HỒ TINH DƯỚI ĐÁY HỒ TÂY - Chương 16: Vũng Cáo
Ngày 22 tháng 11, Lê Văn Thắng đưa Nghĩa về làng Quảng An. Anh đã hẹn trước với cụ Đào Văn Mùi từ chiều hôm trước, qua người cháu của cụ bán hàng ở bến.…
Nội dung chương
Ngày 22 tháng 11, Lê Văn Thắng đưa Nghĩa về làng Quảng An. Anh đã hẹn trước với cụ Đào Văn Mùi từ chiều hôm trước, qua người cháu của cụ bán hàng ở bến. Lý do Thắng đưa ra rất ngắn gọn, như mọi việc anh làm: đội khảo sát muốn hỏi chuyện người già trong làng về vùng nước mà họ đang làm việc.
Nhà cụ Mùi nằm sâu trong một ngõ nhỏ của làng, mái ngói đã rêu, sân lát gạch đỏ mòn ở giữa vì nhiều năm đi lại. Cụ bảy mươi chín tuổi, lưng đã còng, nhưng mắt còn tinh và tay còn chắc khi rót trà. Cụ sống bằng nghề chài lưới trên hồ từ năm mười mấy tuổi cho tới khi mắt không còn nhìn rõ phao trong sương mới nghỉ, và trong làng Quảng An, khi người ta cần hỏi chuyện mặt nước, người ta vẫn tìm tới cụ trước tiên.
- Cậu Thắng thì tôi biết mặt từ bé. - Cụ nói, đẩy chén trà về phía Nghĩa. - Còn cậu này là người cầm đầu đội tàu ngoài kia, phải không?
- Cháu là Đỗ Trọng Nghĩa, kỹ sư trưởng của đội khảo sát, thưa cụ. - Nghĩa đáp. - Tụi cháu đang khảo sát đáy hồ ngoài khơi làng mình để phục vụ dự án kè và cầu cảnh quan.
- Khảo sát chỗ nào của hồ?
Thắng nhìn Nghĩa. Nghĩa gật đầu rất nhẹ. Họ đã thống nhất trước khi tới: không nói tọa độ, không nói chuyện gò xương, chỉ hỏi về vùng nước sâu ngoài khơi mà dân làng vẫn tránh.
- Vùng nước sâu ngoài khơi bán đảo, thưa cụ. - Nghĩa nói. - Cách bờ một đoạn. Đội cháu đánh dấu trong hồ sơ là khu vực số chín.
Cụ Mùi im lặng một lúc lâu. Cụ nâng chén trà lên, uống một ngụm nhỏ, rồi đặt xuống đúng vị trí cũ trên mặt bàn gỗ đã bóng vì thời gian.
- Chỗ đó làng tôi có tên riêng. - Cụ nói. - Không phải số chín số mười gì đâu. Từ đời ông cố tôi, người đi hồ ở Quảng An đã gọi nó là Vũng Cáo.
Thắng ngồi thẳng dậy một chút. Cái tên ấy, anh đã nghe từ cha mình hồi còn nhỏ, trong những câu dặn dò rời rạc mỗi khi cha con anh ra hồ lúc trời còn tối. Cha anh chưa bao giờ giải thích vì sao lại gọi như vậy. Người sông nước có nhiều cái tên chỉ để nhớ đường tránh, không phải để kể lại.
- Vì sao gọi là Vũng Cáo, thưa cụ? - Nghĩa hỏi.
- Vì ngày xưa, ở vũng đó có cáo. - Cụ nói chậm rãi. - Không phải cáo thường đâu. Các cụ kể là một con cáo rất lớn, sống dưới nước và trong hang đá dưới đáy vũng. Nó bắt người và trâu bò của làng ven hồ. Sau này nó chết, chìm ở đó. Nhưng dân đi hồ thì vẫn tránh cái vũng ấy cho tới tận bây giờ. Thuyền chài đi qua đó ban ngày thì không sao. Đi ban đêm, nhất là đêm sương, thì người già trong làng dặn phải vòng ra xa.
Nghĩa và Thắng nhìn nhau. Những điều cụ Mùi vừa nói, bằng ngôn ngữ của một ngư dân già, khớp từng chi tiết với tích mà Tiến sĩ Trịnh Ngọc Lan đã trình bày hôm trước từ Lĩnh Nam Chích Quái: một con cáo lớn. Một cái hang dưới nước, con mồi là người và gia súc, và một cái chết chìm ở chính nơi đó. Hai con đường hoàn toàn khác nhau, một đường qua thư tịch của viện nghiên cứu, một đường qua chén trà trong nhà một ngư dân, cùng dẫn về một câu chuyện.
- Cụ có bao giờ tự mình gặp chuyện gì ở vũng đó không? - Thắng hỏi.
Cụ Mùi nhìn ra sân, nơi nắng trưa mỏng đang chiếu qua giàn mướp đã tàn lá.
- Một lần. Năm tôi hai mươi sáu tuổi. Tôi đi thả lưới đêm với anh rể tôi, sương xuống dày, hai anh em lạc hướng, chèo thế nào lại vào gần miệng vũng. Đêm đó, tôi nghe tiếng cười.
Không khí trong gian nhà nhỏ như đặc lại.
- Tiếng cười của đàn bà. - Cụ nói tiếp, giọng đều đều như đang kể chuyện một đêm đánh cá bình thường. - Khúc khích, từng đợt, vọng từ mặt nước lên. Không phải từ bờ. Bờ lúc đó ở xa lắm. Không phải từ thuyền nào khác, vì đêm đó cả vùng hồ chỉ có thuyền của hai anh em tôi. Anh rể tôi tái mặt, bịt miệng tôi lại, không cho tôi đáp một tiếng nào. Rồi ông ấy làm một việc mà về sau tôi mới hiểu là lệ của làng.
- Việc gì, thưa cụ? - Nghĩa hỏi.
- Ông ấy rút con dao phay vẫn dùng để chặt dây lưới, lật ngược lại, lấy sống dao và chuôi gỗ gõ thì không ăn thua. Ông ấy với tay lấy cái nồi đồng đựng nước uống trên thuyền, dùng muôi đồng gõ mạnh vào thành nồi, rồi gõ vào mạn thuyền qua thành nồi. Tiếng đồng vang lên trên mặt nước đêm đó to một cách lạ thường. Nó dội đi rất xa. Và tiếng cười tắt ngay sau tiếng đồng đầu tiên. Tắt hẳn. Không nhỏ dần. Tắt như có ai lấy tay bịt lại.
Thắng cảm thấy da sau gáy mình rần rần. Anh nghĩ ngay tới chiếc búa đồng Đông Sơn treo ở cửa khoang lái tàu khảo sát. Chiếc búa anh vớt được năm 2019 ở đáy sông Hồng gần cầu Long Biên, cùng một mảnh trống đồng vỡ. Chiếc búa mà các cụ trục vớt năm ấy bảo là đồ trấn sông, và anh giữ làm vật may mắn từ đó tới nay. Anh chưa bao giờ gõ nó vào mạn tàu trong một đêm sương. Anh cũng chưa bao giờ nghĩ rằng thói quen giữ nó lại có thể là một việc gì hơn một thói quen.
- Lệ ấy là thế này, các cậu nghe cho rõ. - Cụ Mùi nói, giơ một ngón tay lên. - Người đi đêm trên hồ mà nghe tiếng cười đàn bà trong sương thì tuyệt đối không đáp lại. Không gọi hỏi ai đó. Không nhìn xuống nước. Và phải lấy vật bằng đồng mà gõ mạnh vào mạn thuyền. Gõ cho tiếng đồng vang lên thật to. Tiếng đồng vang thì tiếng cười tan, thuyền mới qua được. Lệ này có từ đời ông cố của tôi, truyền xuống tới đời tôi. Cha của cậu Thắng đây cũng biết lệ ấy.
Thắng giật mình.
- Cha cháu có biết ạ?
- Cha cậu là người đi hồ cẩn thận nhất làng một thời. - Cụ nói. - Ông ấy dặn tôi trông chừng cậu khi cậu mới theo nghề lặn. Ông ấy bảo thằng Thắng nó lặn sâu, nó sẽ làm việc ở những chỗ người đi thuyền chỉ đi qua trên mặt. Những chỗ đó, lệ trên mặt nước chưa chắc đã đủ giữ nó.
Câu nói của cụ làm Thắng im lặng rất lâu. Anh nhớ cha mình, nhớ những câu dặn rời rạc hồi nhỏ mà anh tưởng chỉ là lời của người già cẩn thận quá mức: đi đêm trên nước nghe gì cũng không đáp, thấy gì cũng không nhìn xuống, trong người lúc nào cũng nên có một vật đồng. Hóa ra những câu dặn ấy không rời rạc. Chúng là một lệ hoàn chỉnh, truyền qua nhiều đời, và anh đã mang theo một nửa của nó suốt bảy năm qua dưới dạng một chiếc búa đồng treo ở cửa khoang lái mà anh tưởng chỉ là vật may mắn.
- Tụi cháu cảm ơn cụ. - Nghĩa nói. - Những điều cụ kể giúp đội cháu rất nhiều trong việc đánh giá an toàn cho người làm việc trên vùng nước đó.
- An toàn. - Cụ Mùi lặp lại từ ấy, rồi lắc đầu chậm rãi. - Các cậu làm nghề của các cậu, tôi không bàn. Tôi chỉ nói điều người già trong làng nói với nhau. Cái vũng đó yên lặng mấy chục năm nay rồi, từ khi tôi còn trẻ tới giờ. Làng cũng thay đổi, ít người đi hồ đêm hơn, nên cũng ít người nghe thấy gì hơn. Nhưng yên lặng không có nghĩa là không còn gì ở đó. Nó chỉ có nghĩa là chưa có ai xuống tận nơi mà đánh thức nó dậy.
Lời cụ nói làm Nghĩa phải nhìn xuống chén trà của mình.
Trước khi hai người ra về, cụ Mùi tiễn họ ra tới cổng ngõ. Cụ nắm lấy cánh tay Nghĩa một lúc, bàn tay già khô và nhẹ một cách bất ngờ.
- Cậu là người cầm lái đám trẻ dưới đó, phải không? - Cụ hỏi, mắt nhìn thẳng vào Nghĩa. - Người quyết định cho chúng nó xuống nước hay lên bờ, phải không?
- Dạ, cháu là người phụ trách của đội.
- Vậy cậu nghe tôi nói một câu này. - Cụ nói chậm rãi, từng chữ rõ ràng. - Nó sẽ gọi cậu sau cùng.
Nghĩa đứng yên giữa ngõ làng, dưới ánh nắng trưa mỏng của mùa đông. Thắng đứng cạnh anh cũng không nói được lời nào.
- Vì sao lại là cháu, thưa cụ?
- Vì người cầm đầu thì nó gọi sau cùng. - Cụ nói, như một điều hiển nhiên trong thế giới của những người đi hồ lâu năm. - Nó gọi những người xung quanh trước. Gọi từng người một. Người cuối cùng nó gọi là người mà tất cả những người kia nghe theo. Các cậu về đi. Và nhớ lời tôi: nghe tiếng cười thì gõ đồng. Đừng đáp. Đừng nhìn xuống nước.
Họ chào cụ, đi bộ ra khỏi ngõ. Trên đường về bến, Thắng im lặng một quãng dài rồi mới nói.
- Anh Nghĩa. Cái lệ gõ đồng của cụ Mùi, cha em từng dặn em một phần. Còn chiếc búa của em treo ở cửa khoang lái, nó bằng đồng thật, đồng cổ. Nếu có đêm nào trên tàu mà nghe thấy tiếng gì lạ, anh nhớ chỗ treo của nó.
Nghĩa gật đầu. Anh chưa nói gì về dự cảm của mình. Nhưng trong đầu anh, câu nói của cụ già bảy mươi chín tuổi đang nằm cạnh câu nói của vị tiến sĩ hôm trước. Và cả hai đều chỉ về cùng một hướng: thứ dưới đáy Vũng Cáo chưa chết hết, nó gọi từng người một, và người nó gọi sau cùng là người cầm lái của đội.
Người cầm lái đó là anh.
---