Đêm Giông Bên Tân Hiệp - Chương 19: Sáng mười chín tháng mười, Hậu cùng Thầy Năm ra đồng.
Sau ba ngày học văn tế và các luật lệ, hôm nay thầy quyết định đưa Hậu ra xem lại cái hũ một cách cẩn thận, ban ngày, khi song hồn yếu nhất. Thầy dặn đi…
Nội dung chương
Sau ba ngày học văn tế và các luật lệ, hôm nay thầy quyết định đưa Hậu ra xem lại cái hũ một cách cẩn thận, ban ngày, khi song hồn yếu nhất. Thầy dặn đi dặn lại:
- Nhớ, chỉ nhìn, không được động vào. Tay không được chạm vào hũ, không được chạm vào bùa. Mắt nhìn, tai nghe, miệng hỏi, tay để yên.
Hai thầy trò ra tới góc ruộng lúc trời còn sớm, nắng chưa gắt. Thầy Năm mang theo một cái giỏ tre, trong đó có nhang đèn, muối gạo, và một cuộn dây chỉ đỏ. Hậu mang cuốc và xẻng nhỏ.
Thầy nhìn quanh, chắc chắn không có ai, mới bảo Hậu gạt lớp bùn phủ trên phiến đá. Hậu làm theo, nhẹ nhàng, cẩn thận. Phiến đá xanh hiện ra, mặt khắc ba chữ Hán mờ ảo. Thầy ngồi xổm xuống, xem xét đường nứt chạy chéo trên phiến đá, rồi lắc đầu:
- Vết nứt này, mới. Mép nứt còn sắc, không có rêu. Đúng là mới bị bẩy gần đây.
Hậu hỏi:
- Thầy, mình có nên bẩy lên xem lại không?
Thầy suy nghĩ một lúc, rồi gật đầu:
- Bẩy lên, nhưng nhẹ thôi, chỉ hé một khe đủ nhìn. Mày bẩy, tao soi đèn.
Hậu dùng xà beng bẩy nhẹ mép phiến đá. Phiến đá nghiêng lên một chút, để lộ khe hở chừng gang tay. Thầy bật đèn pin soi xuống. Ánh sáng chiếu vào bóng tối, và cái hũ sành hiện ra rõ hơn lần trước, vì lần này là ban ngày, ánh sáng tự nhiên lọt xuống nhiều hơn.
Hũ sành da lươn bóng lưỡng, cao chừng sáu tấc, miệng bịt vải điều đã sờn cũ, bạc màu. Trên miệng hũ, lá bùa vàng úa dán chéo. Thầy soi kỹ lá bùa, mặt biến sắc. Ông run run chỉ vào lá bùa:
- Mày thấy không? Lá bùa này, mờ mất một nửa chữ. Nửa bên trái còn đọc được, nửa bên phải mờ hẳn, như bị ai chùi đi.
Hậu ghé mắt nhìn. Đúng như thầy nói. Lá bùa hình chữ nhật, trên đó viết mấy hàng chữ Hán. Nhưng nửa bên phải mờ tịt, chỉ còn lờ mờ vài nét. Anh hỏi:
- Sao lại mờ một nửa hả thầy? Bùa dán từ năm 1943, phải mờ đều chứ?
Thầy Năm trầm ngâm:
- Không phải mờ vì thời gian. Mày nhìn kỹ đi, mép giấy bên phải còn nguyên, không rách, không mục, nhưng chữ thì mất. Đây là... là vía bùa bị mất. Bùa trấn yểm có hai phần: hình và vía. Hình còn mà vía mất, là bùa đã yếu đi một nửa.
Hậu rùng mình:
- Vía bùa mất đi đâu hả thầy?
- Khi phong ấn nứt, tà khí rò ra, nó ăn mòn vía bùa từ bên trong. Càng để lâu, vía càng mất nhiều. Tới khi vía mất hết, bùa chỉ còn là tờ giấy thường, không còn tác dụng gì. Lúc đó, oan hồn trong hũ sẽ thoát ra hoàn toàn.
Hậu nghe mà lạnh sống lưng. Anh hỏi tiếp:
- Vậy mình còn bao nhiêu thời gian?
Thầy nhìn lá bùa, ước chừng:
- Vía mất một nửa, tức là phong ấn yếu đi một nửa. Theo tốc độ này, tới cơn giông thứ ba, vía sẽ mất hết. Đó là hạn chót. Mày phải hàn phong ấn trước đó.
Hậu gật đầu, lòng nặng trĩu. Thời gian không còn nhiều. Anh bỗng muốn xem kỹ hơn, bèn đưa tay về phía miệng hũ. Nhưng vừa đưa tay tới gần, anh đã phải rụt lại ngay. Một luồng lạnh buốt từ miệng hũ phả ra, lạnh tới mức tay anh tê dại trong giây lát. Không chỉ lạnh, anh còn cảm thấy một luồng... oán hận, một cảm giác căm phẫn mãnh liệt phát ra từ trong hũ, như có ai đó đang gào thét trong đó.
Thầy Năm thấy vậy, vội kéo tay Hậu lại:
- Tao đã dặn không được chạm vào! Mày muốn chết hả? Oán khí trong hũ mạnh lắm, người thường chạm vào là bị nhiễm, nhẹ thì ốm đau, nặng thì... thì bị nó ám.
Hậu run rẩy, nhìn bàn tay mình. Tay anh vẫn còn tê, lạnh buốt tới tận khuỷu. Anh hỏi, giọng run:
- Thầy ơi, trong hũ... là bé Tý phải không? Con cảm thấy... con cảm thấy nó đang giận dữ lắm.
Thầy gật đầu, mặt buồn rười rượi:
- Đúng. Hơn tám mươi năm bị giam, ai mà không giận. Nó giận bá hộ Tòng, giận ông thầy Tàu, giận cả những người đã quên nó. Mà giờ, phong ấn nứt, nó bắt đầu cảm nhận được thế giới bên ngoài, oán khí càng mạnh. Mày phải cẩn thận, đừng để oán khí nhiễm vào người.
Thầy lấy trong giỏ ra cuộn dây chỉ đỏ, buộc một vòng quanh cổ tay Hậu:
- Dây chỉ đỏ này đã được trì chú, nó giúp mày tránh tà khí nhẹ. Đừng tháo ra.
Hậu đeo dây chỉ đỏ, cảm thấy yên tâm hơn một chút. Thầy tiếp tục quan sát cái hũ, rồi bỗng chỉ vào một chỗ trên miệng hũ:
- Mày nhìn đây. Vải điều bịt miệng hũ, chỗ này có vết rách nhỏ. Vết rách mới, mép vải còn tươi. Đây chính là chỗ phiến đá cạ vào khi cha mày bẩy lên. Vết rách này, tuy nhỏ, nhưng đủ để tà khí rò ra.
Hậu nhìn vết rách. Nhỏ thật, chỉ bằng đầu ngón tay. Nhưng chính vết rách nhỏ này đã gây ra cái chết của cha và anh anh, đã gây ra bao nhiêu bi kịch. Anh thì thầm:
- Chỉ một vết rách nhỏ vậy thôi mà...
Thầy thở dài:
- Trên đời này, nhiều đại họa bắt nguồn từ những vết nứt nhỏ. Đê vỡ cũng từ một lỗ kiến. Phong ấn vỡ cũng từ một vết rách. Mày nhớ kỹ, sau này khi hàn phong ấn, phải kiểm tra thật kỹ, không được để sót một khe hở nào.
Hai thầy trò đặt phiến đá về chỗ cũ, lấp bùn lại cẩn thận. Thầy rải một vòng muối gạo quanh phiến đá, cắm ba nén nhang, khấn nhỏ:
- Thổ thần thổ địa, con là Năm Thìn, xin phép động thổ xem xét, không có ý quấy rầy. Xin các ngài chứng giám.
Xong, hai người về nhà. Trên đường về, Hậu hỏi:
- Thầy ơi, nửa lá bùa còn chữ, mình đọc được không? Nó viết gì?
Thầy lắc đầu:
- Chữ Hán cổ, tao đọc không hết. Chỉ đọc được mấy chữ "Trấn Long Mạch" và vài chữ rời rạc. Muốn đọc hết, phải tìm người biết chữ Hán cổ. Mà... tao nghĩ không cần đọc hết đâu. Quan trọng là mày phải viết lại lá bùa mới, không phải đọc lá bùa cũ.
Hậu gật đầu. Anh nghĩ về lá bùa mờ một nửa, về vết rách nhỏ trên vải điều, về luồng lạnh buốt từ miệng hũ. Mọi thứ đều cho thấy phong ấn đang yếu dần, từng ngày, từng giờ. Anh phải nhanh lên. Anh phải học thuộc văn tế, phải tập viết bùa, phải chuẩn bị cho lễ trấn tạm vào sáng hai mươi mốt tháng mười. Thời gian không chờ anh.
Về tới nhà, Hậu thấy mẹ đang ngồi ở hiên, mắt nhìn xa xăm. Anh ngồi xuống cạnh mẹ, hỏi:
- Mẹ, mẹ có biết chữ Hán không?
Bà Sen ngạc nhiên:
- Sao con hỏi vậy? Mẹ có học hành gì đâu mà biết.
Hậu thất vọng. Anh cần người đọc nửa lá bùa, nhưng mẹ không biết chữ Hán. Anh nghĩ tới ông từ coi đám, ông già đó có vẻ hiểu biết, hay chữ. Anh quyết định chiều nay sẽ tới hỏi ông.
Chiều hôm đó, Hậu tới nhà ông từ. Ông đang ngồi uống trà, thấy Hậu tới thì mời vào. Hậu vào thẳng vấn đề:
- Ông ơi, ông có biết chữ Hán không?
Ông từ ngạc nhiên:
- Biết chút chút, hồi trẻ có học. Sao con hỏi?
Hậu lấy tờ giấy mà anh đã vẽ lại lá bùa hồi trước ra, đưa cho ông xem:
- Ông coi giúp con, mấy chữ ni nghĩa là gì?
Ông từ đeo kính vào, xem kỹ bức vẽ. Mặt ông biến sắc:
- "Trấn Long Mạch"? Con lấy cái ni ở đâu?
Hậu ấp úng:
- Con... con thấy người ta vẽ, con vẽ lại. Ông biết nghĩa không?
Ông từ nhìn Hậu chằm chằm, rồi thở dài:
- Trấn Long Mạch, nghĩa là trấn giữ long mạch, không cho mạch đất động đậy. Đây là bùa của thầy phong thủy, dùng để yểm đất. Con hỏi cái ni làm gì? Đừng có dính vào chuyện bùa chú, nguy hiểm lắm.
Hậu hỏi tiếp:
- Ông ơi, bùa trấn yểm mà bị rách, thì sao hả ông?
Ông từ tái mặt:
- Bùa rách là phong ấn vỡ, tà khí thoát ra, họa lớn. Con nghe ông, đừng có động vào bùa chú gì hết. Chuyện ni vượt quá sức người thường.
Hậu không hỏi thêm, sợ ông nghi ngờ. Anh cảm ơn ông rồi ra về. Trên đường về, anh nghĩ mãi. Đến ông từ, người hiểu biết nhất ấp sau thầy Năm, cũng sợ bùa chú. Chuyện này, đúng là vượt quá sức người thường. Nhưng anh không còn lựa chọn nào khác.
Tối hôm đó, Hậu lén tập bấm quyết trong buồng. Anh tập đi tập lại thế quyết "trấn" mà thầy dạy, tới khi ngón tay mỏi nhừ, bấm đúng không cần nhìn. Mẹ anh đi ngang qua, thấy con ngồi bấm tay kỳ lạ, bèn hỏi. Hậu nói dối là tập thể dục ngón tay. Bà nhìn con nghi ngờ, nhưng không hỏi thêm. Hậu thở phào, nhưng cũng biết mình phải cẩn thận hơn. Từ giờ, anh phải tập luyện lén lút, không để mẹ biết. Vì nếu mẹ biết, bà sẽ lo lắng, sẽ cấm cản, và mọi chuyện sẽ rối tung lên. Anh tắt đèn, nằm xuống, nhưng trong đầu vẫn nhẩm lại từng thế quyết, từng câu văn tế thầy dạy, cho tới khi thiếp đi lúc nào không hay. Trong giấc mơ, anh thấy mình đang đứng giữa một đàn tràng lớn, tay bấm quyết, miệng đọc văn tế, xung quanh là những bóng người mờ ảo đang cúi đầu lắng nghe. Anh giật mình tỉnh dậy, mồ hôi ướt đẫm. Ngoài kia, trời còn tối đen. Anh nhìn đồng hồ, mới ba giờ sáng. Anh thở dài, quay mặt vào tường, cố ngủ tiếp, nhưng hình ảnh đàn tràng trong mơ cứ ám ảnh anh mãi.
Chương khác
- Chương 16: Sáng mười tám tháng mười, Hậu tỉnh dậy trong căn nhà lá của Thầy Năm Thìn.
- Chương 17: Chiều mười tám tháng mười, Hậu quay lại nhà Thầy Năm.
- Chương 18: Tối mười tám tháng mười, Hậu lại tới nhà Thầy Năm.
- Chương 20: Trưa mười chín tháng mười, Hậu mang lưỡi cày gãy tới nhà Thầy Năm.
- Chương 21: Chiều mười chín tháng mười, Hậu học văn tế với Thầy Năm.
- Chương 22: Tối mười chín tháng mười, Hậu tới nhà Thầy Năm báo tin về câu ru.