Bến Nước Cửa Đền - Chương 19: Địa chỉ trong gia phả

Con đường về xuôi dài hai chục cây số, xe ôm chạy hơn một giờ đồng hồ. Suốt đường đi, tôi ôm khư khư chiếc túi vải đựng nửa miếng ngọc bội, lòng bồn chồn…

Nội dung chương

Con đường về xuôi dài hai chục cây số, xe ôm chạy hơn một giờ đồng hồ. Suốt đường đi, tôi ôm khư khư chiếc túi vải đựng nửa miếng ngọc bội, lòng bồn chồn như lửa đốt. Trong đầu tôi, ngón tay trong giấc mơ vẫn chỉ thẳng về phía hạ lưu, không lay chuyển.

Xe chạy được nửa đường thì tôi bảo anh xe ôm dừng lại ở một quán nước ven đường. Không phải tôi khát, mà tôi cần hỏi thăm. Quán nước của một bà cụ già, mắt đã mờ nhưng tai còn thính.

- Bà ơi, bà có biết thôn Hạ Lưu ở đâu không ạ?

- Thôn Hạ Lưu hả? - bà cụ nheo mắt - Đi thẳng đường này, qua cầu tre là tới. Cô tìm ai ở đó?

- Cháu tìm nhà họ Nguyễn, nhà có giữ đồ thờ tổ tiên ạ.

Bà cụ cười móm mém:

- Thôn Hạ Lưu nhà nào chẳng họ Nguyễn. Nhưng nhà có đồ thờ tổ thì chỉ có nhà ông Nguyễn Văn Hòa, già nhất thôn. Nhà ông ấy có cái tủ thờ cổ lắm, nghe đâu giữ từ đời cụ kỵ.

Tim tôi đập mạnh. Nguyễn Văn Hòa. Họ Nguyễn. Đồ thờ tổ.

Tôi trả tiền nước, vội vã lên xe đi tiếp. Qua cầu tre, thôn Hạ Lưu hiện ra với những mái nhà ngói nâu trầm mặc bên dòng sông. Tôi hỏi thăm mấy người dân, ai cũng chỉ về phía căn nhà gỗ cuối thôn, nơi có cây đa cổ thụ.

Đứng trước cổng nhà ông Nguyễn Văn Hòa, tôi bỗng thấy tay mình run. Tôi nuốt khan, đưa tay gõ cửa.

Một lúc sau, cánh cổng gỗ kẽo kẹt mở ra. Một ông cụ tóc bạc trắng, lưng còng, đôi mắt sâu hoắm nhìn tôi dò xét.

- Cô tìm ai?

- Dạ cháu chào cụ - tôi cúi đầu lễ phép - Cháu là Phạm Thị Lan, ở thôn Cửa Đền, ngược dòng lên đây. Cháu đến vì... một địa chỉ ghi trong gia phả họ Phạm nhà cháu.

Nghe đến hai chữ "gia phả", đôi mắt ông cụ bỗng sáng lên một cách lạ lùng. Ông im lặng nhìn tôi một lúc lâu, rồi lách người sang bên:

- Vào đi.

Tôi bước qua cổng, lòng đầy những câu hỏi. Sân nhà rải sỏi trắng, giữa sân có một cái tủ thờ gỗ mít đặt trang trọng dưới mái hiên, phủ vải điều. Mùi hương trầm thoang thoảng.

Ông cụ mời tôi ngồi, rót chén nước chè xanh, rồi hỏi thẳng:

- Gia phả họ Phạm... còn giữ được đến bây giờ sao?

Câu hỏi ấy khiến tôi sững người. "Còn giữ được đến bây giờ" - như thể ông cụ đã biết về cuốn gia phả, đã chờ đợi nó từ lâu.

- Dạ còn, thưa cụ. Cháu mới đào được dưới bậc đá thứ chín ở bến Cửa Đền cách đây ít ngày.

Ông cụ gật gù, ánh mắt xa xăm:

- Bậc đá thứ chín... Bến Cửa Đền... Cô có biết vì sao trong gia phả nhà cô lại có địa chỉ nhà tôi không?

Tôi lắc đầu, tim đập thình thịch.

- Vì tổ tiên nhà tôi và tổ tiên nhà cô, ngày xưa là anh em kết nghĩa - ông cụ nói chậm rãi - Rồi có biến cố, hai nhà thất lạc nhau. Tổ tiên tôi dặn lại: khi nào người họ Phạm mang gia phả đến tìm, thì ngày đoàn tụ đã đến.

Ông cụ đứng dậy, đi đến cái tủ thờ, mở ra. Bên trong, ngoài bát hương và bài vị, còn có một cuốn sổ vải đã cũ sờn.

- Đây là gia phả nhánh họ Nguyễn nhà tôi - ông nói, giọng run run - Cô xem đi. Xem tổ tiên nhà tôi là ai.

Tôi đón cuốn sổ bằng hai tay run rẩy. Mở ra, những dòng chữ Nôm hiện lên, càng đọc tay tôi càng run.

Trang đầu ghi rõ: thủy tổ họ Nguyễn nhánh này, tên húy đã mờ, chỉ còn dòng chú thích: "nguyên là người hầu cận Quan Hoàng Bảy, được thánh ban họ Nguyễn, đời đời hương khói".

Người hầu cận Quan Hoàng Bảy. Được thánh ban họ.

Tôi ngẩng lên nhìn ông cụ, không nói nên lời.

- Tổ tiên nhà tôi không phải dòng máu của thánh - ông cụ nói, như đọc được ý nghĩ của tôi - Nhưng được thánh nhận làm con nuôi, ban cho họ Nguyễn. Tính đến đời thằng Khôi nhà tôi, đúng là đời thứ bảy.

Đời thứ bảy.

Hậu duệ đời thứ bảy của Quan Hoàng Bảy.

Tôi ngồi lặng, cuốn gia phả nhánh họ Nguyễn run run trong tay. Ngoài hiên, gió sông thổi vào, mùi hương trầm quyện với mùi nước đỏ.

Nhưng có một chi tiết khiến ông cụ bỗng trở nên căng thẳng: khi tôi nhắc đến vết bớt sau gáy thằng Khôi.

Khi tôi kể rằng thằng Khôi có vết bớt sau gáy và tôi nghi ngờ đó là dấu tích dòng dõi, ông cụ bỗng trở nên căng thẳng. Ông đứng dậy, đi đi lại lại trong nhà, rồi dừng lại trước tủ thờ, thắp một nén hương.

- Vết bớt ấy... - ông nói chậm rãi - Trong gia phả nhánh tôi có ghi. Con cháu dòng này, đời nào cũng có người mang vết bớt sau gáy, hình như cánh sen non. Đó là dấu thánh ban, để nhận ra nhau.

Vết bớt hình cánh sen. Không phải lưỡi liềm.

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Vậy là vết bớt của thằng Khôi khác hẳn vết bớt lưỡi liềm của dòng dõi kẻ trộm mộ. Một bên là dấu thánh ban, một bên là dấu tội lỗi. Hai dòng họ, hai số phận, cùng gắn với khúc sông này.

- Thưa cụ - tôi hỏi - Trong gia phả có ghi vì sao nhánh họ Nguyễn lại thất lạc khỏi thôn Cửa Đền không?

Ông cụ ngồi xuống, ánh mắt xa xăm:

- Có. Đời cụ kỵ tôi, trong họ xảy ra chuyện lớn. Có kẻ đào trộm mộ tổ họ Phạm, bị vực xoáy đòi mạng. Kẻ ấy... có quan hệ họ hàng xa với nhánh tôi. Sợ bị liên lụy, sợ dân thôn kỳ thị, cụ kỵ tôi đã dẫn cả nhánh xuôi về đây, đổi tên đổi họ trong giấy tờ, chỉ giữ lại họ Nguyễn trong gia phả bí mật. Từ đó, hai nhà mất liên lạc.

Tôi sững người. Kẻ đào trộm mộ tổ có quan hệ họ hàng với nhánh họ Nguyễn? Vậy là ba dòng họ: họ Phạm giữ bến, họ Nguyễn hầu cận thánh, và dòng dõi kẻ trộm mộ, tất cả đều đan xen vào nhau trong một bi kịch cũ.

- Kẻ trộm mộ ấy tên gì, thưa cụ? Trong gia phả họ Phạm, tên hắn bị nhòe mất.

Ông cụ lắc đầu:

- Gia phả nhánh tôi cũng không ghi tên. Chỉ ghi: kẻ ấy mang vết bớt lưỡi liềm sau tai, truyền cho con cháu đời sau. Ai mang dấu ấy thì biết mà tránh xa bến thiêng, vì vực xoáy vẫn còn nhớ món nợ cũ.

Vực xoáy vẫn còn nhớ món nợ cũ.

Câu nói ấy khiến tôi rùng mình. Tôi nhớ đến chồng tôi, ba năm trước chết đuối ở vực xoáy khi cứu người. Anh ấy không mang vết bớt nào, không nợ nần gì dòng sông. Sao vực xoáy lại cướp anh đi? Hay đó chỉ là tai nạn, như bao tai nạn sông nước khác?

Tôi không dám hỏi ông cụ điều này. Nỗi đau ấy, tôi phải tự mình hóa giải.

Trước khi ra về, ông cụ Nguyễn Văn Hòa nắm tay tôi, giọng nghẹn ngào:

- Cô Lan này, tôi chờ ngày này đã mấy chục năm. Từ hồi còn trẻ, bố tôi đã dặn: nhánh mình là cành thất lạc, phải chờ người họ Phạm mang gia phả đến tìm. Hôm nay cô đến, tôi biết ngày đoàn tụ không còn xa.

- Thưa cụ, cháu còn một việc muốn nhờ - tôi nói - Cháu muốn gặp thằng Khôi. Cháu cần xác nhận một điều cuối cùng.

Ông cụ gật đầu:

- Thằng Khôi đang ở nhà bố mẹ nó trên thôn Cửa Đền. Từ hôm suýt chết đuối, bố mẹ nó không cho nó đi đâu một mình. Cô cứ lên đó, nói là ông nội nó cho phép.

Ông nội. Thì ra ông cụ là ông nội của thằng Khôi.

Trên đường về, tôi ghé qua nhà bố mẹ thằng Khôi ở cuối thôn Cửa Đền. Căn nhà cấp bốn khang trang, cổng sắt sơn xanh. Mẹ thằng Khôi, chị Trần Thị Yến, ra mở cổng, thấy tôi thì mừng rỡ:

- Cô Lan! May quá cô đến. Thằng Khôi nó nhắc cô suốt.

Thằng Khôi từ trong nhà chạy ra, ôm chầm lấy tôi. Thằng bé đã khỏe hẳn, má hồng hào, mắt sáng. Nó cười tít mắt, và tôi bỗng thấy tim mình ấm lại.

- Cô Lan ơi, đêm qua cháu lại mơ thấy chú cưỡi ngựa trắng - nó thì thầm vào tai tôi - Chú bảo cháu đừng sợ, sắp có chuyện vui.

Tôi sững người, ôm chặt thằng bé hơn. Giấc mơ của nó, giấc mơ của tôi, cùng một đêm. Ông đang báo cho cả hai chúng tôi.

- Khôi này - tôi khẽ hỏi - Cháu có biết sau gáy mình có vết bớt không?

Thằng bé gật đầu, vén tóc lên cho tôi xem. Dưới ánh đèn, tôi thấy rõ vết bớt sẫm màu sau gáy nó, hình dáng cong cong như cánh sen non đang khép, đúng như ông nội nó miêu tả.

Dấu thánh ban.

Tôi ôm thằng bé vào lòng, nước mắt ứa ra. Đứa bé tám tuổi này, suýt chết đuối ở vực xoáy, là hậu duệ đời thứ bảy của Quan Hoàng Bảy. Còn tôi, cô giáo góa chồng ba mươi hai tuổi, là người giữ bến đời thứ tám. Hai chúng tôi, hai đời, hai số phận, gặp nhau ở khúc sông này không phải ngẫu nhiên.

Chị Yến nhìn tôi, ánh mắt lo lắng:

- Cô Lan, có chuyện gì thế? Sao cô khóc?

Tôi lau nước mắt, mỉm cười:

- Không có gì đâu chị. Em mừng vì cháu khỏe.

Tôi không thể nói ra sự thật lúc này. Chưa phải lúc. Bố mẹ thằng Khôi là người xuôi lên đây làm ăn, họ không biết gì về cội nguồn dòng họ. Nói ra chỉ khiến họ hoang mang. Tôi cần thời gian, cần cách nói phù hợp.

Nhưng trước khi ra về, tôi dặn chị Yến một điều:

- Chị này, dạo này thôn mình không yên ổn. Chị đừng cho cháu ra bến một mình nhé. Có gì cần, chị cứ gọi cho em.

Chị Yến gật đầu, không hỏi thêm. Tôi nhìn thằng Khôi lần cuối, thằng bé vẫy tay chào tôi, miệng cười tươi.

Về đến nhà lúc chạng vạng, tôi thấy mẹ đứng ngóng ở cổng. Và trên bậc thềm, tờ giấy đồng thuận bị xé làm đôi của hộ ông Nguyễn Văn Tám.

Tôi nhặt hai mảnh giấy lên, lòng nặng trĩu. Ông Sang đã bắt đầu ép ký. Những hộ nghèo như nhà ông Tám sẽ là mục tiêu đầu tiên. Hôm nay một hộ ký, mai hai hộ, ngày kia nửa thôn.

Tôi phải nhanh hơn ông ta. Nhưng nhanh bằng cách nào, khi trong tay tôi chỉ có một cuốn gia phả cũ, một thanh kiếm đồng, và nửa miếng ngọc bội?

Đêm ấy, tôi lấy nửa miếng ngọc bội ra ngắm dưới ánh đèn. Miếng ngọc màu xanh đục, vỡ theo đường chéo, mặt khắc hình cánh sen mờ ảo. Tôi nhớ lại mảnh giấy trong gia phả nhánh họ Nguyễn: "ngọc vỡ đôi, một nửa giữ bến, một nửa giữ người. Ngày hai nửa gặp nhau, ngày nhận lại cội nguồn."

Tôi áp miếng ngọc vào ngực, thầm nghĩ: nửa giữ bến đang ở trong tay tôi, nửa giữ người đang ở nhà ông cụ Hòa. Nhưng trước hết, tôi phải giữ được bến và giữ được hương.

Ngoài kia, tiếng sông ì ầm. Tôi nhìn ra cửa sổ, về phía dòng sông đỏ ngầu trong bóng đêm. Và tôi thì thầm, như nói với chính dòng sông:

- Chờ tôi nhé. Tôi đang cố.

---

Chương khác

Xem thêm