Đất Đình Tình - Chương 23: Những Trang Nhật Ký

Ngày 38, Phan Cẩm Ly xin nghỉ mọi việc, đóng cửa nhà gỗ, dành trọn một ngày để đọc kỹ từng trang nhật ký của bà nội. Cô đọc chậm, đọc đi đọc lại, như sợ…

Nội dung chương

Ngày 38, Phan Cẩm Ly xin nghỉ mọi việc, đóng cửa nhà gỗ, dành trọn một ngày để đọc kỹ từng trang nhật ký của bà nội. Cô đọc chậm, đọc đi đọc lại, như sợ bỏ sót một chữ nào của bà.

Cuốn nhật ký mở ra cả một đời người. Bà Phan Thị Lành viết về những mùa lũ lụt, về người chồng mất sớm, về hai đứa con một trai một gái, về nỗi lo cơm áo gạo tiền. Nét chữ bà khi thì ngay ngắn, khi thì run rẩy theo năm tháng, nhưng trang nào cũng đầy ắp tình thương.

Ly đọc đến đoạn bà viết về bố cô, nước mắt cô lăn dài. Bố cô mất khi cô còn nhỏ, bà là người nuôi cô khôn lớn. Rồi cô đọc đến những trang bà viết về bác Đức, và tim cô thắt lại.

"Thằng Đức lại đi cờ bạc về, thua sạch tiền bán lúa. Tôi mắng nó, nó cãi lại, bỏ nhà đi ba ngày. Tôi lo nó làm liều. Làm cha làm mẹ, con hư cũng là con mình, bỏ sao đành."

"Thằng Đức lén lấy giấy tờ đất của tôi đi hỏi cầm cố. May mà người ta thấy giấy tờ không chính chủ nên không nhận. Tôi tịch thu lại, giấu kỹ. Từ nay, mọi giấy tờ đất đai tôi chỉ đưa cho con Ly giữ. Thằng Đức không được động vào một tấc đất."

Ly gấp trang nhật ký lại, thở ra một hơi dài não nề. Thì ra từ nhiều năm trước, bà nội đã nhìn thấu bác Đức. Bà đã đề phòng ông ta, đã dặn đất chỉ để cho Ly. Đây chính là lý do Đức sợ chiếc hộp: trong này có bằng chứng bà không tin ông ta, có lời dặn dò về mảnh đất. Nếu những trang này được đưa ra, hình ảnh "người con hiếu thảo đòi đất hương hỏa" mà Đức dựng lên sẽ sụp đổ hoàn toàn.

Cô đọc tiếp, đến những trang viết về cậu bé được cứu. Lần này cô đọc kỹ từng chữ, và câu chuyện hiện lên sống động như một cuốn phim.

"Hôm ấy nước lũ về to lắm. Tôi ra bến sông giặt áo thì nghe tiếng kêu cứu. Nhìn ra giữa dòng, một thằng bé trạc mười lăm tuổi đang chới với, tay chân quờ quạng. Nó là con nhà thành phố, về quê ngoại chơi, rủ bạn tắm sông, bị chuột rút giữa dòng. Bạn nó sợ quá chạy đi gọi người, chỉ còn mình nó."

"Tôi không biết bơi giỏi, chỉ biết bơi chập chững. Nhưng lúc đó không kịp nghĩ. Tôi cởi áo ngoài, lao xuống. Nước xiết lắm, cuốn tôi đi mấy mét. Tôi cố bơi ra chỗ thằng bé, một tay ôm nó, một tay quờ quạng. May sao vớ được cành tre trôi ngang. Tôi bám lấy cành tre, lôi cả hai vào bờ. Lên đến bờ thì tôi kiệt sức, nằm vật ra, thằng bé thì sặc nước, ho sù sụ."

"Tôi cõng nó về nhà. Nó run cầm cập, môi tím tái. Tôi nấu nồi cháo gừng, đốt đống lửa to, lấy áo ấm của ông nhà tôi hồi còn sống cho nó mặc. Nó ăn hết hai bát cháo, rồi khóc. Nó nói: Bà ơi, không có bà thì con chết rồi. Con cảm ơn bà. Tôi xoa đầu nó, bảo: Sống là được, ơn nghĩa gì con."

Ly đọc đến đây thì nước mắt đã ướt đẫm trang giấy. Cô vội lau đi, sợ làm nhòe chữ của bà. Cô đọc tiếp:

"Tối, bố mẹ nó từ thành phố xuống đón. Họ cảm ơn tôi rối rít, biếu tiền tôi không nhận, hứa sẽ không bao giờ quên ơn, hứa sẽ cho thằng bé về thăm tôi mỗi năm. Tôi bảo không cần, chỉ mong thằng bé khỏe mạnh, học hành nên người. Họ đi rồi, bặt tin từ đó đến nay cũng mấy năm."

Những trang sau, bà vẫn thỉnh thoảng nhắc đến cậu bé:

"Năm nay nước lũ lại về. Tôi ra bến sông, nhớ thằng bé năm ấy. Không biết giờ nó ra sao, đã thành người lớn chưa, đã có gia đình chưa. Mong nó sống tốt, sống tử tế với đời."

"Con Ly hỏi tôi sao hay ra bến sông ngồi một mình. Tôi cười, bảo bà ngắm nước. Thật ra bà nhớ thằng bé. Cứu một mạng người mà như gieo một hạt giống, không biết nó nảy mầm ở đâu, thành cây gì. Bà chỉ mong nó thành cây tốt, cây ngay thẳng giữa đời."

Ly gấp cuốn nhật ký lại, ôm vào lòng, khóc như một đứa trẻ. Bà nội cô đã cứu sống một mạng người, suýt đánh đổi cả mạng mình, vậy mà cả đời bà chỉ lặng lẽ mong cậu bé ấy sống tốt. Không đòi báo đáp, không khoe khoang, chỉ một niềm mong mỏi giản dị của người già.

Và cậu bé ấy, giờ đã là một người đàn ông ngoài ba mươi, đang ở đâu? Có biết rằng bà cụ cứu mình năm xưa đã qua đời, có biết rằng bà vẫn nhớ mình đến tận những ngày cuối đời không?

Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Ly: cô phải tìm ra cậu bé ấy. Không phải để đòi ơn, bà cô không bao giờ muốn thế. Mà để nói với anh ta rằng bà vẫn nhớ anh ta, rằng hạt giống bà gieo năm xưa, bà mong nó đã thành cây tốt. Đó là tâm nguyện cuối cùng của bà mà cô có thể thực hiện.

Nhưng tìm bằng cách nào? Nhật ký không ghi tên cậu bé, không ghi địa chỉ. Chỉ biết là "con nhà thành phố", về quê ngoại chơi, năm nay khoảng ba mươi lăm tuổi. Giữa biển người mênh mông, tìm một người chỉ qua vài chi tiết mơ hồ thì khó như mò kim đáy bể.

Ly cầm bức ảnh lên, nhìn cậu bé trong ảnh một lần nữa. Cô sẽ bắt đầu từ bức ảnh này. Biết đâu, trong ảnh còn manh mối nào mà cô chưa nhìn ra.

Cô không biết rằng, quyết định tìm kiếm cậu bé năm xưa của cô sắp sửa mở ra một cánh cửa mà sau đó, không ai trong cuộc có thể quay đầu lại được nữa.

Chiều Ngày 39, Ly mang cuốn nhật ký đến cho luật sư Hùng xem những trang bà viết về Đức. Hùng đọc xong, mắt sáng lên:

- Những trang này là bằng chứng quý giá về ý chí của bà cụ: đất chỉ để cho em, ông Đức không được động vào. Kết hợp với kết quả giám định sổ giả, vụ án của chúng ta càng thêm chắc chắn.

Ly gật đầu, nhưng lòng cô không nghĩ đến vụ án. Cô nghĩ đến cậu bé trong ảnh, đến lời dặn của bà, đến hạt giống bà gieo hai mươi năm trước.

Cô đọc tiếp những trang cuối của cuốn nhật ký, nơi bà viết về những ngày tháng cuối đời. Nét chữ bà lúc này đã run rẩy lắm rồi, có trang chỉ viết được vài dòng, mực nhòe đi vì tay bà không còn vững. Nhưng tình thương trong từng chữ thì vẫn nguyên vẹn như thuở nào.

"Sức khỏe bà yếu rồi. Không biết còn được mấy mùa lũ nữa. Chỉ tiếc một điều: chưa gặp lại thằng bé năm ấy một lần. Bà không cần nó báo đáp, chỉ muốn nhìn thấy nó một lần, biết nó sống tốt là bà yên lòng nhắm mắt."

Ly ôm cuốn nhật ký vào lòng, khóc nức nở. Bà nội cô đến tận những ngày cuối đời vẫn day dứt vì chưa gặp lại cậu bé mình đã cứu. Ân tình đó, bà mang theo xuống mồ. Và giờ đây, cô là người duy nhất có thể hoàn thành tâm nguyện dang dở của bà.

Cô lau nước mắt, cẩn thận cất nhật ký vào hộp. Cô thề với lòng mình: dù phải lật tung cả thành phố lên, dù phải mất bao nhiêu thời gian, cô cũng sẽ tìm ra cậu bé năm xưa. Không phải để đòi ơn, mà để nói với anh ta rằng có một bà cụ đã nhớ anh ta suốt hai mươi năm, đã mong anh ta sống tốt đến tận hơi thở cuối cùng. Đó là món nợ ân tình mà cô, với tư cách cháu gái của bà, phải thay bà trả cho trọn.

Trên đường về sau buổi gặp luật sư Hùng, cô ghé qua bến sông. Nước sông vẫn trôi lững lờ như hai mươi năm trước. Cô đứng ở nơi bà từng lao xuống cứu người, nhìn dòng nước, thì thầm:

- Bà ơi, con sẽ tìm ra cậu bé ấy. Con hứa với bà, con hứa.

Chương khác

Xem thêm