HỒ TINH DƯỚI ĐÁY HỒ TÂY - Chương 19: Bản đồ cổ

Ngày 25 tháng 11, Nguyễn Thu Hà nhận được gói tài liệu mà Tiến sĩ Trịnh Ngọc Lan đã hứa trong buổi làm việc ngày 21 tháng 11. Gói tài liệu được chuyển…

Nội dung chương

Ngày 25 tháng 11, Nguyễn Thu Hà nhận được gói tài liệu mà Tiến sĩ Trịnh Ngọc Lan đã hứa trong buổi làm việc ngày 21 tháng 11. Gói tài liệu được chuyển tới tàu khảo sát trong một phong bì lớn niêm phong, bên trong là các bản sao chụp chất lượng cao của bản đồ cổ vùng Hà Nội, các đoạn trích thư tịch mô tả địa thế trong tích Hồ Tinh. Và một thư tay ngắn của bà Lan dặn rằng các bản đồ cổ có sai số lớn về tỉ lệ, cần đối chiếu bằng mốc địa hình cố định chứ không thể áp trực tiếp tọa độ.

Hà trải các bản sao lên mặt bàn lớn trong khoang điều khiển, dùng bốn chặn giấy giữ phẳng các mép. Đây là phần việc cô làm tốt nhất và cũng thích nhất trong nghề của mình: đặt hai lớp thông tin cách nhau nhiều thế kỷ chồng lên nhau, và tìm xem chúng có nói cùng một điều hay không.

Bản đồ cổ đầu tiên là bản đồ vùng hồ phía tây bắc của thành cổ, vẽ theo lối ước lệ của người xưa: núi, sông, đầm và làng mạc được ký hiệu bằng hình vẽ nhỏ, khoảng cách mang tính tương đối nhiều hơn là đo đạc. Trên bản đồ ấy, vùng đầm lớn ở phía tây bắc được ghi bằng một tên mà Hà đã biết từ buổi trình bày của bà Lan: Đầm Xác Cáo.

Thư tịch đi kèm mô tả địa thế của sào huyệt Hồ Tinh bằng những câu văn cổ đã được bà Lan dịch ra tiếng hiện đại trong bản chú thích riêng. Hà đọc chậm từng dòng. Hang của con cáo chín đuôi nằm dưới chân một dãy gò đất thấp phía tây bắc của đầm, nơi nước sâu nhất của đầm dồn về một vùng trũng. Cửa hang mở ra về phía mặt trời lặn. Quanh hang là vùng nước mà thuyền bè thời đó không đi vào ban đêm. Mô tả còn nói rõ một chi tiết về mốc nhận diện trên bờ: từ cửa hang nhìn về phía bờ đông nam, thấy một cụm làng chài nằm ở đầu một doi đất nhô ra mặt đầm.

Doi đất nhô ra mặt đầm ở phía đông nam. Cụm làng chài ở đầu doi đất.

Hà đứng dậy, mở bản đồ sonar hiện tại của vùng K9 trên màn hình lớn. Bán đảo Quảng An nhô ra mặt Hồ Tây đúng ở phía đông nam so với vị trí miệng hang mà đội đã khóa tọa độ. Làng Quảng An nằm ở phần đầu của bán đảo. Vùng nước sâu nhất quanh khu vực dồn đúng về vùng trũng nơi có gò nhô và miệng hang. Cửa hang, theo góc quay của ROV hôm nội soi, mở ra về phía tây, chếch bắc một chút, tức là về phía mặt trời lặn trong những tháng cuối năm.

Từng mốc một đang khớp.

Cô ghi lại cả một chi tiết nhỏ trong thư tay của bà Lan: trong một số bản chép tay của tích cổ. Vùng nước quanh hang còn được dặn là nơi người đi đò phải tắt tiếng nói chuyện khi qua vào ban đêm, vì tiếng người trên mặt nước sẽ làm thứ ở dưới chú ý. Hà đọc dòng ấy hai lần. Nó giống một cách kỳ lạ với những gì đội đang trải qua: hiện tượng chỉ mạnh lên khi đội có mặt trên vùng nước, có thiết bị dưới nước, có người đang nghe.

Nhưng Hà là người làm dữ liệu. Khớp cảm tính không phải là kết luận. Cô bắt đầu công việc chồng lớp bản đồ một cách bài bản. Cô chọn ba mốc địa hình cố định không thay đổi qua nhiều thế kỷ mà cả bản đồ cổ và bản đồ hiện tại đều ghi nhận được: đường chảy chính của sông Hồng ở phía bắc. Một gò đất cao ở phía tây từng là chân núi trong mô tả cổ, và vị trí của cụm làng chài cổ ở đầu doi đất. Từ ba mốc đó, cô hiệu chỉnh tỉ lệ và góc xoay của bản đồ cổ, rồi chồng lớp bản đồ đã hiệu chỉnh lên bản đồ sonar hiện tại trong phần mềm.

Quá trình hiệu chỉnh mất gần ba giờ. Bản đồ cổ bị kéo giãn không đều theo các hướng khác nhau, một đặc điểm quen thuộc của bản đồ vẽ tay thời xưa. Hà phải hiệu chỉnh từng phần, ghi lại mức sai số sau mỗi lần hiệu chỉnh, và loại bỏ một bản đồ trong gói tài liệu vì mốc địa hình của nó không đủ tin cậy để đối chiếu.

Khi lớp chồng cuối cùng hiện lên trên màn hình, cô ngồi yên nhìn nó một lúc lâu trước khi gọi Nghĩa vào.

Trên màn hình, vị trí sào huyệt của Hồ Tinh được đánh dấu theo mô tả trong thư tịch và bản đồ cổ nằm trong một vòng tròn sai số có đường kính khoảng vài trăm mét. Và ở gần chính giữa vòng tròn sai số ấy là điểm tọa độ mà đội khảo sát đã khóa từ tuần trước: miệng hang tại vùng K9.

- Sai số của bản đồ cổ là rất lớn so với tiêu chuẩn hiện nay. - Hà trình bày khi cả đội đã tập trung trong khoang điều khiển vào buổi chiều. Thắng đứng ở cửa khoang. Bảo ngồi ở hàng ghế sau, từ sáng tới giờ cậu ta ít nói hẳn sau cuộc nói chuyện riêng với Nghĩa về ca lặn đêm 23 tháng 11. - Nhưng với ba mốc địa hình cố định, em đã thu hẹp được vùng vị trí mô tả trong sách xuống một vòng sai số. Miệng hang của chúng ta nằm trong vòng đó, gần tâm. Em nói rõ để mọi người không hiểu nhầm: đây không phải trùng khớp tọa độ chính xác tới từng mét. Đây là trùng khớp trong giới hạn sai số của chính bản đồ cổ. Với một tài liệu vẽ tay từ nhiều thế kỷ trước, mức trùng khớp như vậy là mức cao nhất có thể đạt được.

- Còn các mô tả địa thế bằng lời thì sao? - Nghĩa hỏi.

- Khớp cả bốn. - Hà mở trang ghi chú của mình. - Nước sâu nhất của đầm dồn về vùng trũng có hang: khớp với dữ liệu đo sâu của đội. Cửa hang mở về phía mặt trời lặn: khớp với góc quay ROV. Doi đất có làng chài ở phía đông nam của hang: khớp với bán đảo Quảng An và làng Quảng An. Vùng nước quanh hang là vùng thuyền bè xưa không vào ban đêm: khớp với tên gọi dân gian Vũng Cáo và lệ kiêng đi đêm mà cụ Mùi đã kể hôm 22 tháng 11.

Khoang điều khiển yên lặng. Trên màn hình, hai lớp bản đồ chồng lên nhau: một lớp là những nét vẽ tay của người xưa với hình con cáo nhỏ được vẽ ở mép đầm như một ký hiệu cảnh báo. Một lớp là những đường đồng mức sonar lạnh lùng của thế kỷ hai mươi mốt. Giữa hai lớp ấy, cách nhau nhiều trăm năm, là cùng một điểm.

Thắng là người lên tiếng trước.

- Vậy là sách viết đúng. - Anh nói. - Dân làng nói cũng đúng. Chỉ có bản đồ chính thức của dự án là không có cái hang này.

- Vì hồ sơ năm 2009 đã bị rút. - Hà nói. - Nếu hồ sơ đó còn, bản đồ của dự án đã có hang từ mười bảy năm trước.

Nghĩa đứng dậy. Anh nhìn màn hình một lúc nữa, rồi quay lại đối diện cả đội. Buổi họp kín chiều nay được anh triệu tập chính là để đi tới câu kết luận này, và anh nói nó thành lời một cách chậm rãi, như người đọc một biên bản.

- Từ hôm nay, giả thuyết làm việc chính thức của đội là như sau: hang tại vùng K9 chính là sào huyệt của Hồ Tinh trong tích Lĩnh Nam Chích Quái. Gò xương trong hang là tích lũy săn mồi của con thú đó trong quá khứ xa. Hiện tượng âm thanh mà đội ghi nhận được phát ra từ khu vực hang, trong bán kính khoảng ba trăm mét quanh miệng hang, mạnh nhất vào ban đêm và khi sương dày. Chúng ta chưa kết luận về bản chất của hiện tượng. Nhưng chúng ta sẽ làm việc theo giả thuyết này trong mọi quyết định an toàn từ nay về sau. Nội dung này được ghi vào biên bản nội bộ của đội, mọi người cùng ký.

- Nếu ban quản lý dự án hỏi thì sao, anh? - Bảo hỏi khẽ.

- Thì chúng ta báo cáo phần khảo cổ và địa chất như đã thống nhất. Còn giả thuyết làm việc về an toàn là việc nội bộ của đội khảo sát, thuộc thẩm quyền chuyên môn của tôi. - Nghĩa đáp. - Nhưng trong nội bộ này, từ nay không ai được nói câu chắc là nhiễu nữa. Chúng ta biết mình đang làm việc ở đâu rồi. Đây không còn là một đợt khảo sát bình thường. Đây là làm việc trên một sào huyệt cổ, với một hiện tượng đang học cách gọi tên từng người trong đội. Ai nghe thấy bất cứ điều gì bất thường, ở bất cứ đâu trên vùng nước này, báo cáo ngay trong ngày. Không ngoại lệ. Không có chuyện sợ mất việc ở đây nữa. Việc của tôi là giữ các anh em an toàn. Việc đó từ hôm nay đứng trước tiến độ.

Bảo cúi đầu. Hà thấy vai cậu ta thả lỏng xuống một chút, lần đầu tiên kể từ đêm 23 tháng 11.

Tối hôm đó, Hà lưu toàn bộ kết quả đối chiếu bản đồ vào hai nơi như thói quen mới của đội, và in một bản giấy kẹp vào hồ sơ K9. Cô in thêm một bản sao của lớp bản đồ chồng, khổ lớn, treo lên tường khoang điều khiển theo đề nghị của Nghĩa. Để bất kỳ ai trực đêm cũng nhìn thấy vị trí của mình trên hai lớp thời gian: tàu của đội đang neo đúng trên vùng nước mà người xưa đã vẽ một con cáo nhỏ ở mép đầm để cảnh báo con cháu đừng tới gần về đêm.

Người xưa đã làm phần việc của họ. Họ đã ghi lại. Họ đã vẽ bản đồ. Họ đã truyền miệng qua một ông già làng chài. Phần còn lại, Hà nghĩ khi tắt đèn khoang, là việc của những người đang sống trên mặt nước này. Những người đã biết rõ mình đang ở trên cái gì mà vẫn phải ở lại vì một mốc tiến độ được khoanh đỏ trên tường của một văn phòng trên bờ.

Cô đóng cửa khoang. Sương đêm đang xuống. Ngoài kia, trên mặt nước đen trong bán kính ba trăm mét quanh miệng hang, không có một âm thanh nào khác ngoài tiếng sóng rất nhỏ vỗ vào mạn tàu.

---

Chương khác

Xem thêm