HỒ TINH DƯỚI ĐÁY HỒ TÂY - Chương 15: Đầm Xác Cáo
Ngày 21 tháng 11. Đỗ Trọng Nghĩa lái xe tới phòng làm việc của Tiến sĩ Trịnh Ngọc Lan với một tập ảnh in màu trong cặp và kết quả giám định mẫu X-01 đã…
Nội dung chương
Ngày 21 tháng 11. Đỗ Trọng Nghĩa lái xe tới phòng làm việc của Tiến sĩ Trịnh Ngọc Lan với một tập ảnh in màu trong cặp và kết quả giám định mẫu X-01 đã được anh lược bỏ tọa độ tuyệt mật của vùng K9. Anh đã hẹn trước qua điện thoại, nói lý do một cách chừng mực: đội khảo sát của anh gặp một phát hiện khảo cổ dưới đáy Hồ Tây, cần tham vấn người nghiên cứu văn hóa dân gian về các ghi chép cổ liên quan tới vùng hồ này.
Phòng làm việc của bà Lan nằm ở tầng hai của một viện nghiên cứu cũ, cửa sổ nhìn ra sân trong có cây bàng đang rụng lá. Bà năm mươi tám tuổi, tóc búi gọn, nói chậm và rõ, có thói quen nghe hết câu hỏi rồi mới trả lời. Trên bàn của bà, sách xếp thành từng chồng theo chủ đề, nhiều cuốn đã ố vàng, kẹp đầy những mẩu giấy ghi chú viết tay.
Nghĩa trình bày theo đúng trình tự anh đã chuẩn bị. Một cấu trúc hang đá dưới đáy hồ ngoài khơi bán đảo Quảng An. Trong hang có một gò xương thú và sọ người cổ đại với số lượng lớn, tích lũy qua nhiều lớp niên đại, cổ nhất vài ngàn năm, trẻ nhất cũng vài trăm năm. Một mẫu xương thú họ chó có kích thước vượt xa mọi loài hiện sinh trong khu vực. Anh đặt các tấm ảnh lên bàn: toàn cảnh gò xương qua ống kính ROV, vòng xương quanh hố trống ở trung tâm, cận cảnh hộp sọ cổ bị cắn vỡ ở đỉnh, và ảnh mẫu X-01 bên cạnh thước đo.
Bà Lan xem ảnh rất lâu. Bà xem từng tấm một, có tấm bà cầm lên gần đèn bàn để nhìn rõ hơn. Khi tới tấm chụp hộp sọ bị cắn vỡ, bà dừng lại lâu nhất.
- Anh Nghĩa, anh có biết mình đang cho tôi xem cái gì không? - Bà hỏi.
- Tôi đang muốn nghe bà nói điều đó. Tôi không muốn tự gợi ý.
Bà gật đầu, đặt tấm ảnh xuống, đứng dậy đi tới tủ sách ở góc phòng. Bà rút ra một cuốn sách bìa đã sờn, mở tới một trang có đánh dấu sẵn, rồi đặt cuốn sách xuống trước mặt Nghĩa.
- Lĩnh Nam Chích Quái. - Bà nói. - Một trong những tập truyện cổ nhất của người Việt còn lưu lại. Trong đó có một tích mà sinh viên ngành tôi ai cũng phải đọc. Tích về con Hồ Tinh ở vùng Long Biên xưa.
Nghĩa ngồi thẳng dậy. Bà Lan bắt đầu kể, không đọc thuộc lòng một cách máy móc, mà kể như một người đã sống với câu chuyện này nhiều năm.
Theo tích cổ, thời thượng cổ, ở vùng đất phía tây của thành Long Biên xưa có một con cáo sống lâu năm thành tinh, cáo chín đuôi, thân hình to lớn khác thường. Nó không phải thứ hồ ly biến thành người đẹp đi quyến rũ ai như trong những truyện đời sau mà người ta hay thêm thắt. Trong tích gốc, nó là một con mãnh thú. Nó có hang sâu trong núi đá và vùng đầm lầy ven nước. Ban đêm nó ra khỏi hang, bắt người và thú mang về. Trai gái trong vùng bị nó bắt đi rất nhiều. Người ta tìm thấy xương của nạn nhân chất đầy trong hang của nó.
Nghĩa nhìn xuống tấm ảnh chụp gò xương trên bàn. Hàng ngàn bộ xương quanh một hố trống. Hà đã nói: đây là bàn ăn.
- Rồi chuyện gì xảy ra với nó? - Anh hỏi.
- Dân trong vùng cầu cứu. - Bà Lan nói. - Tích kể rằng Lạc Long Quân đã tới. Ngài xem địa thế, rồi dâng nước sông Hồng lên, dồn con Hồ Tinh vào hang, đánh chìm hang của nó suốt ba ngày ba đêm. Con cáo chín đuôi chết chìm trong chính sào huyệt của mình. Hang sụp xuống thành một cái đầm lớn. Người đời sau gọi cái đầm ấy là Đầm Xác Cáo.
Bà ngừng lại, nhìn Nghĩa.
- Cái đầm ấy, theo hầu hết các nhà nghiên cứu đối chiếu địa danh cổ, chính là Hồ Tây ngày nay.
Trong phòng làm việc yên tĩnh, tiếng lá bàng rơi ngoài sân nghe rõ từng tiếng một chạm xuống nền gạch. Nghĩa cúi xuống nhìn lại tập ảnh của mình. Một hang đá dưới đáy Hồ Tây. Một gò xương tích lũy hàng ngàn năm. Một loài thú họ chó khổng lồ không có trong bất kỳ phân loại hiện sinh nào. Và một cuốn sách cổ viết từ nhiều thế kỷ trước mô tả đúng một con thú như vậy, có một cái hang đầy xương như vậy, chết chìm trong một cái đầm mà ngày nay người Hà Nội gọi là Hồ Tây.
- Bà Lan, tôi phải hỏi thẳng một câu. - Nghĩa nói. - Trong nghề của bà, người ta coi tích này ở mức nào? Là truyện kể hoàn toàn tưởng tượng, hay là một ký ức có hạt nhân thật đã được khoác áo thần thoại?
Bà Lan mỉm cười, nhưng ánh mắt bà nghiêm túc.
- Cả hai, và điều đó không mâu thuẫn. Người xưa không có cách ghi lại một hiện tượng bằng số liệu như các anh bây giờ. Họ ghi lại bằng câu chuyện. Một con thú lớn ăn thịt người sống quanh vùng đầm hồ này trong một thời gian dài, với người xưa, chỉ có thể được kể lại như một con cáo thành tinh. Một trận lụt lớn sông Hồng làm sụp một vùng địa hình ven nước, với người xưa, là Lạc Long Quân dâng nước diệt quái. Hạt nhân của câu chuyện thường là thật. Cái áo khoác lên nó mới là phần của trí tưởng tượng tập thể qua nhiều đời kể lại.
- Vậy chi tiết hang đầy xương thì sao?
- Là chi tiết mà tôi luôn thấy đáng chú ý nhất trong tích này. - Bà nói. - Vì nó không phục vụ cho phần thần thoại. Nó không làm Lạc Long Quân oai phong hơn. Nó chỉ là một chi tiết về nơi ở của con thú. Những chi tiết như vậy, trong kinh nghiệm đọc thư tịch của tôi, thường là phần được giữ lại từ ký ức thật lâu nhất. Người ta quên nhiều thứ, nhưng người ta nhớ rất lâu nơi con thú mang người bị bắt về.
Nghĩa im lặng một hồi lâu. Anh nghĩ tới vòng xương quanh hố trung tâm, nghĩ tới lời Hà về bàn ăn, nghĩ tới vết cắn trên đỉnh hộp sọ cổ. Anh cũng nghĩ tới một điều khác, điều mà anh chưa nhắc tới trong buổi làm việc này và đang cân nhắc xem có nên nhắc hay không: tiếng cười của một người phụ nữ ghi được qua hydrophone lúc 23 giờ 47 phút đêm 15 tháng 11. Ngay trên vùng nước của cái hang này.
Anh quyết định chưa nhắc. Không phải vì không tin bà Lan. Mà vì anh chưa có cách nào đặt hiện tượng đó lên bàn mà không làm nó trở thành một câu chuyện khác hẳn câu chuyện khoa học mà anh đang cố giữ. Anh cần tuyến lịch sử này đứng vững bằng xương cốt và thư tịch trước đã.
- Tôi cần một việc, thưa bà. - Nghĩa nói. - Tôi muốn xin bản sao các đoạn thư tịch mô tả địa thế của sào huyệt trong tích, và các bản đồ cổ của vùng Hồ Tây mà viện còn lưu. Đội của tôi sẽ đối chiếu vị trí được mô tả trong sách với vị trí hang mà chúng tôi đã xác định bằng sonar. Việc đối chiếu là của chúng tôi. Phần thư tịch, tôi cần nguồn của người có chuyên môn.
- Tôi sẽ chuẩn bị cho anh. - Bà Lan nói. - Nhưng anh Nghĩa, tôi cũng cần hỏi anh một câu, với tư cách cá nhân, không phải tư cách nhà nghiên cứu.
- Bà cứ hỏi.
- Anh tìm tới tôi vì anh đã tự mình đi tới kết luận nào rồi, đúng không? Người làm kỹ thuật như anh không mang ảnh một gò xương tới gặp nhà nghiên cứu truyện cổ nếu trong đầu anh chưa có sẵn một giả thuyết.
Nghĩa nhìn bà. Người phụ nữ này đã đọc anh rõ như đọc một trang sách.
- Tôi có một giả thuyết làm việc. - Anh thừa nhận. - Nhưng tôi chưa kết luận. Và tôi sẽ không kết luận cho tới khi đối chiếu xong vị trí.
Bà Lan gật đầu, thu lại các tấm ảnh, xếp ngay ngắn rồi trả cho anh. Trước khi Nghĩa đứng dậy ra về, bà nói câu cuối cùng của buổi làm việc, bằng giọng rất bình thản, như một lời nhận xét về thời tiết.
- Anh Nghĩa, truyền thuyết nói nó chết. Nhưng không ai nói nó chết hết.
Câu nói ấy đi theo Nghĩa suốt quãng đường lái xe về bến Quảng An. Nó chết. Nhưng không chết hết. Với một nhà nghiên cứu thư tịch, đó có thể chỉ là một cách nói về sức sống của một câu chuyện trong ký ức cộng đồng: con thú đã chết từ ngàn xưa, nhưng câu chuyện về nó chưa bao giờ chết trong dân gian vùng hồ này.
Nhưng Nghĩa không còn nghe những câu như vậy bằng tai của một người ngoài cuộc được nữa. Anh đã nghe tiếng cười trong đêm 15 tháng 11. Anh đã xem log của ca lặn ngày 7 tháng 11 với đoạn âm lạ dài bốn giây. Anh đã đứng trong khoang điều khiển nhìn một gò xương hiện lên trong vệt sáng của ROV.
Về tới tàu, anh ghi vào nhật ký công tác cá nhân nội dung buổi làm việc: tích Hồ Tinh trong Lĩnh Nam Chích Quái, Đầm Xác Cáo là Hồ Tây. Hang đầy xương trong tích khớp với hình ảnh thực tế, bà Lan đồng ý cung cấp thư tịch và bản đồ cổ để đối chiếu vị trí. Ở dòng cuối, anh ghi nguyên văn câu nói của bà, rồi gạch chân hai chữ cuối cùng.
Chết hết.
Bên ngoài khoang, sương chiều đang xuống trên mặt hồ. Nghĩa nhìn ra vùng nước tối dần phía bán đảo Quảng An và tự hỏi, với một sự tỉnh táo mà anh cố giữ cho thật lạnh: nếu phần còn lại của con thú ấy không phải là câu chuyện trong sách. Thì nó là cái gì, và nó còn lại được bao nhiêu sau mấy ngàn năm nằm dưới đáy nước?
Anh chưa có câu trả lời. Nhưng từ hôm nay, đội của anh đã có một cái tên cho thứ nằm trong hang, dù cái tên ấy đến từ một cuốn sách cổ chứ không phải từ một báo cáo khoa học. Và Nghĩa biết, một khi một thứ đã có tên, người ta không còn quay lại được trạng thái chưa từng biết tới nó nữa.
---