Dưới Đáy Hố Ga - Chương 37: "Mâm cúng cháy đen"
Tối ngày 10, trong căn nhà phố bốn tầng ốp đá hoa cương, ông Hoàng Hải ngồi bệt giữa phòng khách, trước một mâm cúng bày ê hề. Trên mâm là đủ thứ: gà…
Nội dung chương
Tối ngày 10, trong căn nhà phố bốn tầng ốp đá hoa cương, ông Hoàng Hải ngồi bệt giữa phòng khách, trước một mâm cúng bày ê hề.
Trên mâm là đủ thứ: gà luộc nguyên con, xôi gấc đỏ au, chè đậu trắng, trái cây xếp thành tháp, ba chén rượu trắng, và một núi vàng mã cao ngất gồm tiền âm phủ, quần áo giấy, nhà lầu giấy, xe hơi giấy. Hai cây đèn cầy to bằng cổ tay cháy phừng phừng, sáp chảy tràn ra mặt mâm. Mùi nhang trầm quyện với mùi thức ăn nguội tạo thành một thứ mùi ngai ngái, khó chịu.
Ông Hải mặc bộ đồ bộ ở nhà đã nhăn nhúm, miệng lẩm nhẩm khấn vái không thành tiếng. Tay ông ta run run cầm ba nén nhang, cắm vào bát hương rồi lại rút ra cắm lại, như không biết mình đang làm gì. Trước mặt ông, chân phải quấn băng gạc đã ướt đẫm, lớp gạc ngoài cùng ngả màu vàng đục, rỉ mủ ra ướt cả một khoảng sàn gạch. Mùi tanh nồng bốc lên từ vết thương, tanh y hệt mùi bùn cống rãnh sau mưa, đến mức mùi nhang trầm cũng không át nổi.
Bà Xuyến đứng nép ở cầu thang, tay ôm bé Bống đang gà gật. Bà nhìn chồng, nhìn mâm cúng, rồi nhìn xuống chân ông, ánh mắt đầy sợ hãi. Mấy hôm nay bà đã quen với mùi tanh ấy, quen đến mức mỗi lần ngửi thấy là dạ dày bà lại quặn lên.
- Ông ơi, hay là mình đi bệnh viện đi ông. Chân ông...
- Im! Ông Hải quát khẽ, không quay đầu lại. Đi bệnh viện làm gì. Bác sĩ có chữa được cái này đâu.
Ông ta nói rồi lại cúi xuống khấn, giọng vỡ ra:
- Các vị... các vị ơi... tôi biết lỗi rồi... tôi cúng các vị đầy đủ... các vị tha cho tôi... tha cho cái nhà này...
Tiền vàng mã được ông ta ném từng xấp vào chậu đồng. Lửa bùng lên, khói đen cuộn lên trần nhà, bám vào quạt trần thành những vệt đen nhẻm. Ông Hải cứ thế đốt, xấp này nối xấp khác, như thể càng nhiều tro thì càng nhiều sự tha thứ.
Bé Bống dụi mắt, ngẩng lên nhìn mẹ, hỏi nhỏ:
- Mẹ ơi, ba cúng ai vậy mẹ?
Bà Xuyến siết chặt con, không trả lời. Bà biết chồng mình đang cúng ai. Mười lăm năm nay ông ta chưa bao giờ cúng bái đàng hoàng một lần, miệng lúc nào cũng chê mê tín dị đoan. Vậy mà mấy đêm nay, đêm nào ông ta cũng bày mâm, cũng khấn, cũng đốt vàng mã đến khuya. Cái miệng chê bai ngày nào giờ lẩm nhẩm những lời van xin thảm hại nhất.
Đồng hồ treo tường chỉ hai giờ kém mười lăm. Ông Hải ngẩng lên nhìn đồng hồ, mặt càng tái đi. Ông ta biết. Cả nhà này đều biết. Cứ đúng 02:00 là nó đến.
02:00.
Tiếng ọc ọc đầu tiên vang lên từ nhà vệ sinh tầng một, trầm và sâu như tiếng một con thú khổng lồ đang trở mình dưới lòng đất. Rồi bồn cầu phun lên một cột nước đen đặc, cao gần nửa mét, tạt tung tóe ra sàn gạch. Nước đen sền sệt, lẫn những sợi tóc dài quấn vào nhau, mùi tanh xộc lên nồng nặc.
Tiếp đó là vòi sen trong phòng tắm. Không ai mở, nhưng nó tự chảy. Dòng nước rỉ ra không trong mà đỏ nhờn, sền sệt như máu pha bùn, bốc mùi tanh của bùn mộ ngâm lâu ngày. Dòng nước đỏ chảy dọc theo tường gạch men, để lại những vệt dài như ai đó vừa quệt tay đầy máu lên đó.
Ông Hải bật dậy, chân đau làm ông ta loạng choạng suýt ngã. Ông ta lao đến mâm cúng, vơ cả nắm vàng mã ném vào chậu đồng, miệng gào lên:
- Đốt! Đốt hết cho tao! Tao cúng! Tao cúng mà!
Lửa bùng lên dữ dội, liếm cả ra ngoài chậu đồng, cháy xém cả mép mâm gỗ. Khói đen cuộn mù mịt khắp phòng khách. Bà Xuyến ho sặc sụa, ôm Bống chạy vội lên cầu thang. Bé Bống quay đầu nhìn lại, mắt mở to nhìn dòng nước đỏ đang chảy trên tường, miệng mấp máy như muốn nói gì đó rồi lại thôi.
- Tha cho tôi! Tôi lạy các người! Ông Hải quỳ sụp xuống trước mâm cúng, dập đầu lia lịa. Tôi biết tôi sai rồi! Mười lăm năm trước tôi sai rồi! Đừng hành tôi nữa!
Tiếng ọc ọc từ bồn cầu càng lúc càng to, nước đen trào ra lênh láng khắp sàn nhà vệ sinh, tràn ra hành lang. Mùi tanh nồng đến mức át cả mùi khói nhang. Ông Hải vẫn quỳ đó, tay vơ vàng mã đốt liên tục, lửa cháy xém cả tay áo ông ta mà ông ta không hay.
Rồi, đột ngột như khi nó đến, mọi thứ im bặt.
Bồn cầu ngừng trào. Vòi sen ngừng chảy. Chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt tong tong và mùi tanh đặc quánh lơ lửng trong không khí. Ông Hải ngồi bệt xuống sàn, thở hổn hển, mặt đẫm mồ hôi. Trước mặt ông, mâm cúng cháy xém một góc, tro vàng mã bay lả tả khắp phòng như một trận tuyết đen.
Ông ta nhìn đống tro, rồi nhìn vũng nước đen trên sàn, rồi nhìn vết gạc ướt đẫm mủ ở chân mình. Mùi tanh vẫn đó, nồng nặc, không suy suyển. Vàng mã đã cháy thành tro, nhưng mùi tanh dưới gạch thì không cháy theo.
Trên cầu thang, bà Xuyến ôm chặt bé Bống, cả người run lên. Bà đã chứng kiến cảnh này ba đêm liền, và đêm nào cũng như đêm nào: đúng 02:00, nước đen trào lên, chồng bà quỳ gối van xin, rồi mọi thứ im bặt như chưa từng xảy ra. Bà từng nghĩ đó là chuyện ống nước, chuyện áp suất, những thứ mà cậu Trí vẫn giải thích bằng giọng điềm tĩnh. Nhưng đêm nay, khi nghe chồng mình gào lên câu "mười lăm năm trước tôi sai rồi", bà chợt hiểu ra điều mà bấy lâu bà không dám nghĩ tới: chồng bà biết. Ông ta biết từ đầu. Và ông ta đang trả giá.
Bé Bống ngọ nguậy trong vòng tay mẹ, ghé mắt nhìn xuống phòng khách mù mịt khói. Con bé bỗng nghiêng đầu, như đang lắng nghe tiếng gì đó lẫn trong màn khói. Rồi nó thì thầm, giọng trong veo giữa màn khói đặc:
- Mẹ ơi, chị bảo chị không cần vàng mã đâu. Chị bảo chị lạnh.
Bà Xuyến cứng đờ người. Bà cúi xuống nhìn con, môi run run:
- Con... con nói gì?
- Chị nói dưới gạch lạnh lắm mẹ. Nước đen dâng lên rồi, lạnh lắm. Bé Bống nói, mắt vẫn nhìn về phía nhà vệ sinh tầng một, nơi nước đen đang rút dần xuống bồn cầu với tiếng ọc ọc cuối cùng.
Bà Xuyến ôm con chặt hơn, nước mắt trào ra. Bà không dám hỏi thêm. Bà sợ câu trả lời.
Dưới phòng khách, ông Hải vẫn quỳ đó, hai tay buông thõng. Trong cơn hoảng loạn vừa qua, đầu óc ông ta chợt quay ngược về mười lăm năm trước, về cái đêm máy ủi gầm rú trên bãi tha ma. Ông ta nhớ tiếng xích sắt nghiến trên đất, nhớ ánh đèn pha quét qua những ngôi mộ đất lúp xúp, nhớ lão phu đào huyệt già van xin ông ta dừng lại một ngày để quy tập hài cốt. Ông ta đã gạt đi. Tiến độ đang dí sau lưng, tiền phạt chậm tiến độ tính bằng chục tỷ. Một ngôi mộ đất vô danh thì có nghĩa lý gì so với chục tỷ.
Ông ta vẫn nhớ như in giây phút lưỡi ủi đè xuống, đất đá tung lên, và trong đống đất đó có một mảnh vải nhỏ màu hồng, có một chiếc lắc bạc văng ra lăn lông lốc. Ông ta đã nhặt nó lên, định vứt đi, nhưng rồi lại nhét vào túi quần. Không hiểu sao. Có lẽ vì nó sáng. Có lẽ vì lòng tham của một thằng thầu mới phất luôn thấy tiếc của, dù chỉ là một món đồ bạc trẻ con.
Mười lăm năm. Ông ta đã xây nhà đè lên đó, đã sống phây phây trên đó, đã quên bẵng đi. Cho đến khi thằng thợ thông cống kia kéo búi tóc lên khỏi ống, cho đến khi chiếc lắc bạc lại xuất hiện trong khay dụng cụ của nó, sáng lên dưới ánh đèn như một con mắt đang nhìn ông ta.
Ông Hải rùng mình, ôm lấy chân phải đang rỉ mủ. Cơn đau nhói lên từng đợt, lan từ bàn chân lên đến cổ chân. Ông ta biết, dù không dám thừa nhận, rằng vết lở loét này không phải nhiễm trùng thông thường. Thuốc nào cũng không ăn thua. Nó đang ăn mòn ông ta, từng chút một, từ dưới lên trên, giống như cách nước đen đang ăn mòn nền nhà này từ dưới lên trên.
Cùng lúc đó, ở phòng trọ của mình, Trí đang ngồi trước cuốn sổ tay, điện thoại áp vào tai. Đầu dây bên kia, giọng bà Xuyến run rẩy:
- Cậu Trí... cậu nghe thấy không... nhà tôi...
- Tôi nghe rồi, chị. Trí nói, giọng trầm và dứt khoát như đang ra một lệnh kỹ thuật. Chị nghe tôi nói đây. Ngày mai, chị đưa bé Bống đi. Càng xa nhà càng tốt. Về nhà ngoại, ở yên đó, đừng quay lại cho đến khi tôi gọi.
- Nhưng mà ông nhà tôi...
- Chị không cần nói với ổng. Chị cứ đưa con đi. Đây không phải chuyện cúng bái nữa rồi, chị Xuyến à. Đêm 12 mưa to nhất, tôi sẽ ở trong nhà đó. Chị và cháu phải ở ngoài.
Đầu dây im lặng một lúc lâu, chỉ còn tiếng thở dồn dập. Rồi bà Xuyến nói, giọng như người chết đuối vớ được cọc:
- Tôi nghe cậu. Sáng mai tôi đưa con Bống đi.
Trí cúp máy, nhìn ra cửa sổ. Mưa vẫn rơi. Anh mở sổ tay, gạch một dòng dưới mục liên lạc trong phương án của mình: Bống và chị Xuyến sẽ rời nhà sáng ngày 11. Một biến số ít đi. Trong một phương trình đầy biến số không đo được, đó là điều duy nhất anh kiểm soát được lúc này.
Anh đứng dậy, đi ra hiên, để mặc mưa phùn tạt vào mặt. Phía xa, ánh đèn đường Mã Lò nhòe đi trong màn mưa. Dưới lòng đường đó, dòng sông đen đang dâng lên từng giờ. Và trong căn nhà phố bốn tầng kia, một người đàn ông đang quỳ giữa đống tro vàng mã, van xin sự tha thứ từ những thứ mà tiền giấy không mua nổi.
Vàng mã cháy thành tro, nhưng mùi tanh dưới gạch vẫn không cháy theo.