Đệ Tử Xuất Mã Chợ Lớn - Chương 14: Bản Gốc Và Bản Sao
Ngày 12 Ánh đèn tuýp trên trần phòng làm việc của Đội Cảnh sát Hình sự hắt xuống mặt bàn kim loại thứ ánh sáng trắng đục. Mặt bàn xếp kín các tập hồ sơ…
Nội dung chương
Ngày 12
Ánh đèn tuýp trên trần phòng làm việc của Đội Cảnh sát Hình sự hắt xuống mặt bàn kim loại thứ ánh sáng trắng đục.
Mặt bàn xếp kín các tập hồ sơ lưu trữ kẹp bìa da bò. Dũng ngồi đối diện tôi, trên tay cầm một chiếc kính lúp gọng thép và cây thước đo độ dày giấy chuyên dụng.
Anh đặt hai tập giấy khổ A4 cạnh nhau trên tấm đệm nỉ. Đó là bản chụp hồ sơ ủy quyền có chữ ký ông nội tôi và bản sao mà nhóm thu gom đưa cho bà Cầm. Tôi kéo ghế sát bàn để đọc từng dòng.
- Cậu nhìn kỹ góc phải dưới cùng của con dấu tròn.
Dũng nghiêng đèn bàn, chiếu một góc bốn mươi lăm độ vào mặt giấy.
- Bên trái là giấy họ đem ép bà Cầm ký xác nhận, có dấu sao y của một văn phòng công chứng. Bên phải là bản chụp từ hồ sơ lưu tại văn phòng đó, chúng tôi vừa nhận để đối chiếu. Nhìn tên người ủy quyền trước đã.
Tôi cúi xuống sát mặt bàn. Mùi mực in laser và mùi giấy ẩm bay vào mũi.
Con dấu đỏ trên bản sao có viền tròn nét đứt ở cung tám giờ. Chữ số trên dãy mã số định danh của người ủy quyền bị lệch tâm nửa milimét so với hàng chữ in sẵn phía trên.
- Lương Đức Thành, ông nội cậu. Ông ký khi còn sống. Giấy này khác biên bản ca trực mang tên Trần Hoài Nam mà ta đang xác minh.
Dũng đặt cây thước đo độ dày xuống cạnh tờ giấy.
- Trong hồ sơ lưu, ông chỉ ủy quyền trông coi phần tài sản chung ở Kim Hưng. Bản đưa cho bà Cầm thêm ba điều khoản, trong đó có quyền chuyển nhượng. Anh đang yêu cầu văn phòng xác minh cả số chứng thực trên bản ấy.
Tôi chỉ ngón tay vào phần nội dung in nghiêng ở trang thứ hai của bản sao.
- Họ còn gộp cả đồ tế tự vào phần được chuyển nhượng. Trong hồ sơ ông ký chỉ có việc trông coi tài sản, đâu có đoạn giao đường khẩu.
- Đúng vậy.
Dũng lật trang sau của bản chụp hồ sơ lưu bằng đầu nhíp.
- Có phần nội dung bị thay. Nhưng ai thay, dấu này từ đâu ra thì phải kiểm tiếp. Cậu xem dòng họ yêu cầu bà Cầm xác nhận: họ muốn bà thừa nhận quyền bán của người mang giấy, rồi mới bàn giá căn của bà.
Tôi mở cặp, đưa Dũng bản in ảnh hai bát hương ở kho Tân Phát và trang ghi chú của mình. Bên cạnh là ảnh đối chiếu mẩu phong bì cũ; bản gốc đã được anh thu giữ từ lần xuống hầm. Tôi đánh dấu phần hoa văn trên quai bát, đặt cạnh hình mặt dây chuyền của ông.
- Đây là bát bên phải, lúc chúng tôi tới vẫn còn tàn nhang. An chụp trước khi đưa tôi ra. Tôi nhớ mặt dây chuyền của ông có ba vòng xoắn gần giống, nên nhờ cô Liên lấy xuống chụp lại.
Dũng ngẩng đầu nhìn tôi. Đôi lông mày rậm của anh khẽ nhíu lại.
- Ảnh gốc còn trong điện thoại của An chứ?
- Còn. Chị ấy đã gửi đủ bộ ảnh, cả những tấm bị nhòe. Tôi chỉ khoanh trên bản in này.
Tôi đáp dứt khoát.
- Chỗ tàn nhang ấy có mùi khét. Tôi chưa biết nó liên quan thế nào với mẩu phong bì; anh cho đối chiếu giúp tôi.
Dũng gật đầu. Anh kéo ngăn kéo bàn, lấy ra biên bản tiếp nhận tài liệu cùng một chiếc bút bi xanh.
Tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy. Dũng ghi số bản in, giờ chụp An đã cung cấp và những chỗ tôi tự đánh dấu. Anh để riêng ảnh chụp trong kho với ảnh đồ gia đình, hỏi lại tôi từng nguồn trước khi viết tiếp.
- Ký vào góc dưới bên trái.
Dũng chuyển tờ biên bản sang phía tôi.
- Tôi sẽ chuyển ảnh cho tổ đang kiểm tra kho. Muốn so tàn tro hay lớp men thì phải lấy mẫu ở đó, hai tấm ảnh chưa cho biết chúng cùng nguồn.
Tôi ký tên mình vào dòng người giao nộp. Chữ ký ngay ngắn, dứt khoát.
Cửa phòng làm việc khẽ kêu cọt kẹt rồi mở ra. Cô Ngọc Liên bước vào, tay ôm một chiếc túi vải thô màu nâu sẫm.
Cô Liên đã năm mươi hai tuổi. Gương mặt cô hằn sâu những nếp nhăn quanh khóe mắt, mái tóc hoa râm cắt ngắn ngang cằm. Chiếc áo bà ba màu xám tro làm vóc người cô thêm gầy guộc.
Cô kéo chiếc ghế gỗ còn lại, ngồi xuống bên cạnh tôi. Ánh mắt cô lướt qua hai tờ giấy ủy quyền trên bàn rồi dừng lại ở ảnh chụp hai chiếc bát hương.
- Chú Dũng gọi tôi lên để nhận diện đồ tế tự của nhà mình đúng không?
Giọng cô Liên khàn đặc. Cô kéo ly nước lại gần nhưng chưa uống.
- Mời bà ngồi.
Dũng rót một ly nước lọc đẩy về phía cô Liên.
- Chúng tôi cần xác minh lịch sử phân chia đường khẩu của chi họ Lương tại địa phương. Đặc biệt là những mâu thuẫn tranh chấp trước thời điểm ông Thành ngã bệnh.
Cô Liên đặt hai bàn tay xương xẩu lên mặt bàn. Các khớp ngón tay của cô sưng to, da mu bàn tay có nhiều đốm đồi mồi màu nâu nhạt.
- Mâu thuẫn không phải mới phát sinh gần đây.
Cô bắt đầu nói, mắt nhìn thẳng vào bức tường đối diện.
- Chuyện đã kéo dài từ sáu năm trước, khi ông Thành quyết định dời bàn thờ ngũ vị tiên gia từ từ đường cũ về gian nhà thuê trên đường Triệu Quang Phục. Thời điểm đó, có một nhánh họ tách ra làm ăn riêng ở khu khác trong Chợ Lớn.
Tôi nghiêng người về phía cô.
- Nhánh của người đàn ông lớn tuổi họ Lương thường xuyên qua lại nhà kho Tân Phát?
- Phải, chính là nhánh đó.
Cô Liên gật đầu chậm rãi.
- Khi ông Thành chưa phát bệnh, người đại diện nhánh đó từng dẫn ba người mang theo gia phả đến tận gian trước tiệm đòi chia tách chân hương. Họ nói đường khẩu phụng sự năm vị gia truyền Hôi, Bạch, Liễu, Hồ, Hoàng là lộc chung của tổ tiên để lại từ khi gia đình lập nghiệp ở Chợ Lớn. Họ không chấp nhận để một mình ông Thành giữ sổ bộ và hòm ấn.
Dũng vừa ghi chép vào sổ công tác vừa hỏi.
- Ông Thành đã xử lý việc đó thế nào?
- Ông Thành đuổi họ ra khỏi cổng.
Cô Liên nhớ lại, giọng nói đanh lại như gõ đá.
- Ông Thành bảo đường khẩu năm vị gia truyền thờ cúng để giữ yên mồ mả và bờ cõi gia tộc, không phải thứ công cụ để buôn thần bán thánh, gom góp tiền đóng cổ phần kho bãi. Người đại diện nhánh bên kia chỉ tay vào cửa tiệm, nói rằng nếu ông Thành không tự nguyện giao hòm ấn thì sau này có chết cũng không có đất chôn ở nghĩa trang họ Lương.
Tôi siết chặt quai túi xách đặt trên đùi.
- Nhánh đó có liên hệ gì với bản hợp đồng ủy quyền giả mạo này không?
- Tôi không khẳng định họ là hung thủ giết người hay làm hại bà Cầm.
Cô Liên thở ra một hơi khô khốc, ánh mắt đầy thận trọng.
- Người đại diện nhánh đó quen nhiều đầu mối mua bán ở Chợ Lớn. Họ từng nhờ ông Thành đứng ra vận động các chủ căn ở Kim Hưng bán chung một lượt. Ông từ chối. Còn kho Tân Phát đứng tên ai, tôi không có giấy tờ để nói.
Dũng gõ đầu bút bi xuống mặt bàn theo nhịp đều đặn.
- Sau hôm cãi vã đó, nhánh họ kia có quay lại không?
- Họ không đến công khai nữa.
Cô Liên mở túi vải thô, lấy ra một tập tài liệu bọc trong túi nylon cũ.
- Tháng trước tôi tìm thấy bốn chiếc đinh quấn chỉ ở mấy chậu cây sau tiệm. Tôi gói lại, định hỏi ông xem ai mang tới, nhưng lúc ấy ông đã mệt quá. Hôm nay nghe Huy kể chuyện bát hương, tôi mới lấy ra cho chú xem.
Cô Liên đẩy gói đồ về phía Dũng. Dũng dùng nhíp gắp mép túi nylon mở ra kiểm tra.
Bên trong là bốn chiếc đinh sắt lớn, loại dùng để đóng vỏ thuyền gỗ đi sông, dài chừng mười lăm phân. Thân đinh bám đầy đất sét khô cằn và những sợi chỉ năm màu đan chéo theo hình mắt cáo.
- Ông từng chỉ tôi kiểu quấn này trong sổ, nhưng tôi chưa thấy ai làm ở nhà mình.
Tôi quan sát kỹ các nút thắt chỉ gai.
- Trong sổ có ghi chuyện đinh cũ đặt quanh nhà để hại người. Có phải bốn chiếc này không thì tôi chưa biết. Cô tìm thấy cùng một hôm à?
- Cùng một buổi dọn chậu. Ông đã yếu từ trước, chứ cô không biết mấy chiếc đinh nằm đó bao lâu.
Cô Liên chớp mắt, khóe mắt hoe đỏ.
- Ông hay thức vì tiếng lục đục trên gác. Có hôm cô lên xem chỉ thấy cửa chớp bung chốt. Ông bắt cô kiểm lại chỗ cất giấy tờ, còn việc lau bàn thờ vẫn để cô làm như mọi khi.
Dũng ghi nhận vật chứng mới vào danh mục theo dõi hiện trường.
- Cuốn sổ ông để lại cho Huy có ghi chuyện nhánh họ này không?
Cô Liên nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân rồi lại nhìn sang Dũng.
Cô chỉ chiếc cặp trên đùi tôi. Tôi lấy cuốn sổ bọc vải chàm đã nhận sau tang ra, đặt cạnh tập ảnh. Góc bìa gập xuống ở chỗ tôi thường mở để xem lời dặn trước khi thỉnh tiên.
- Ông giao cô cất rồi đưa con sau tang. Nhưng mấy trang cuối cô chưa chỉ cho con xem.
Cô Liên kéo cuốn sổ lại gần, gỡ sợi chỉ buộc hai lá giấy cuối. Mép chỉ đã lún sâu vào bìa.
- Hôm trước con chỉ lo đọc phần thỉnh và tiễn tiên. Còn chỗ này ông ghi những việc xảy ra trong nhà. Cô sợ con đọc rồi chạy đi kiếm người ta, nên cứ chần chừ mãi.
Tôi nhìn cuốn sổ bọc vải chàm. Mặt vải đã mòn vẹt, để lộ lớp bìa cứng cáp bên trong.
Tôi vươn tay chạm vào gáy sổ. Cảm giác nham nhám của sợi vải thô truyền qua đầu ngón tay. Đây chính là nét chữ và quy cách đóng tập của ông Thành, người từng dạy tôi cách mài mực tàu trên nghiên đá khi tôi còn là một đứa trẻ mười tuổi.
Dũng không ngăn cản hành động của tôi. Anh ngồi yên quan sát.
Tôi lật qua những ô vuông và ký hiệu đã xem từ hôm nhận sổ. Phía sau phần nghi thức là các trang ngày giỗ, nét mực tàu đậm và ngay ngắn.
Từng trang sau ghi chép chi tiết về các khóa cúng ngũ vị tiên gia qua từng năm. Ngày rằm tháng Giêng, ngày tiệc Bạch gia tháng Ba, ngày tế Liễu gia ven sông vào tháng Năm, ngày lập đàn Hồ gia tháng Tám, và ngày chạp họ của Hoàng gia vào đầu tháng Chạp.
Các dòng chữ đều tăm tắp, nét mực đậm và đều tay từ trang đầu đến trang ba mươi chín.
Tôi lật tiếp đến phần giữa cuốn sổ.
Bắt đầu từ trang bốn mươi, nét chữ của ông Thành có sự biến đổi rõ rệt. Nét bút run rẩy, các nét sổ dọc bị đứt đoạn, khoảng cách giữa các chữ không còn đều đặn. Có những dòng chữ bị gạch xóa nhiều lần bằng mực đen đậm đặc.
Trang bốn mươi lăm ghi lại những sự kiện xảy ra vào đầu năm nay.
Mùng tám tháng Hai: Bát hương Bạch tiên bị xoay góc mười lăm độ về hướng Tây Nam. Cửa khóa không hỏng, bùa dán khe cửa không rách. Có người đi vào bằng đường ngầm hoặc dùng chìa khóa thứ hai.
Mười chín tháng Ba: Trong chậu cây phía sau xuất hiện lông bờm màu vàng nhạt dính mỡ trâu. Không phải lông chồn, không phải lông cáo. Mùi tanh nồng nặc bốc lên suốt ba ngày không tan.
Hai mươi lăm tháng Tư: Bản sao giấy tờ đất bị lục lọi. Hòm ấn vẫn nguyên vẹn nhưng dây niêm phong bằng vải gai đỏ bị cắt đứt rồi dùng nhựa thông gắn lại.
Tôi đọc từng dòng ghi chép ngắn gọn nhưng chứa đầy áp lực của người đã khuất.
Ông Thành đã sống trong tình trạng bị rình rập và cô lập suốt nhiều tháng ròng rã ngay trong chính căn nhà gia đình đang thuê. Những kẻ mưu toan chiếm đoạt đường khẩu không chỉ dùng sức ép giấy tờ mà còn liên tục tiến hành các hành vi phá hoại về mặt tâm linh.
Dũng ghé sát mắt nhìn vào những dòng chữ ghi chép.
- Ông Thành có ghi lại tên của ai trong cuốn sổ này không?
- Không có tên cụ thể.
Tôi lật tiếp hai trang nữa.
- Ông Thành chỉ dùng các ký hiệu để chỉ những người đến gặp mình. Chữ 'Giáp' khoanh tròn cho người đòi đất, chữ 'Ất' có gạch dưới cho người mang đồ yểm đến cổng.
Trang áp chót của cuốn sổ bị xé mất một góc dưới. Vết xé nham nhở, để lại những xơ giấy màu nâu xám.
Tôi lật sang trang cuối cùng.
Khác với toàn bộ các trang trước được viết bằng mực tàu đen, trang cuối chỉ có duy nhất một dòng chữ nằm trơ trọi ở chính giữa trang giấy. Dòng chữ được viết bằng một loại mực màu đỏ tươi, màu sắc chưa hề phai nhạt dù giấy đã ố vàng theo thời gian.
Nét mực đỏ ngấm sâu vào thớ giấy dó, tạo thành những quầng viền mờ màu hồng nhạt xung quanh các nét gãy.
Từng nét chữ run rẩy dữ dội, cào rách cả mặt giấy ở những điểm nhấn ngòi bút.
Dòng chữ đỏ chỉ còn một lời dặn:
Đừng nghe lời người gọi đúng giọng ta.