Bến Nước Cửa Đền - Chương 21: Giấy đồng thuận

Ngày mười ba tháng tám, ông Vũ Đình Sang chính thức phát động chiến dịch ép dân ký giấy đồng thuận san lấp bến Cửa Đền. Tôi đứng lẫn trong đám đông trước…

Nội dung chương

Ngày mười ba tháng tám, ông Vũ Đình Sang chính thức phát động chiến dịch ép dân ký giấy đồng thuận san lấp bến Cửa Đền.

Tôi đứng lẫn trong đám đông trước sân nhà văn hóa thôn, nhìn ông ta trên bục cao với xấp giấy trắng trên tay, lòng như lửa đốt. Chiều hôm qua tôi đã thấy ông ta phát giấy, nhưng hôm nay mới là buổi chính thức, có cả ông Nguyễn Văn Tài, phó chủ tịch xã, đến dự để "chứng kiến".

- Bà con nghe rõ đây! - giọng ông Sang oang oang qua loa - Dự án bến du thuyền Sông Hồng Xanh đã được xã ủng hộ. Hôm nay, công ty tổ chức cho bà con ký giấy đồng thuận. Nhà nào ký, được hỗ trợ ngay năm triệu đồng tiền mặt! Ngoài ra, khi bến du thuyền đi vào hoạt động, mỗi hộ ký đồng thuận được ưu tiên một suất việc làm!

Đám đông ồ lên. Năm triệu đồng tiền mặt, cộng một suất việc làm. Với thôn Cửa Đền nghèo khó, đó là miếng mồi quá béo bở.

Ông Tài bước lên bục, chỉnh micro, nói bằng giọng quan cách:

- Tôi thay mặt xã xác nhận, dự án này là chủ trương phát triển kinh tế của địa phương. Bà con nên ủng hộ. Ai không ký, sau này có thiệt thòi gì thì đừng trách xã không quan tâm.

Lời đe dọa ẩn sau giọng điệu quan cách ấy khiến đám đông xì xào to hơn. Tôi nắm chặt tay, móng tay bấm vào lòng bàn tay đau điếng.

Lê Văn Cò và mấy gã đàn ông lạ mặt bắt đầu phát giấy cho từng người. Tờ giấy in sẵn với tiêu đề "GIẤY ĐỒNG THUẬN" và dòng chữ "Tôi đồng ý san lấp bến đá cũ làm bến du thuyền". Ký tên, điểm chỉ là xong.

Tôi thấy ông Nguyễn Văn Tám, hộ nghèo nhất thôn, run run cầm tờ giấy. Vợ ông mất sớm, một mình ông nuôi ba đứa con nhỏ. Năm triệu đồng với ông là cả gia tài.

- Ông Tám! - tôi vội chen đến - Ông đừng ký vội. Nghe tôi nói đã.

Ông Tám nhìn tôi, ánh mắt đầy giằng xé:

- Cô Lan ơi, tôi biết bến thiêng. Nhưng ba đứa nhỏ nhà tôi... năm triệu này đủ cho chúng nó ăn học cả năm. Tôi...

- Ông ơi, bến này là bến thiêng bảy đời họ Phạm nhà tôi giữ gìn - tôi nói gấp - San lấp rồi thì không lấy lại được đâu. Tiền thì kiếm đâu cũng được, nhưng bến mất là mất vĩnh viễn.

Ông Tám cúi đầu, tay run run. Đúng lúc ấy, Lê Văn Cò bước đến, vỗ vai ông Tám:

- Ông Tám ký đi. Ký sớm còn được nhận tiền sớm. Cô giáo nói hay lắm, nhưng cô giáo có nuôi được ba đứa nhỏ nhà ông không?

Hắn nhìn tôi, ánh mắt đầy thách thức. Tôi trừng mắt nhìn lại, nhưng không thể nói gì thêm. Hắn nói đúng vào nỗi đau của người nghèo, tôi không thể cãi lại bằng lý lẽ tâm linh.

Ông Tám run rẩy ký tên vào tờ giấy. Lê Văn Cò giật lấy, cười hềnh hệch:

- Xong! Ông ra kia nhận tiền!

Tôi đứng nhìn theo bóng ông Tám lầm lũi đi về phía bàn phát tiền, lòng đau như cắt. Không phải tôi trách ông. Tôi trách mình bất lực. Tôi trách cái nghèo đã bóp nghẹt lòng tự trọng của con người, khiến họ phải bán đi thứ thiêng liêng nhất để đổi lấy miếng cơm.

Rồi đến bà Hai Lựu, góa phụ nuôi mẹ già nằm liệt giường. Bà run run cầm bút, nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo. Tôi chạy đến nắm tay bà:

- Bà Hai, bà đừng ký. Mẹ bà nằm đó, bà nỡ để bến thiêng của tổ tiên bị san lấp sao?

Bà Hai nhìn tôi, mắt đỏ hoe:

- Cô Lan ơi, mẹ tôi cần thuốc mỗi ngày. Năm triệu này mua thuốc được mấy tháng. Tôi biết bến thiêng, nhưng mẹ tôi đang sống sờ sờ đây, tôi phải lo cho mẹ trước.

Tôi buông tay bà ra, không nói được lời nào. Bà nói đúng. Người sống cần được lo trước người đã khuất. Tôi lấy tư cách gì mà bắt bà chọn bến thiêng thay vì mẹ già?

Rồi đến vợ chồng anh Ba Điền, nhà có đứa con bị bệnh tim cần tiền chữa trị. Từng người, từng người một, những hộ nghèo nhất thôn lần lượt ký tên, nhận tiền. Mỗi chữ ký như một nhát dao đâm vào tim tôi.

Tôi cố gắng ngăn cản, chạy từ người này sang người khác, nói đến khản cả giọng:

- Bà con ơi, đừng ký! Bến này thiêng lắm! Bảy đời nhà tôi giữ bến, không phải ngẫu nhiên đâu!

Nhưng lời tôi như gió thoảng. Giữa tiếng loa phóng thanh, giữa mùi tiền mặt, giữa những lời hứa việc làm, tiếng nói của một cô giáo góa chồng nhỏ bé chẳng thấm vào đâu.

Có người còn gắt lên với tôi:

- Cô Lan ơi, cô có bến thiêng thì cô giữ. Chúng tôi có cái bụng đói thì chúng tôi lo. Cô đừng cản đường sống của người ta!

Tôi sững người, không nói nên lời. Người nói là chị Tư Mận, hàng xóm của tôi, người vẫn hay cho tôi rau trong vườn. Giờ đây chị nhìn tôi bằng ánh mắt xa lạ, như thể tôi là kẻ thù.

Ông Sang trên bục nhìn thấy cảnh ấy, cười khẩy, nói vào loa:

- Bà con thấy chưa? Đến hàng xóm của cô giáo còn không nghe cô. Tôi nói thật, thời buổi này, tin vào thần sông thì chỉ có chết đói!

Đám đông cười ồ lên. Mặt tôi nóng bừng, nước mắt ứa ra nhưng tôi cố nuốt xuống. Tôi không thể khóc ở đây, trước mặt ông ta, trước mặt cả thôn.

Tôi quay lưng bỏ đi, bước nhanh về phía bến sông. Đằng sau, tiếng loa vẫn oang oang, tiếng cười nói vẫn rộn ràng. Một ngày hội của kẻ thắng trận.

Nhưng đi được một đoạn, tôi bỗng dừng lại. Không, tôi không thể bỏ đi như thế. Bỏ đi là đầu hàng. Tôi quay ngoắt lại, chen qua đám đông, bước thẳng lên bục cao nơi ông Sang đang đứng.

Cả sân nhà văn hóa ồ lên. Ông Tài nhíu mày. Lê Văn Cò bước lên định chặn tôi, nhưng ông Sang giơ tay ngăn lại, cười khẩy:

- Cô giáo có điều gì muốn nói với bà con?

Tôi giật lấy micro từ tay ông ta. Tay tôi run, nhưng giọng tôi vang lên rõ ràng:

- Bà con ơi! Tôi là Phạm Thị Lan, cô giáo của con em bà con. Tôi không có năm triệu đồng cho mỗi nhà. Tôi chỉ có một câu chuyện muốn kể. Bến đá kia, bảy đời họ Phạm nhà tôi đã giữ gìn. Dưới bậc đá thứ chín có chôn hũ gốm của tổ tiên. Bến ấy đã cứu sống bao người, trong đó có tôi năm tôi tám tuổi, và có thằng Khôi nhà cuối thôn hôm đầu tháng. Bà con nỡ nào san lấp nơi đã cứu mạng con em mình?

Đám đông im lặng. Một vài người cúi đầu. Nhưng ông Sang giật lại micro, cười lớn:

- Cô giáo kể chuyện cổ tích hay lắm! Nhưng chuyện cổ tích không nuôi sống được ai! Bà con cứ ký đi, tiền tươi thóc thật đây!

Đám đông lại xì xào, rồi tiếng cười rộ lên. Tôi đứng trơ trọi trên bục, mặt nóng bừng. Ông Sang vỗ vai tôi, nói nhỏ chỉ đủ hai người nghe:

- Cô em đừng chống lại thời thế. Ký vào giấy đi, anh cho cô mười triệu, gấp đôi người ta.

Tôi hất tay ông ta ra, bước xuống bục trong tiếng cười nhạo của đám đông. Lưng tôi thẳng, nhưng lòng tôi như vỡ ra từng mảnh.

Tôi ngồi xuống bậc đá thứ chín, bậc đá duy nhất còn nguyên vẹn sau vụ máy ủi. Tôi đặt tay lên đóa sen khắc, thì thầm:

- Bến ơi, tôi xin lỗi. Tôi không giữ được lòng dân. Tôi chỉ là một cô giáo nhỏ bé, tôi biết làm sao bây giờ?

Gió sông thổi qua, lạnh buốt. Tôi ngẩng lên nhìn dòng sông đỏ ngầu. Nước vẫn chảy xiết, vẫn cuộn xoáy ở vực sâu trước mặt. Dòng sông không trả lời tôi. Nó chỉ chảy, như đã chảy hàng trăm năm nay, chứng kiến bao đổi thay của con người.

Tôi ngồi đó cho đến khi trời tối. Khi tôi đứng dậy về nhà, chân đã tê cứng. Từ xa, tôi vẫn nghe tiếng loa phóng thanh văng vẳng: "Ai ký đồng thuận được hỗ trợ năm triệu đồng..."

Về đến nhà, mẹ tôi đang đợi cơm. Thấy vẻ mặt tôi, bà không hỏi gì, chỉ lặng lẽ xới cơm.

Ăn được vài miếng, tôi bỗng hỏi:

- Mẹ này, nếu nhà mình nghèo như nhà ông Tám, mẹ có ký không?

Mẹ tôi ngừng đũa, nhìn tôi một lúc lâu:

- Mẹ không biết, con ạ. Mẹ chỉ biết, nhà mình mang họ Phạm, mang nợ với bến này bảy đời. Có đói cũng không bán tổ tiên.

Tôi gật đầu, nước mắt lại ứa ra. Mẹ tôi, người đàn bà sáu mươi tuổi cả đời lam lũ, vẫn giữ được khí tiết mà nhiều người đã đánh mất vì năm triệu đồng.

Đêm ấy, tôi không ngủ được. Tôi lấy cuốn gia phả ra đọc lại đoạn về kẻ đào trộm mộ tổ. Kẻ ấy vì tham của cải mà đào mộ tổ tiên, rồi bị vực xoáy đòi mạng. Còn những người hôm nay ký giấy, họ vì miếng cơm mà bán bến thiêng. Liệu có khác gì nhau không?

Tôi lại nghĩ đến vết bớt lưỡi liềm sau tai Lê Văn Cò. Hắn là dòng dõi kẻ trộm mộ. Hôm nay, chính tay hắn phát giấy đồng thuận cho dân ký. Lịch sử đang lặp lại một cách trớ trêu: con cháu kẻ đào mộ tổ năm xưa, giờ lại giúp kẻ khác đào bới bến thiêng.

Tôi gấp cuốn gia phả lại, cất vào hòm gỗ. Rồi tôi lấy miếng ngọc bội đã ghép hoàn chỉnh ra ngắm dưới ánh đèn. Đóa sen ở giữa miếng ngọc như đang cười với tôi, an ủi tôi.

Ngày mai, tôi sẽ đến từng nhà chưa ký. Tôi sẽ kể cho họ nghe chuyện bến thiêng, chuyện bảy đời giữ bến, chuyện thằng Khôi và nửa miếng ngọc bội. Tôi không có năm triệu đồng, nhưng tôi có sự thật. Và tôi tin, sự thật mạnh hơn tiền.

Ngoài kia, tiếng sông vẫn ì ầm. Tôi nhìn ra cửa sổ, về phía dòng sông đỏ trong bóng đêm, và thầm hứa:

- Bến ơi, chờ tôi. Tôi sẽ không để bà con quên mất bà đâu.

---

Chương khác

Xem thêm