Hũ Cổ Dưới Nhà Sàn - Chương 18: Luật Ba Món Trả

Bà Then Mẩy không cho Hòa mang hũ đến lán, chỉ bảo cô đem một tờ giấy có dấu mộc cũ. Khi Hòa thức dậy, sương mù từ thung lũng Nặm Lưng đã tràn lên đến…

Nội dung chương

Bà Then Mẩy không cho Hòa mang hũ đến lán, chỉ bảo cô đem một tờ giấy có dấu mộc cũ.

Khi Hòa thức dậy, sương mù từ thung lũng Nặm Lưng đã tràn lên đến tận bậc thềm nhà sàn. Cơn mưa lớn đêm qua tạnh hẳn từ lúc nửa đêm, để lại những vũng nước đục ngầu trên khoảng sân đất trước nhà. Cậu Khải đã được người nhà khênh đi trạm xá huyện từ lúc rạng sáng. Vết thương trên cánh tay ông ta không giống vết dao cắt thông thường, máu chảy ra đen đặc và có mùi hôi hăng hắc như nước ao tù. Hòa đứng ở đầu cầu thang, nhìn theo bóng chiếc xe máy chở cậu cô khuất dần sau rặng tre ngà mà lòng trĩu nặng.

Cô quay vào trong nhà, lục tìm trong chiếc hòm gỗ cũ của mẹ. Chiếc hòm này chứa những kỷ vật cuối cùng của bà Lưu Thuận Lan trước khi bà qua đời ở thành phố. Giữa những bộ quần áo chàm đã sờn rách và vài cuốn sổ tay ghi chép công thức thuốc nam, Hòa tìm thấy một tờ biên nhận đã ngả màu vàng ố. Tờ giấy mỏng, mép giấy bị gián nhấm nham nhở, nhưng ở góc dưới vẫn còn nhìn rõ một dấu mộc tròn màu đỏ. Dấu mộc đã nhòe nước, các chữ cái bên trong không còn đọc được nguyên vẹn, chỉ nhận ra vài nét chữ cũ và con số 1949 viết bằng mực đen tự chế.

Lán của bà Then Mẩy nằm biệt lập ở rìa bản, sát chân núi đá vôi. Đó là một gian lán nhỏ, dựng tạm bợ bằng những thân tre già và lợp lá cọ mục nát. Mái lá đã chuyển sang màu đen kịt vì mưa nắng và khói bếp. Khi Hòa đẩy nhẹ cánh cửa liếp làm bằng nứa đan, một tiếng "két" khô khốc vang lên.

- Bà Then, cháu đến rồi. - Hòa khẽ nói, cô khép hờ cánh cửa liếp để ngăn gió lạnh từ bên ngoài lùa vào.

Bà Then Mẩy không trả lời ngay. Bà chậm rãi đưa bàn tay gầy guộc, da bọc xương với những móng tay đen xỉn vì nhựa cây, chỉ vào chiếc đòn tre thấp đặt đối diện. Hòa ngồi xuống, cảm nhận được hơi lạnh từ mặt đất nện bốc lên qua đế giày.

Hòa rút tờ giấy biên nhận cũ từ túi áo ra, đặt lên chiếc bàn gỗ thấp đặt giữa hai người. Tiếp đó, cô mở điện thoại, tìm đến bức ảnh chụp bàn tay cậu Khải rồi chìa ra trước mặt bà Then.

- Cậu Khải bị thế này từ đêm qua. - Hòa nói, giọng cô cố giữ vẻ bình tĩnh của một phóng viên điều tra, nhưng sự lo lắng vẫn lộ rõ trong ánh mắt. - Những sợi tơ vàng trong hũ đã cắm vào tay cậu ấy. Cháu muốn biết làm thế nào để dừng việc này lại.

Bà Then Mẩy liếc nhìn màn hình điện thoại. Khi nhìn thấy những sợi tơ vàng bám chặt vào da thịt đỏ hỏn của Lưu Quang Khải, đôi lông mày thưa thớt của bà nhíu chặt lại. Bà không chạm vào chiếc điện thoại, chỉ dùng ngón tay gầy guộc gạt nhẹ nó sang một bên, như thể thứ ánh sáng xanh từ màn hình là một thứ tà khí. Ánh mắt bà chuyển sang tờ giấy biên nhận cũ có dấu mộc đỏ nhòe.

- Thằng Khải tự chuốc lấy họa. - Bà Then Mẩy lên tiếng, giọng nói khàn đặc và đứt quãng như tiếng gỗ mục cọ xát. - Nó tưởng máu của nhà họ Lưu có thể đè được cái hũ. Nó không biết rằng cái hũ này đã đói từ lâu rồi. Mỗi giọt máu của người nhà họ Lưu chỉ làm cho sợi tơ vàng bên trong mạnh thêm thôi.

Bà Then ngừng lại một chút, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa liếp, nơi sương mù vẫn đang giăng lối. Bà thở dài, giọng nói nhỏ dần:

- Cái hũ đã ngửi thấy máu nhà mày, An Hòa ạ. Mày có tránh mặt thì nó vẫn lần theo giấy tờ trong nhà. Thằng Khải muốn cướp hũ, nhưng nó không hiểu phần nợ đang mở. Bàn tay nó bị tơ vàng ăn vào thịt, nếu không tìm cách đóng hũ lại, cả cánh tay nó sẽ thối rữa rồi rụng đi.

Bà thọc bàn tay phải vào đống tro nguội trong bếp lò. Khi bà rút tay ra, trong lòng bàn tay là một nắm tro bếp màu xám tro. Bà Then bắt đầu rắc từ từ nắm tro đó lên bề mặt tờ giấy biên nhận.

Hòa chăm chú quan sát. Cô nhận thấy đống tro bếp này có điểm bất thường. Dù nhìn qua trông nó khô ráo và tơi xốp, nhưng ngay khi vừa chạm vào bề mặt tờ giấy, những hạt tro lập tức bết lại với nhau. Chúng dính dớp và chuyển dần sang một màu đen xỉn, trông giống như bùn đặc lấy từ dưới đáy suối Lưng Đen. Một mùi hăng hắc bốc lên từ chiếc nia, đó là mùi tro củi trộn lẫn với vị mặn chát của muối và một chút mùi tanh nhẹ của nước đọng lâu ngày.

Khi bà Then Mẩy rắc tro bếp lên tờ giấy, Hòa nhận thấy lớp tro không chỉ bết lại mà còn bắt đầu ăn mòn bề mặt tờ giấy. Những dòng chữ viết bằng mực tím cũ kỹ bắt đầu nổi lên rõ ràng hơn dưới lớp tro ẩm ướt, giống như những con giun đất đang ngoằn ngoèo bò trên mặt giấy. Dấu mộc đỏ nhòe nhoẹt cũng dần hiện rõ hình một con tằm đang cuộn tròn trong một chiếc lá dâu. Đây không phải là dấu mộc của chính quyền thời đó, mà là một dấu mộc tư nhân, hoặc của một tổ chức bí mật nào đó ở vùng biên giới này.

Bà Then Mẩy tiếp tục rút từ trong túi áo ra một cuộn chỉ khâu bằng sợi bông thô, màu trắng ngà. Bà đưa sợi chỉ lên miệng, dùng chiếc răng cửa đã lung lay cắn đứt một đoạn dài chừng ba gang tay. Bà bắt đầu buộc những nút thắt quanh mép của chiếc nia tre.

Đến nút buộc thứ ba, nằm ở góc nia gần sát với tờ giấy biên nhận nhất, bà Then dùng hai ngón tay siết mạnh. Ngay khi nút thắt vừa được định hình, phần chỉ trắng ở góc đó bỗng nhiên biến đổi. Màu trắng ngà biến mất, thay vào đó là một sắc vàng óng ánh, xỉn màu và có độ bóng nhẹ, trông giống hệt những sợi tơ vàng đã quấn quanh cổ tay cậu Khải đêm qua.

- Đất Nặm Lưng này không quên cái gì cả. - Bà Then nói, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào nút chỉ màu vàng ở mép nia. - Mày muốn đóng cái hũ đó lại, không phải cứ mang búa đến đập vỡ là xong. Cái hũ chỉ là cái vỏ ngoài thôi. Cái nợ bên trong mới là thứ trói buộc nhà họ Lưu và cả cái bản này từ bao nhiêu năm qua. Nếu mày đập vỡ hũ, tất cả những sợi tơ vàng bên trong sẽ thoát ra ngoài, và khi đó, cả dòng họ Lưu này sẽ không còn một ai sống sót.

Hòa xích lại gần chiếc bàn gỗ hơn, hai tay cô đan chặt vào nhau để tìm kiếm chút hơi ấm trong gian lán lạnh lẽo:

- Vậy cháu phải làm thế nào? Cậu Khải đã bị thương, những người liên quan đến tiền của nhà cháu đều gặp chuyện. Cháu không muốn có thêm ai phải chết nữa.

Bà Then Mẩy xoay xoay chiếc nia tre trên nền đất, ngón tay bà lướt nhẹ trên lớp tro bếp bết dính như bùn đen:

- Ở đời có vay thì có trả. Người ta vay tiền ngân hàng thì trả bằng tiền mặt, vay mạng người thì trả bằng mạng người. Nhưng cái hũ này nó vận hành theo luật khác. Muốn đóng nó lại, bắt buộc phải thực hiện đủ Luật Ba Món Trả.

- Ba món đó là gì hả bà? - Hòa sốt sắng hỏi, cô chăm chú nhìn vào khuôn mặt đầy nếp nhăn của bà Then.

- Món thứ nhất là giấy. Chính là những tờ biên nhận, những tờ giấy cam kết, những dòng chữ đã được viết ra khi người ta nhận lợi lộc từ hũ. Mày phải tìm lại hết tất cả những giấy tờ liên quan đến các giao kèo cũ của nhà họ Lưu. Một tờ cũng không được thiếu. Thiếu một tờ, cái hũ vẫn tính là giao kèo chưa hủy, nó vẫn sẽ tiếp tục đòi nợ.

- Món thứ hai là của. - Bà Then tiếp tục, giọng bà trầm xuống, nghe như tiếng gió rít qua khe cửa. - Của cải đã hưởng từ hũ phải được trả lại đúng chỗ của nó. Nhà họ Lưu giàu lên từ năm 1949, tiền bạc đó đã phân tán đi khắp nơi, nuôi sống bao nhiêu thế hệ trong nhà. Mày phải tìm ra những phần của cải đã được chia chác đó, quy đổi nó ra và trả lại cho đất, hoặc trả cho đúng người đã mất đi phần của họ.

Bà Then Mẩy lắc đầu, mái tóc bạc lơ thơ của bà khẽ rung động:

- Cái hũ không cần mày đi đòi từng đồng lẻ từ những người đã chết. Nó cần sự thừa nhận. Mày phải chứng minh được số tiền đó đã đi đâu, dùng vào việc gì, và ai là người thực sự được hưởng lợi từ nó. Và quan trọng nhất là món thứ ba.

Bà Then dừng lại, đưa bàn tay gầy guộc lên vuốt ngực như thể lồng ngực bà đang bị đè nặng bởi một tảng đá lớn. Bà thở hắt ra một hơi dài, mùi trầu thuốc hôi hám phả vào không khí.

- Món thứ ba là gì? - Hòa gặng hỏi, cô không muốn bỏ sót bất kỳ chi tiết nào.

- Một người sống. - Bà Then nói nhỏ, tiếng nói mỏng đến mức Hòa phải ghé sát tai mới nghe rõ. - Phải có máu liên quan đến giao kèo, dám nhận khoản nợ thật trước mặt người bị hại. Kẻ nhận nợ phải tự nguyện đứng ra trước phần giấy ấy, không được oán than, không được trốn chạy cho đến khi món nợ được xóa bỏ hoàn toàn.

- Người bị hại... - Hòa lặp lại ba từ này với vẻ suy tư. - Ai là người bị hại thực sự trong chuyện này? Có phải là những người đã chết gần đây không? Hay là một ai khác từ năm 1949?

Bà Then không trả lời trực tiếp câu hỏi của Hòa. Bà chỉ nhìn chằm chằm vào tờ giấy biên nhận đang bị lớp tro đen che phủ một phần. - Mẹ cháu đã cố gắng trả lại của cải bằng cách sống nghèo khổ. - Hòa nói, giọng cô nghẹn ngào. - Bà ấy đã bán hết ruộng đất, trâu bò, chỉ giữ lại căn nhà sàn cũ này để làm nơi thờ tự. Bà ấy chết đi không có một đồng tiết kiệm nào. Như vậy vẫn chưa đủ sao bà?

Bà Then Mẩy lắc đầu, ánh mắt bà hiện lên vẻ thương cảm:

- Mẹ mày chỉ mới làm được một nửa món thứ hai. Bà ấy không tiêu tiền của hũ, nhưng bà ấy cũng không thể trả lại những gì mà tổ tiên nhà mày đã nhận từ năm 1949. Số tiền đó đã biến thành xương thịt của các thế hệ nhà họ Lưu rồi. Mày sống được đến ngày hôm nay, được ăn học đàng hoàng, cũng là nhờ một phần của cải đó. Muốn trả hết, phải có người đứng ra nhận món thứ ba.

- Nhà họ Lưu các người thực ra chỉ đứng ở phần cuối thôi. - Bà Then nói, giọng gấp hơn lúc trước. - Từ lâu rồi, nhà họ Lưu không được nhận thêm lợi lộc gì từ cái hũ đó nữa. Mẹ mày, bà Lưu Thuận Lan, cả đời sống trong nghèo túng, chết đi cũng chỉ có vài bộ quần áo cũ. Bà ấy cố tình làm thế để cắt đứt cái phần "của" mà hũ mang lại cho thế hệ sau. Nhưng bà ấy không tìm được đủ "giấy", cũng không có ai đứng ra nhận món thứ ba, nên cái nợ nó vẫn treo lơ lửng trên đầu mày.

Cô rút từ túi áo khoác ra mảnh giấy nhỏ. Trên đó là vài cái tên cô chép từ hồ sơ di cư cũ của bản Nặm Lưng năm 1949, tìm thấy trong tủ sách của mẹ.

- Cháu tìm thấy cái tên này trong hồ sơ cũ. - Hòa đặt mảnh giấy nhỏ xuống bên cạnh chiếc nia tre. - Lưu A Dung. Người này là ai? Có quan hệ thế nào với cụ cố của cháu? Và tại sao tên của người này lại bị gạch xóa trong tất cả các giấy tờ sau năm 1949?

Ngay khi cái tên "Lưu A Dung" được thốt ra từ miệng Hòa, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra trong gian lán chật hẹp. Ngoài kia, gió hoàn toàn lặng, không một chiếc lá sắn nào lay động, không một tiếng động nào của thiên nhiên lọt vào. Nhưng tai áo chàm của bà Then Mẩy bỗng dưng động nhẹ. Lớp vải chàm ở phần tay áo khẽ phồng lên rồi xẹp xuống. Nó giống như bị thổi từ bên trong, hoặc có một sinh vật nhỏ đang cựa dưới đường may.

Bà Then Mẩy cứng đờ người. Đôi môi mỏng của bà mím chặt lại thành một đường thẳng, những nếp nhăn trên khuôn mặt co rúm lại vì sợ hãi.

- Bà Then, bà biết người này đúng không? Có phải người này liên quan đến việc buộc chỉ năm 1949? Năm đó ở Nặm Lưng đã xảy ra chuyện gì mà giấy tờ nào cũng tránh nhắc đến cái hũ này?

Bà Then Mẩy hé môi, cố gắng phát ra âm thanh. Cổ họng bà rung lên những tiếng khục khục, giống như có một cục đờm lớn đang chặn ngang đường thở của bà. Bà đưa bàn tay gầy guộc lên cào cấu cổ họng mình, mắt trợn ngược lên nhìn trần lán lợp lá cọ mục nát.

- Người... người buộc chỉ... - Bà Then cố thốt ra vài từ đứt quãng, giọng bà khản đặc và run rẩy. - Năm đó... không chỉ có... giấy nhà họ Lưu... còn mộc... còn dấu...

Giọng bà đột ngột tắc nghẹn. Khuôn mặt bà đỏ gay lên vì cố sức, rồi nhanh chóng chuyển sang màu xám ngoét vì thiếu oxy. Bà không thể nói thêm được lời nào, chỉ có tiếng thở khò khè đau đớn phát ra từ lồng ngực lép kẹp dưới lớp áo chàm cũ kỹ.

- Đừng hỏi... đừng hỏi về người đó... - Giọng nói chỉ còn là tiếng thì thầm đứt quãng của bà Then Mẩy cố lọt qua kẽ răng. - Người đó... đã chết từ năm 1949 rồi... tên còn vướng trong hũ...

Hòa hoảng hốt định đứng dậy đỡ lấy bà Then, nhưng cô chợt khựng lại khi nhìn thấy một thứ đang chuyển động dưới lớp vải áo chàm của bà.

Từ đường may ở phần tai áo bên cánh tay phải của bà Then Mẩy, một vật nhỏ màu vàng óng ánh đang từ từ chui ra ngoài. Đó là một con tằm nhỏ, thân hình tròn trịa, da dẻ căng bóng và phát ra thứ ánh sáng vàng nhạt, giống hệt màu sắc của những sợi chỉ trên nia tre lúc nãy. Con tằm không bò nhanh, nó chậm rãi trườn qua nếp gấp của tay áo chàm, hướng về phía bàn tay đang đặt trên gối của bà Then.

Con tằm chạm vào da Hòa lạnh buốt. Nó dừng giữa lòng bàn tay cô, khẽ ngóc đầu lên.

Cùng lúc đó, bà Then Mẩy hoàn toàn câm lặng. Miệng bà vẫn há ra nhưng không thể phát ra bất kỳ âm thanh nào nữa, nửa câu cuối cùng về sự kiện năm 1949 vĩnh viễn bị nuốt chửng vào màn đêm im lìm của bản Nặm Lưng.

Con tằm vàng nằm im giữa lòng bàn tay Hòa. Bà Then Mẩy câm nốt câu cuối.

Chương khác

Xem thêm