Trùng Tang Bên Sông Đuống - Chương 11
Chiều ngày mười tám tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, một buổi chiều đông ảm đạm, mây xám giăng kín bầu trời làng Vân Khê. Gió bấc…
Nội dung chương
Chiều ngày mười tám tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, một buổi chiều đông ảm đạm, mây xám giăng kín bầu trời làng Vân Khê. Gió bấc thổi mạnh, mang theo hơi lạnh từ sông Đuống.
Thành đang ở tiệm sửa xe ngoài thị trấn thì Lành đạp xe ra, mặt tái mét:
- Anh ơi! Thằng Đức... thằng Đức mất tích rồi!
Thành buông vội chiếc cờ lê, tim như ngừng đập:
- Sao? Mất tích từ bao giờ?
- Trưa nay nó bảo ra bến sông chơi với mấy đứa bạn. Đến giờ cơm chiều không thấy về. Em với chị Hảo đi tìm khắp xóm không thấy. Mấy đứa bạn nó bảo trưa nay không thấy nó ra bến.
Thành vớ lấy chiếc xe đạp, đạp như bay về làng. Trên đường đi, anh cầu nguyện không ngừng: Đức ơi, cháu đừng xảy ra chuyện gì. Chú xin cháu.
Về đến nhà, cảnh tượng hỗn loạn. Hảo đang gào khóc, bà Nhàn ngồi bệt xuống sân, Lành chạy đôn chạy đáo hỏi han hàng xóm. Mấy người đàn ông trong họ đã tỏa đi tìm khắp làng: vườn cau, nghĩa địa, ao cá, bãi bồi, nhưng không thấy bóng dáng thằng bé đâu.
- Tìm ở bến sông chưa? - Thành hỏi, giọng run run.
- Rồi, nhưng không thấy. - Một người họ hàng nói. - Mấy đứa trẻ bảo trưa nay không thấy thằng Đức ra bến.
Thành không tin. Anh có linh cảm xấu. Bến sông Đuống là nơi thằng Đức hay ra chơi, nó thích ngồi trên bến đá nhìn tàu thuyền qua lại. Anh quyết định ra bến sông tìm lần nữa.
Bến sông Đuống nằm cách làng chừng nửa cây số, là một bến đá cũ, bậc thang dẫn xuống mặt nước. Chiều nay, bến vắng tanh, không một bóng người. Mặt sông phẳng lặng một cách bất thường, không một gợn sóng, dù gió bấc đang thổi mạnh. Nước sông màu xám xịt, sâu hun hút.
Thành đi dọc bến, gọi to:
- Đức ơi! Đức ơi! Cháu ở đâu?
Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng gió rít và tiếng nước vỗ nhẹ vào bậc đá.
Anh đi xuống từng bậc thang, mắt dán xuống mặt nước. Bỗng anh khựng lại. Trên bậc đá thứ ba từ dưới lên, có một đôi dép nhựa nhỏ xíu, cỡ chân trẻ con, xếp ngay ngắn như có ai đó cởi ra trước khi xuống nước.
Đó là dép của Đức. Thành nhận ra ngay, vì chính anh đã mua đôi dép ấy cho cháu hồi đầu năm học.
Tay Thành run lên khi cầm đôi dép lên. Dép còn ướt, như vừa mới cởi ra. Anh nhìn xuống mặt sông phẳng lặng, lòng đầy kinh hoàng.
- Đức ơi! - Anh gào lên, giọng xé toang buổi chiều ảm đạm.
Anh lao xuống nước, lặn tìm. Nước sông lạnh buốt thấu xương, tối đen như mực. Anh lặn hết hơi này đến hơi khác, sờ soạng dưới đáy sông đầy bùn, nhưng chỉ chạm phải bùn nhão và đá cuội trơn tuột.
Người làng nghe tiếng gào, kéo ra bến mỗi lúc một đông. Mấy thanh niên trai tráng nhảy xuống sông cùng tìm. Họ lặn khắp khu vực bến, mở rộng dần ra xa, nhưng không thấy gì. Có người mang cả lưới ra quét, có người chèo thuyền đi dọc sông, nhưng mặt sông vẫn im lìm, không nhả ra bất cứ thứ gì.
Ông Trưởng thôn huy động cả làng. Đàn ông thì lặn tìm, đàn bà thì nấu cháo, đun nước cho người tìm kiếm. Trẻ con bị cấm bén mảng đến bến sông. Cả làng Vân Khê như nín thở, ai cũng cầu nguyện cho thằng bé được bình an.
Mặt sông vẫn phẳng lặng bất thường, như một tấm gương khổng lồ. Không một gợn sóng, không một con cá quẫy. Sự im lặng của dòng sông khiến ai cũng rùng mình. Mấy ông lão đánh cá bảo nhau: "Sông Đuống mấy chục năm nay chưa bao giờ phẳng lặng như thế này. Chắc chắn có điềm."
Bà Nhàn được dìu ra bến, nhìn thấy đôi dép của cháu thì ngất xỉu. Hảo thì gào khóc, đòi nhảy xuống sông tìm con, phải mấy người giữ lại.
- Con ơi! Đức ơi! Mẹ đây! Con ở đâu? Về với mẹ đi con!
Tiếng khóc của Hảo vang vọng khắp bến sông, ai nghe cũng xót xa. Chị gào đến khản cả tiếng, rồi ngất đi, tỉnh lại gào tiếp. Cứ thế lặp đi lặp lại, khiến ai chứng kiến cũng không cầm được nước mắt.
Trời sập tối, việc tìm kiếm phải tạm dừng vì quá nguy hiểm. Người làng đốt đuốc, thắp đèn, tiếp tục tìm dọc bờ sông. Thành không chịu về, anh ngồi bệt trên bến đá, ôm đôi dép của Đức, mắt nhìn trân trân xuống mặt sông đen ngòm.
Anh nhớ lại lời Quỷ Trùng đe dọa: "Vài ngày nữa, tao sẽ vào." Hôm nay là ngày 18/12, đúng mười ba ngày sau khi Phúc mất. Nó đã không đợi đủ bảy ngày theo chu kỳ. Nó đã ra tay sớm hơn, hoặc... nó chưa bao giờ tuân theo chu kỳ một cách chính xác.
Anh nhớ lại dấu chân ướt dẫn đến cửa buồng Đức. Nhớ tiếng gọi "Đức ơi" mỗi đêm. Nhớ vòng tro trấu đã chặn được nó. Vậy mà hôm nay, nó vẫn bắt được thằng bé. Bằng cách nào?
Có lẽ nó đã dụ thằng bé ra bến sông. Trẻ con ham chơi, chỉ cần một tiếng gọi ngọt ngào, một lời hứa hẹn, là nó sẽ đi theo. Vòng tro trấu chỉ bảo vệ được ngôi nhà, không bảo vệ được bến sông.
Thành đấm mạnh xuống bậc đá, tay rướm máu:
- Khốn kiếp! Sao tao không nghĩ ra! Sao tao không canh chừng nó cẩn thận hơn!
Lành ngồi cạnh chồng, khóc nức nở:
- Không phải lỗi của anh. Ai mà ngờ được...
- Là lỗi của anh. - Thành gào lên. - Anh biết nó đang rình rập thằng Đức, vậy mà anh vẫn để nó ra khỏi nhà một mình. Anh là thằng chú vô dụng!
Hai vợ chồng ôm nhau khóc trên bến sông lạnh lẽo. Xung quanh, người làng vẫn đang tìm kiếm trong vô vọng, ánh đuốc lập lòe soi rõ những gương mặt đầy lo âu.
Bỗng một ông lão đánh cá già, người đã sống cả đời bên sông Đuống, nói với Thành:
- Cậu Thành này, tôi nói thật. Bến sông hôm nay lạ lắm. Nước phẳng lặng như tờ, không một gợn sóng, là điềm không lành. Sông Đuống nhà mình chưa bao giờ phẳng lặng như thế, dù gió có to đến đâu. Chắc chắn có vật gì dưới sông.
- Thứ gì hả cụ?
Ông lão nhìn xuống mặt nước đen ngòm, giọng run run:
- Ma da. Ma da dưới sông. Nó dụ trẻ con ra bến, dìm xuống nước. Thằng bé nhà cậu... e là...
Ông không nói hết câu, nhưng Thành đã hiểu. Anh nhìn xuống mặt sông phẳng lặng, lòng đầy tuyệt vọng.
Nhưng anh không tin là ma da. Anh biết rõ thủ phạm là ai: Quỷ Trùng. Con quỷ chim cú đầu người đã dụ thằng Đức ra bến sông, dìm nó xuống nước. Nó không cần vào nhà. Nó chỉ cần dụ đứa trẻ ra khỏi vòng bảo vệ.
Đêm ấy, cả làng thức trắng bên bến sông. Họ căng lưới, thả câu, lặn tìm, nhưng mặt sông vẫn phẳng lặng, vẫn không nhả ra điều gì.
Thành ngồi trên bến đá suốt đêm, ôm đôi dép của Đức, mắt không rời mặt sông. Anh thì thầm:
- Đức ơi, cháu ở đâu? Chú đến rồi đây. Cháu về với chú đi.
Anh nhớ lại những kỷ niệm với thằng cháu. Nhớ hồi Đức lên năm, anh cõng nó đi khắp làng, nó cười khanh khách trên lưng chú. Nhớ hồi nó lên bảy, anh dạy nó vá xe, nó làm hỏng cả chiếc săm mà vẫn cười tít mắt. Nhớ mới tuần trước, nó còn níu áo anh hỏi: "Chú ơi, bao giờ chú đưa cháu đi thả diều?" Anh đã hứa, nhưng chưa kịp thực hiện.
Nước mắt Thành chảy dài trên má. Anh đã hứa sẽ bảo vệ thằng bé, vậy mà giờ nó đang mất tích dưới dòng sông lạnh lẽo. Anh là thằng chú vô dụng, không giữ được lời hứa.
Lành ngồi cạnh chồng suốt đêm, không nói gì, chỉ lặng lẽ nắm tay anh. Cô biết, lúc này mọi lời an ủi đều vô nghĩa. Chồng cô đang tự dằn vặt mình, và cô chỉ có thể ở bên, chia sẻ nỗi đau.
Gần sáng, khi trời còn tối đen, mặt sông bỗng gợn lên một đợt sóng nhỏ. Rồi một vật gì đó nổi lên, trôi chầm chậm về phía bến. Người làng reo lên, lao xuống vớt.
Đó là chiếc mũ len của Đức, chiếc mũ mà Hảo đã đan cho con hồi đầu đông, màu xanh da trời, có hình con thỏ trắng.
Thành cầm chiếc mũ ướt sũng, lòng như dao cắt. Mũ nổi lên, nhưng người thì không. Anh biết, thằng bé không còn nữa. Sông Đuống đã nuốt chửng nó, như đã từng nuốt chửng bao nhiêu sinh mạng khác.
Nhưng anh vẫn nuôi một tia hy vọng mong manh: biết đâu thằng bé chỉ bị lạc, biết đâu nó đang trốn ở đâu đó, biết đâu chiếc mũ chỉ là rơi xuống nước. Anh không dám nghĩ đến điều tồi tệ nhất, vì nghĩ đến là anh sẽ gục ngã.
Trời sáng dần. Mặt sông vẫn phẳng lặng. Và trên bến đá, đôi dép nhỏ xíu của Đức vẫn nằm đó, như một lời tố cáo câm lặng gửi đến kẻ đã gây ra tất cả.
Thành ngẩng lên nhìn bầu trời xám xịt. Anh biết, từ giây phút này, gia đình anh đã mất đi người thứ ba. Ba mạng trong hai mươi mốt ngày. Đúng như lời thầy Ba nói về trùng tang liên táng.
Và anh cũng biết, Quỷ Trùng sẽ không dừng lại. Nó sẽ còn quay lại. Và lần này, mục tiêu có thể là chính anh, người đàn ông cuối cùng còn lại của họ Nguyễn.