Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 3: Nén Nhang Của Già Làng

Sáng mùng bốn, Thắng vừa pha xong ấm trà trong lán điều hành thì Bảo bước vào báo tin. - Ông già làng hôm qua lại lên. Lần này ông ấy xin gặp người phụ…

Nội dung chương

Sáng mùng bốn, Thắng vừa pha xong ấm trà trong lán điều hành thì Bảo bước vào báo tin.

- Ông già làng hôm qua lại lên. Lần này ông ấy xin gặp người phụ trách. Đang chờ ở cổng, có cả bà vợ đi cùng đứng ở dưới đường.

Thắng đặt ấm trà xuống, đội mũ, bước ra. Nắng sớm còn yếu, sương chưa tan hết ở mặt bằng phía dưới, nhưng trên đỉnh gò, máy xúc đã vào vị trí từ sáu giờ, khói diesel phả lên từng chùm mỏng.

Vi Văn Cừ đứng ngoài hàng rào, vẫn bộ áo chàm bạc màu, gậy trúc chống bên chân. Hôm nay ông không nhìn lên gò nữa. Ông nhìn thẳng vào Thắng khi anh mở cổng, cái nhìn của người đã quyết định sẽ nói một việc quan trọng và không định nói hai lần.

- Tôi là Vi Văn Cừ, già làng bản Nà Bó. Ông nói chậm rãi, tiếng Kinh rõ nhưng còn nặng âm Tày. - Tôi xin gặp cậu kỹ sư trưởng, người cho máy đào cái gò kia.

- Cháu là Thắng, kỹ sư trưởng ở đây. Mời bác vào lán uống nước, có gì bác cứ nói với cháu.

Ông Cừ gật đầu, bước theo Thắng vào lán. Bà vợ ông, một bà lão nhỏ người, tóc búi gọn, ở lại ngoài cổng với chiếc gùi rỗng trên lưng, không vào. Trong lán, Minh cũng vừa tới, đang xem lại bảng tiến độ treo trên tường. Thấy khách, Minh kéo ghế, rót nước, cười xòa rất đúng kiểu người quen tiếp xã giao.

- Bác Cừ phải không ạ? Nghe danh bác lâu rồi. Bản với công trường là hàng xóm, có gì bác cứ dạy bảo các cháu.

Ông Cừ ngồi xuống, đặt gậy ngang đùi, hai tay nắm lấy đầu gậy. Ông không uống nước. Ông nhìn quanh lán một lượt, nhìn bảng tiến độ, nhìn bản đồ tuyến đường dán trên vách, rồi mới mở lời.

- Cái gò các cậu đang đào, bản tôi gọi là Gò Cấm. Cấm từ đời ông cố tôi, truyền xuống đến giờ. Đất ấy không phải đất thường. Ngày xưa đánh nhau to ở ải này, người chết nằm lại ở đó nhiều lắm. Người bản đi qua gò thì đi vòng, không ai dám đào, không ai dám lấy một hòn đất về đắp nền nhà.

Minh cười nhẹ.

- Bác ơi, thời buổi này rồi. Đường quốc lộ mở qua là cho cả vùng đi lại làm ăn. Cháu nghe nói đất đai đền bù cho các hộ bị ảnh hưởng đã xong hết, giấy tờ đầy đủ. Còn chuyện ngày xưa, ở Chi Lăng này chỗ nào mà chẳng có người chết trận hả bác. Đào đâu cũng gặp thôi.

- Đền bù là chuyện đất ruộng, đất vườn. Ông Cừ nói, giọng vẫn đều đều. - Gò Cấm không thuộc hộ nào, vì không ai nhận phần đất ấy về mình cả. Các cậu đào đất ruộng thì cứ đào. Đào vào gò ấy, sâu xuống nữa, là động vào chỗ người ta nằm. Động vào thì có chuyện. Tôi già rồi, tôi chỉ lên nói một câu cho tròn phận già làng. Nghe hay không là ở các cậu.

Trong lán im đi một lúc. Tiếng máy xúc trên gò vọng xuống đều đều. Thắng ngồi đối diện ông già, nhìn đôi bàn tay gầy guộc nắm chặt đầu gậy. Anh không tin vào chuyện đất cấm, nhưng anh tin vào một thứ khác: một cộng đồng đã giữ một điều cấm kỵ suốt mấy trăm năm thì điều cấm kỵ ấy, dù gốc tích là gì, cũng là một sự thật xã hội mà người làm công trình phải tính đến. Anh đã từng thấy dự án chậm hàng tháng chỉ vì một ngôi mộ tổ nằm đúng tim đường mà không ai chịu di dời.

- Bác Cừ, cháu hỏi thật. Thắng nói. - Bản mình giữ lệ cấm đào gò, vậy có ai biết rõ dưới gò có gì không? Mộ, hay hài cốt, hay chỉ là lời truyền miệng?

Ông Cừ nhìn anh rất lâu.

- Người chết trận không mộ. Nằm chung với nhau, lâu rồi, không còn ai biết mặt biết tên. Chỉ biết là có người nằm. Đất có người nằm thì nặng, đào lên không yên đâu.

Minh đứng dậy, lấy trong tủ ra chai rượu trắng và hai cái chén nhỏ, đặt lên bàn.

- Thôi, bác cháu mình uống với nhau chén rượu cho ấm bụng đã. Chuyện lớn thì bàn sau. Công trường mới khởi công, bác lên chơi là quý rồi. Để hôm nào cháu xuống bản, thắp hương nhà bác, nói chuyện lâu hơn.

Ông Cừ nhìn chai rượu, khẽ lắc đầu. Ông thò tay vào túi áo, lấy ra một bọc vải nhỏ, mở ra. Bên trong là một nén nhang thơm còn nguyên giấy gói và một hộp diêm. Ông đặt cả hai thứ lên bàn, ngay ngắn, trước mặt Thắng, không phải trước mặt Minh.

- Rượu thì tôi không uống. Tôi để lại nén nhang này. Không phải để cúng cho các cậu sợ. Là để các cậu nhớ: đất này có người nằm, không có đường nào đi qua được đâu.

Ông nói xong thì đứng dậy, chống gậy, gật đầu chào rồi bước ra cửa. Không ai kịp giữ. Bà lão ngoài cổng thấy chồng ra thì lặng lẽ đi theo, hai bóng người già chậm rãi khuất xuống con đường đất về bản, giữa buổi sáng mà sương vẫn còn đọng trắng trên cỏ hai bên đường.

Trong lán, Minh nhìn nén nhang trên bàn, bật cười khẽ, cầm lên ngắm nghía như một vật lạ.

- Người già trên này thế đấy. Cậu cất đi đâu thì cất. Đừng để khách trên ban quản lý xuống thấy lại tưởng công trường mê tín.

Thắng cầm nén nhang lên. Nó nhẹ, thơm mùi trầm nhẹ quen thuộc của những nén nhang bản địa bán ở chợ huyện. Anh mở ngăn kéo bàn làm việc của mình, đặt nén nhang và hộp diêm vào trong, đóng lại. Anh không cúng, cũng không vứt. Anh chỉ nghĩ đơn giản rằng một vật người ta đã trịnh trọng mang lên tận nơi để trao, thì không nên vứt đi như rác.

Buổi trưa hôm đó, Thắng tranh thủ hỏi Bảo thêm về bản Nà Bó và ông Cừ. Bảo kể rằng nhà ông Cừ là một trong những nhà gốc của bản, giữ nhiều lệ cũ: lệ cúng rừng đầu năm, lệ không chặt cây ở đầu nguồn, và những chuyện về đất chiến trường mà người già kể cho con cháu nghe bên bếp lửa. Bảo nói thêm, giọng nửa đùa nửa thật, rằng hồi nhỏ cậu ta từng bị ông Cừ bắt gặp trèo lên Gò Cấm hái sim, bị phạt đứng khoanh tay ở sân đình bản đến mỏi chân, từ đó không dám bén mảng lên gò lần nào nữa.

- Nói vậy chứ em lớn lên cũng đi làm xa, chuyện ma quỷ em nghe thì nghe vậy thôi. Bảo nói. - Nhưng có một điều em chắc: ông Cừ không phải người nói chuyện để dọa ai bao giờ. Ông ấy nói có chuyện là trong bụng ông ấy tin thật có chuyện.

Chiều, công việc vẫn trôi theo lịch. Máy xúc bóc tiếp lớp mặt ở đỉnh gò, mở rộng mặt cắt thêm vài mét về phía khe núi. Không đào thấy thêm vật gì lạ ngoài đất đen và đá ong. Thắng kiểm tra cao độ, ký sổ, rồi về lán khi trời đã nhá nhem. Trước khi ăn cơm, anh mở ngăn kéo nhìn nén nhang một lần nữa. Mùi trầm thoang thoảng bốc lên giữa mùi giấy tờ và mùi dầu máy của căn lán tôn.

Anh đóng ngăn kéo lại, tự nói với mình rằng ngày mai anh sẽ xuống bản một chuyến, không phải vì sợ, mà vì phép lịch sự với già làng và vì công tác dân vận mà bất cứ công trường nào cũng phải làm. Anh chưa biết rằng chuyến đi ấy sẽ phải đợi đến hơn một tuần sau, khi mọi chuyện đã đi xa hơn tất cả những gì anh dự tính trong buổi sáng mùng bốn này.

Tối muộn, Minh ghé qua lán điều hành lấy hồ sơ, thấy Thắng còn ngồi lại với sổ sách thì dừng ở cửa nói thêm mấy câu. Minh bảo ban quản lý dự án vừa gọi điện nhắc về mốc hoàn thành phần đào đắp đoạn qua gò, rằng nhà thầu nào trong liên danh cũng đang nhìn vào đoạn này vì nó là nút thắt của toàn tuyến.

- Cậu đừng để mấy chuyện làng bản làm mềm tay. Minh nói. - Tôi biết cậu cẩn thận, nhưng cẩn thận khác với chùn. Ông già nói gì là việc của ông già. Giấy phép, quy hoạch, đền bù, mình đủ hết. Cứ theo bản vẽ mà làm.

Thắng đáp rằng anh vẫn đang làm theo bản vẽ, và tiến độ ngày hôm nay còn vượt kế hoạch một ít. Minh gật đầu hài lòng rồi đi. Nhưng khi còn lại một mình, Thắng mở bản đồ tuyến ra xem lần nữa. Đường cong màu xanh chạy qua giữa gò đất được vẽ bằng nét liền, dứt khoát, không hề có một dấu hiệu nào cho thấy dưới nét bút ấy là điều gì. Anh bỗng nghĩ đến câu nói của ông Cừ lúc sáng: không có đường nào đi qua được đâu. Trong nghề của anh, câu nói như thế thường chỉ có một nghĩa là địa chất xấu, là đá ngầm, là mạch nước. Anh đã gặp những con đường phải vòng tránh vì hang các-tơ, vì nền đất yếu, vì một khu mộ cổ được công nhận di tích. Mỗi lần vòng tránh là một lần đội chi phí và thời gian. Nhưng mỗi lần như thế đều bắt đầu bằng bằng chứng đo được, chụp được, cân được.

Còn ở đây, bằng chứng duy nhất anh có là một mảnh gươm có chữ, mấy mẩu xương vụn chưa ai giám định, và một nén nhang trong ngăn kéo.

Anh xếp bản đồ lại. Ngày mai, anh tự hứa, sẽ gọi lại cho người quen ở Sở Văn hóa, thúc chuyện cử người xuống xem mảnh gươm. Dù kết quả thế nào, có một giấy giám định trong hồ sơ vẫn tốt hơn không có gì. Nghĩ được đến đó, anh thấy yên tâm hơn một chút, tắt đèn lán và đi về phòng nghỉ.

Ngoài sân lán, công nhân đang rửa chân tay, cười nói ồn ào. Trên gò, tấm bạt xanh che mảnh gươm nằm im trong bóng tối đang xuống, và ở một nơi nào đó dưới lớp đất đen kia, có những người đã nằm yên lặng rất lâu, lâu hơn mọi con đường.

Chương khác

Xem thêm