năm. Vợ hắn mất sớm vì bạo bệnh, hắn sống một mình trong căn lán cuối thôn, làm thuê đủ việc. Từ ngày ông Sang về, hắn bỗng trở thành cái bóng của ông Sang, đi đâu cũng thấy hắn lảng vảng. Hôm máy ủi vào bến, chính hắn là một trong hai gã đã lôi tôi ra khỏi bậc đá.

Tôi nhớ lại những lần chạm mặt hắn gần đây. Hắn hay nheo mắt nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét. Có lần tôi bắt gặp hắn đứng từ xa nhìn về phía nhà tôi, thấy tôi nhìn lại thì vội quay đi.

Một kẻ làm thuê cho ông Sang. Một vết bớt hình lưỡi liềm sau tai. Đoạn gia phả về kẻ đào trộm mộ tổ.

Ba mảnh ghép ấy cứ xoay vòng trong đầu tôi, khớp dần vào nhau thành một hình ảnh khiến tôi rùng mình.

Nhưng tôi không thể vội vàng. Cụ Kính dặn: chưa chắc chắn thì đừng gieo nghi ngờ. Hơn nữa, dù hắn có đúng là dòng dõi kẻ trộm mộ đi nữa, thì tội của tổ tiên không phải tội của con cháu. Điều đáng sợ không phải dòng máu, mà là việc hắn đang làm: tay sai cho kẻ muốn xóa sổ bến thiêng.

Tôi thổi tắt đèn, nằm xuống nhưng mắt vẫn mở thao láo nhìn trần nhà.

Tôi phải theo dõi hắn. Âm thầm, cẩn thận, không để hắn hay ông Sang biết. Tôi cần biết hắn lảng vảng quanh nhà tôi để làm gì, hắn và ông Sang bàn bạc những gì, và quan trọng nhất: hắn có biết gì về trang gia phả cuối bị xé không.

Quyết định ấy vừa hình thành, tôi bỗng nghe thấy tiếng động lạ ngoài vườn.

Tôi nín thở. Tiếng sột soạt rất khẽ, như ai đó đang bước trên lá khô. Rồi im bặt. Tôi nhẹ nhàng ngồi dậy, hé cửa sổ nhìn ra. Vườn nhà tôi tối om, chỉ có ánh trăng non hắt qua kẽ lá chuối. Tôi căng mắt nhìn một lúc lâu, không thấy gì. Có lẽ chỉ là con mèo hoang, hoặc gió.

Nhưng khi tôi khép cửa sổ lại, tay tôi chạm phải một vật lạ trên bậu cửa: một mẩu giấy nhỏ bị gió ép vào khe. Tôi nhặt lên, đưa ra ánh trăng xem. Đó là một góc của tờ giấy in, trên đó còn đọc được mấy chữ: "...đồng thuận... san lấp...".

Tờ giấy đồng thuận của ông Sang. Ai đó đã mang nó đến nhà tôi trong đêm, rồi lại bỏ đi, hoặc đánh rơi.

Tôi đứng lặng giữa buồng, mẩu giấy run run trong tay. Đêm nay, lần đầu tiên tôi cảm thấy căn nhà của mình không còn an toàn nữa.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm hơn mọi ngày. Việc đầu tiên tôi làm là đi một vòng quanh vườn. Và tim tôi như ngừng đập khi thấy, trên lớp đất ẩm sau cơn mưa đêm, in rõ mấy dấu chân người lớn đi vòng quanh nhà, dừng lại lâu nhất ở phía cửa sổ buồng tôi.

Dấu chân còn mới, đế giày có rãnh sâu. Không phải dấu chân của mẹ tôi, mẹ tôi đi dép lê. Cũng không phải của tôi.

Tôi cúi xuống xem kỹ. Dấu chân đi từ cổng sau vào, vòng qua hông nhà, đến cửa sổ buồng tôi thì dừng lại rất lâu, đất ở đó bị dẫm nát. Rồi dấu chân quay ra, đi thẳng về phía con đường mòn dẫn xuống bến sông.

Tôi đứng thẳng dậy, mồ hôi lạnh rịn ra sau gáy. Đêm qua, có kẻ đã đứng ngoài cửa sổ buồng tôi, nhìn vào trong bóng tối, rất lâu.

Mẹ tôi từ trong nhà bước ra, thấy sắc mặt tôi thì lo lắng hỏi:

- Có chuyện gì thế con?

Tôi do dự một giây rồi quyết định nói thật một phần:

- Đêm qua có người lạ vào vườn mình, mẹ ạ. Mẹ cẩn thận, tối đi ngủ nhớ cài then cửa trong.

Mẹ tôi tái mặt, vội chạy vào nhà kiểm tra then cửa. Tôi nhìn theo bóng mẹ, lòng dâng lên một nỗi lo mới: nếu kẻ ấy nhắm vào tôi vì cuốn gia phả và thanh kiếm đồng đang cất trong nhà, thì mẹ tôi cũng không an toàn.

Tôi quay vào buồng, mở chiếc hòm gỗ dưới gầm giường. Thanh kiếm đồng nằm im trong lớp vải điều, lưỡi kiếm khắc hai chữ Bảo Hà vẫn sáng một cách lạ lùng dù đã chôn dưới đất bao năm. Cuốn gia phả bọc vải nằm cạnh đó. Và trong chiếc hộp gỗ nhỏ, nửa miếng ngọc bội màu xanh đục nằm lặng lẽ.

Tôi đặt tay lên nắp hòm, thầm nghĩ: từ hôm nay, những thứ này không chỉ là cổ vật. Chúng là mồi nhử, và cũng là mục tiêu.

Buổi trưa, tôi lấy cớ đi chợ, thực chất là đi một vòng qua lán của Lê Văn Cò ở cuối thôn. Lán hắn nằm tách biệt, sau rặng tre. Tôi không vào gần, chỉ đứng từ xa quan sát. Lán vắng tanh, cửa khép hờ. Trên dây phơi trước lán có chiếc áo hắn mặc hôm họp dân. Tôi đang định quay đi thì hắn từ trong rặng tre bước ra, trên vai vác bó củi.

Hắn sững lại khi thấy tôi. Ánh mắt hắn nheo lại, rồi nở một nụ cười mà tôi thấy lạnh cả người.

- Cô giáo đi đâu mà lạc đến tận đây?

- Tôi đi hái rau dại - tôi nói dối, giọng cố giữ bình tĩnh - Thấy rặng tre này tốt, định vào hái ít rau sam.

- Rau sam thì đầu thôn cũng có, cần gì đi xa thế - hắn nói, vẫn cười, nhưng mắt không cười - Cô giáo cẩn thận, rặng tre này nhiều rắn lắm.

Hắn bước lại gần. Khi chỉ còn cách tôi vài bước, hắn nghiêng đầu, vành tai hất ra. Dưới nắng trưa, tôi nhìn thấy rõ mồn một: sau tai phải của hắn, một vết bớt sẫm màu cong cong, đúng hình lưỡi liềm non, y như tôi đã thấy hôm họp dân.

Tim tôi đập thình thịch, nhưng tôi mỉm cười tự nhiên:

- Cảm ơn anh nhắc. Tôi về đây.

Tôi quay lưng bước đi, cảm nhận rõ ánh mắt hắn dính chặt sau gáy mình cho đến khi tôi khuất sau rặng tre. Tay tôi run đến nỗi phải nắm chặt quai giỏ.

Không còn nghi ngờ gì nữa. Vết bớt hình lưỡi liềm sau tai Lê Văn Cò là thật. Và theo cuốn gia phả, đó là dấu tích của dòng dõi kẻ đào trộm mộ tổ năm xưa, kẻ đã bị vực xoáy đòi mạng.

Nhưng hắn có biết điều đó không? Hay hắn chỉ là một kẻ làm thuê mù mờ, không hay biết dòng máu đang chảy trong người mình gắn với một tội lỗi cũ? Và ông Sang có biết không? Hay chính ông Sang đã tìm ra hắn vì dấu vết ấy?

Hàng loạt câu hỏi bủa vây tôi trên đường về. Chiều xuống dần, bóng tre đổ dài trên con đường đất. Khi về đến nhà, mẹ tôi đang ngồi vá áo ở hiên, thấy tôi thì thở phào:

- Con đi đâu mà lâu thế? Mẹ lo quá.

Tôi ngồi xuống cạnh mẹ, nhìn đôi tay gầy guộc thoăn thoắt đưa kim của bà, bỗng thấy lòng chùng xuống. Mẹ đã sáu mươi tuổi, cả đời lam lũ. Vì tôi mà giờ đây bà cũng bị cuốn vào vòng nguy hiểm này.

- Mẹ này - tôi khẽ nói - Mảnh gia phả cháy dở mẹ đưa con hôm trước, mẹ còn nhớ mặt sau nó có chữ không?

Mẹ tôi ngừng tay kim, nhìn tôi:

- Nhớ chứ. Hồi bà cố trao cho mẹ, bà dặn mặt sau có chữ của người xưa, nhưng bị muội than phủ kín, không đọc được. Mẹ giữ bao năm, cũng chưa một lần lau sạch, sợ làm hỏng.

- Sao mẹ không lau?

- Bà cố dặn: chưa đến lúc thì đừng động vào. Cứ để muội than giữ chữ.

Tôi gật đầu, không hỏi thêm. "Chưa đến lúc". Vậy lúc nào mới là lúc? Khi cuốn gia phả gốc còn đây, mảnh cháy chỉ là vật dự phòng. Nhưng nếu một ngày cuốn gốc mất đi...

Tôi rùng mình, không dám nghĩ tiếp.

Đêm ấy, tôi cài then cửa trong thật chặt, đặt con dao nhọn dưới gối, điều mà cả đời tôi chưa từng làm. Trước khi tắt đèn, tôi nhìn ra cửa sổ. Vườn tối đen, rặng chuối đứng im như những bóng người khổng lồ.

Tôi thầm nhủ: từ ngày mai, tôi sẽ là cái bóng của Lê Văn Cò. Hắn rình tôi, tôi rình lại hắn. Xem ai kiên nhẫn hơn ai.

Ngoài kia, tiếng sông vẫn ì ầm. Và trong tiếng sông ấy, tôi nghe như có tiếng ai thì thầm: cẩn thận, cẩn thận...

---

Chương khác

Xem thêm