Cửu Tức Hóa Long – Quyển 4: Cửu Tức Hóa Long - Chương 44: Tám Chuyến Về

Sài Gòn vào những ngày cuối thu năm 2027. Mưa đã bớt, nước sông lên trong. Vụ án họ Lâm khép lại vào một buổi sáng như thế. Thiếu Quân đứng ngoài hành…

Nội dung chương

Sài Gòn vào những ngày cuối thu năm 2027. Mưa đã bớt, nước sông lên trong.

Vụ án họ Lâm khép lại vào một buổi sáng như thế. Thiếu Quân đứng ngoài hành lang tòa án, trong tay là tờ biên bản bàn giao mỏng dính: tám hũ tro cốt. Tro của tám người phụ nữ từng nằm dưới rễ tám gốc cây trong dinh thự, nay được phép đưa về quê an táng.

Anh mang tám hũ tro về căn hộ nhỏ của hai người, đặt ngay ngắn lên bàn. Diệm An đã chuẩn bị sẵn tám chiếc hộp gỗ lót vải điều, mỗi hộp dán một mảnh giấy ghi tên, năm sinh, năm mất, quê quán. Chữ cô nắn nót như đang vẽ bản vẽ thi công.

Bên cạnh là chiếc hộp gỗ lim của Vú Năm: tám di vật đã được tẩy uế, tám phong thư Vú chép lại từ lời các chị kể trong đêm lễ rằm.

- Đi tám tỉnh, anh tính bao lâu? - Diệm An hỏi. - Một tháng. Anh xin nghỉ phép rồi. Sếp ở công ty nghe chuyện thì bảo: đi đi, việc để đó chờ. - Vậy mình đi theo thứ tự các chị. Chị Lan trước, chị Thảo sau cùng.

Thiếu Quân gật đầu. Anh lấy trong túi ra một tấm bản đồ giấy đã cũ, trải ra bàn, đánh dấu tám điểm bằng bút đỏ. Từ Huế vào đến Bắc Ninh, một vòng cung ôm lấy dải đất hình chữ S.

- Mẹ anh... - Anh khựng lại. - Chị Hồng, mình để gần cuối. Anh muốn dành cho mẹ một ngày riêng. - Em biết. - Diệm An đặt tay lên tay anh. - Ngày của mẹ, mình không vội.

Đêm trước ngày khởi hành, Vú Năm gói cho họ một túi xôi lớn, một hũ muối vừng, và không quên nhét vào cốp xe chai nước mắm quê.

- Đi đường xa, ăn uống thất thường, mang theo cho chắc bụng. - Bà dặn. - Tám hũ tro để cốp sau, nhớ chèn vải cho khỏi xóc. Các chị đi xe lần đầu, đừng để các chị say xe.

Diệm An và Thiếu Quân nhìn nhau, cùng rơm rớm nước mắt mà bật cười. Vú Năm nói về tám hũ tro như nói về tám người khách quý đi du lịch.

Sáng khởi hành, Thiếu Quân tự tay đặt từng hộp gỗ vào cốp, chèn vải cẩn thận đúng lời Vú dặn. Diệm An dán lại những mảnh giấy ghi tên đã hơi bong góc. Tám cái tên, tám số phận, nằm im lìm trong cốp xe cũ, bắt đầu chuyến về nhà sau mấy chục năm lưu lạc.

Sáng hôm sau, chiếc xe cũ lăn bánh ra khỏi Sài Gòn, cốp sau chất tám hộp gỗ và một hộp lim. Vú Năm đứng ở cửa chung cư, tay vẫy mãi đến khi xe khuất.

- Đi đường bình an! Về kể Vú nghe từng chị một!

Diệm An thò đầu ra cửa kính, hét lại:

- Vú nhớ uống thuốc đúng giờ!

Chuyến đi đầu tiên: Huế.

Nhà của chị Đỗ Thị Lan nằm trong một con hẻm nhỏ gần sông Hương, ngôi nhà rường ba gian đã xám màu thời gian. Người ra đón họ là bà Hạnh, bảy mươi tư tuổi, cháu gái gọi Lan bằng bác ruột. Bà nhìn tám hộp gỗ trong cốp xe, mắt đỏ hoe trước khi kịp hỏi han.

- Bác Lan tôi... mất năm một ngàn chín trăm bốn mươi chín. Khi đó tôi chưa ra đời. Mẹ tôi kể, bác đi lấy chồng ở Sài Gòn, từ đó bặt tin. Nhà này chỉ còn giữ được tấm ảnh cưới của bác.

Bà Hạnh run run mở chiếc hộp gỗ dán tên Đỗ Thị Lan. Bên trong, chiếc trâm ngọc bích vẫn xanh trong như nước. Diệm An trao thêm phong thư của Vú Năm chép lại. Bà Hạnh đọc, nước mắt rơi xuống giấy.

Bác dặn, nếu có ai về Huế, nói với mẹ giùm bác: con gái đi lấy chồng như nước đổ khỏi lá sen, nhưng nước đổ đi không quên nguồn.

Chiều hôm đó, họ cùng gia đình bà Hạnh đưa tro cốt chị Lan về an táng cạnh mộ phần cha mẹ chị ở nghĩa trang dòng họ. Nấm mộ mới đắp còn ướt đất. Bà Hạnh cài chiếc trâm ngọc lên búi tóc mình, nói như nói với người đã khuất:

- Bác ơi, bác về nhà rồi.

Rời Huế lúc trời nhá nhem, xe chạy dọc quốc lộ vào Quảng Nam.

Chị Võ Thị Sương quê ở Hội An. Người em trai út của chị, ông Võ Văn Năm, năm nay chín mươi mốt tuổi, mắt đã mờ gần hết. Ông ngồi trên chiếc ghế mây trước hiên, tay lần mò chiếc vòng cẩm thạch Diệm An đặt vào lòng bàn tay.

- Chị Sương tôi đeo cái vòng này ngày cưới. - Ông nói, giọng khàn như giấy ráp. - Chị đi năm một ngàn chín trăm năm mươi tám, tôi mới hai ba tuổi. Má tôi khóc đến mù một mắt.

Phong thư của chị Sương chỉ vỏn vẹn mấy dòng: "Em thích vòng cẩm thạch này vì đeo vào tay mát. Ở nhà chồng, chẳng có gì mát cả, chỉ có khói trầm nóng. Nếu em còn sống, em sẽ về Hội An bán chè."

Ông Năm bật cười trong nước mắt:

- Chị tôi nấu chè đậu ván ngon nhất phố.

Tro cốt chị Sương được an táng trong nghĩa trang gia đình, dưới một gốc khế già. Trước khi lấp đất, ông Năm tháo chiếc vòng cẩm thạch khỏi tay mình, đặt lại vào hộp gỗ.

- Để chị đeo. Tay chị lạnh, cần cái mát.

Đêm đó, họ nghỉ lại ở một nhà nghỉ ven quốc lộ gần đèo Hải Vân. Quán cơm bên đường chỉ có mấy món đơn sơ, nhưng canh chua cá nấu ngon đến mức Thiếu Quân ăn liền ba bát.

- Anh ăn như chưa bao giờ được ăn. - Diệm An trêu.

- Ở nhà họ Lâm, ăn cơm cũng có giờ giấc, có lễ nghi. - Thiếu Quân cười buồn. - Anh không nhớ lần cuối cùng mình ăn một bữa cơm mà thấy ngon là khi nào.

Đêm, hai người ngồi ngoài hiên nhà nghỉ, nhìn xe cộ thưa thớt chạy qua. Thiếu Quân chợt nói:

- Anh nhớ được một chút về mẹ. Rất mờ. Chỉ là mùi thôi. Mùi bồ kết, mùi nắng trên áo. Có lần anh sốt cao, mẹ thức cả đêm lau người cho anh bằng khăn ấm. Sáng ra, mẹ gục đầu bên giường ngủ quên, tóc xõa xuống mặt anh.

Anh im lặng một lúc.

- Bùa máu đã lấy của anh nhiều thứ, nhưng mùi đó thì nó không lấy được. Mỗi lần anh ngửi thấy mùi bồ kết, anh biết mẹ vẫn ở đâu đó trong anh.

Diệm An tựa đầu vào vai anh, không nói gì. Phía xa, biển đêm vỗ sóng đều đều, như một lời ru.

Chuyến thứ ba: Hà Nam.

Chị Ngô Thị Lệ có người em gái tên bà Lụa, tám mươi ba tuổi, vẫn còn khỏe, nói sang sảng. Bà đón họ ở đầu làng, dẫn vào nhà, mở tủ lấy ra một khung ảnh cũ: chị Lệ mặc áo dài trắng, tóc tết hai bên, cười e thẹn.

- Chị tôi khéo tay lắm. Cái khăn tay này, chị thêu ba tháng mới xong.

Diệm An trao chiếc khăn tay thêu hoa sen. Bà Lụa áp khăn lên má, hít một hơi dài.

- Mùi nắng. Vẫn còn mùi nắng của ngày xưa.

Thư chị Lệ viết: "Chị thêu khăn này định tặng con gái đầu lòng. Chị không kịp tặng. Ai giữ được nó, coi như giữ giùm chị một đứa con gái."

Bà Lụa ôm chiếc hộp gỗ vào lòng, không chịu rời suốt buổi an táng. Khi nấm mộ đã đắp xong, bà đặt chiếc khăn tay lên trên, dằn một hòn đá nhỏ.

- Chị ơi, em tặng chị lại đứa con gái này.

Chuyến thứ tư: Hải Dương.

Em trai chị Phạm Thị Đào, ông Đào Văn Sử, bảy mươi lăm tuổi, là thợ mộc như cha của Diệm An. Nghe Diệm An giới thiệu mình là kiến trúc sư, con gái thợ mộc, ông Sử nhìn cô bằng ánh mắt khác hẳn.

- Chị Đào tôi cũng thích gỗ. Cái lược gỗ trầm này, chị giữ như giữ vàng.

Ông cầm chiếc lược lên, xoay dưới nắng, ngửi.

- Gỗ trầm thật. Thơm. Chị tôi ngày nào cũng chải tóc bằng nó, dù tóc rụng dần.

Thư chị Đào: "Lược gỗ trầm chải tóc cho mượt, mà tóc chị rụng dần. Chị sợ soi gương, nhưng vẫn chải mỗi sáng, vì còn chải là còn sống."

Ông Sử lặng đi một lúc lâu, rồi lấy trong túi nghề ra một miếng giấy nhám mịn, đánh bóng lại chiếc lược cho Diệm An xem.

- Gỗ tốt thì càng dùng càng bóng, cô ạ. Người tốt cũng vậy. Chỉ tiếc là chị tôi không được dùng lâu.

Tro cốt chị Đào được an táng cạnh mộ cha mẹ trong vườn nhà. Ông Sử tự tay đẽo một tấm bia gỗ nhỏ, khắc tên chị bằng nét chữ thợ mộc vuông vắn.

Chuyến thứ năm: Quảng Ninh.

Đây là chuyến đi nặng nề nhất. Mẹ ruột của chị Hoàng Thị Cúc vẫn còn sống, cụ đã chín mươi tuổi, nằm trên giường, minh mẫn đến đau lòng. Thấy chiếc nhẫn bạc, cụ cầm lấy, đeo vào ngón tay gầy guộc của mình, rồi khóc như một đứa trẻ.

- Mẹ đã nói đừng lấy chồng xa. Mẹ đã nói mà nó không nghe.

Chị Cúc mất năm một ngàn chín trăm tám mươi lăm, khi cụ mới ngoài năm mươi. Bốn mươi hai năm, cụ sống với một câu hỏi không lời đáp. Diệm An quỳ bên giường, đọc to phong thư cho cụ nghe:

Mẹ ơi, nhẫn bạc mẹ cho con, con đeo đến ngày cuối. Đừng khóc nhiều, mẹ nhé. Con chỉ đi trước một đoạn đường. Mẹ đi sau, nhớ đi chậm thôi, đường xa.

Cụ nín khóc, gật đầu liên tục.

- Ừ. Mẹ đi chậm. Mẹ đi chậm.

Lễ an táng chị Cúc diễn ra trong sân nhà, dưới giàn mướp hương. Họ hàng đến đông đủ, ai cũng xin được thắp cho chị một nén nhang. Cụ mẹ ngồi xe lăn, tay ôm chiếc hộp gỗ, miệng lẩm bẩm:

- Về nhà rồi, con ơi. Về nhà rồi.

Họ ở lại Quảng Ninh thêm một đêm, vì cụ mẹ cứ nắm tay Diệm An không chịu buông. Cụ kể chuyện Cúc hồi nhỏ: con bé thích nhặt vỏ ốc ngoài bãi biển, xâu thành chuỗi đeo cổ, bảo sau này lớn sẽ làm cô dâu đẹp nhất làng.

- Nó làm cô dâu đẹp thật. - Cụ nói, mắt nhìn xa xăm. - Chỉ là... làm cô dâu xong, nó không về nữa.

Sáng hôm sau, lúc từ biệt, cụ dúi vào tay Thiếu Quân một chiếc vòng vỏ ốc cũ kỹ.

- Của con Cúc hồi nhỏ. Cậu cầm lấy, coi như em gái cậu đi theo phù hộ.

Thiếu Quân cầm chiếc vòng, cúi đầu thật sâu trước cụ. Anh không nói được lời nào.

Đêm đó, xe rời Quảng Ninh, chạy về hướng Nam Định. Trên ghế sau chỉ còn ba hộp gỗ. Hộp thứ sáu dán tên Trịnh Thị Hồng vẫn chưa mở. Thiếu Quân lái xe trong im lặng đã mấy tiếng đồng hồ. Diệm An không hỏi, chỉ lặng lẽ đặt tay lên mu bàn tay anh đang nắm vô lăng.

Ngoài cửa kính, đồng lúa Thái Bình trải dài trong bóng tối, mùi rạ mới thoang thoảng bay vào.

- Ngày mai, anh sẽ gặp mẹ. - Diệm An nói khẽ. - Ừ. - Thiếu Quân đáp, giọng khàn đi. - Lần đầu tiên, anh đến trước mẹ mà không phải cúi đầu xin phép ai.

Chương khác

Xem thêm