Lên Hương - Chương 113: Tờ di chúc giả

Sau lễ phát tang, ba đệ tử ở lại tiệm đến gần sáng để bàn chuyện bốn chín ngày. Diệp An pha một ấm trà mới, Bé Ba thì đã lăn ra ngủ trên chiếc ghế dài…

Nội dung chương

Sau lễ phát tang, ba đệ tử ở lại tiệm đến gần sáng để bàn chuyện bốn chín ngày. Diệp An pha một ấm trà mới, Bé Ba thì đã lăn ra ngủ trên chiếc ghế dài sau quầy, tay vẫn ôm dở gói kẹo bông gòn.

Chị cả Đệ Nhất là người mở lời trước, giọng đã bớt om sòm, thay vào đó là vẻ mệt mỏi của người vừa khóc nhiều:

- Tôi nói thật với hai đứa, tờ giấy hôm trước là tôi tự viết. Tôi biết làm vậy là sai, là có lỗi với cô. Nhưng tôi sợ. Tôi theo cô hai mươi năm, từ lúc còn là đứa con gái quê lên Sài Gòn không một xu dính túi. Cô dạy tôi từng câu khấn, từng cách xem quẻ. Giờ cô mất, tôi ngoài năm mươi rồi, không nghề ngỗng gì khác, tôi biết sống bằng gì?

Cô Út Lặng rót trà cho chị cả, nhẹ nhàng nói:

- Chị đừng lo. Em cũng chẳng biết làm gì ngoài việc này. Hay là ba chị em mình cùng giữ bàn thờ cô bốn chín ngày, rồi sau đó cùng mở điện thờ nhỏ, ai có khách thì người ấy tiếp, tiền nong chia đều. Như vậy vừa giữ được tên tuổi cô, vừa không ai phải tranh ai.

Cậu Hai Bóng gãi đầu, cười hề hề:

- Ý con Út hay đó. Thật ra tôi cũng chán cúng sao thuê rồi. Toàn bịa đặt cho người ta vui, đêm về nằm nghĩ lại thấy mình như thằng lừa đảo. Hay là tôi bỏ nghề cúng sao, quay về học lễ cổ với con Út, làm ăn đàng hoàng.

- Anh Hai mà chịu bỏ cúng sao thì mặt trời mọc đằng tây, - chị cả Đệ Nhất bật cười, lần đầu tiên trong mấy ngày bà cười thật lòng.

Ba người ngồi bàn bạc đến gần ba giờ sáng, cuối cùng thống nhất: cùng nhau giữ bàn thờ cô Sáu đủ bốn chín ngày, sau đó thuê một căn nhà nhỏ gần điện thờ cũ để cùng nhau tiếp khách. Ai có duyên với khách nào thì người ấy lo, tiền cúng chia đều ba phần. Cái ấn đồng thì đặt lên bàn thờ cô, không ai giữ riêng, ai cần dùng thì thắp nhang xin phép cô trước. Cuốn sổ khách hàng thì photo làm ba bản, mỗi người giữ một bản, có khách mới thì ghi thêm vào rồi thông báo cho hai người kia.

Chị cả Đệ Nhất là người đề xuất cách chia này, giọng đã bình tĩnh trở lại:

- Cô dạy tôi hai mươi năm, tôi không muốn vì miếng ăn mà ba chị em trở mặt. Cô ở trên trời nhìn xuống, thấy ba đứa cãi nhau vì cái ấn, cô buồn lắm.

Cậu Hai Bóng gật đầu, lần đầu tiên trong mấy ngày anh ta nghiêm túc:

- Tôi đồng ý. Từ mai, tôi bỏ hẳn nghề cúng sao thuê. Ai hỏi, tôi nói tôi chỉ làm lễ cổ. Mất khách thì chịu, chứ đêm nào cũng nằm mơ thấy mình bịa đặt cho người ta, mệt lắm.

Cô Út Lặng rưng rưng, nắm tay hai anh chị:

- Vậy là từ nay ba chị em mình lại như xưa, cùng nhau lo cho cô. Cô trên trời chắc cũng vui.

Diệp An ngồi nghe, trong lòng ấm áp lạ thường. Anh nghĩ đến lời cô Sáu dặn: "Nghề này không truyền bằng giấy." Quả thật, không cần tờ di chúc nào cả, ba con người này cuối cùng cũng tìm được đường đi của riêng mình, bằng tình nghĩa và sự thật lòng.

Khi ba người đã ra về, Diệp An đang dọn dẹp bàn trà thì có một bà cụ bước đến gần. Bà là khách quen của cô Sáu, người đến dự lễ phát tang từ đầu đến cuối mà anh không để ý. Bà ghé tai anh nói nhỏ:

- Cậu An này, bà nói cho cậu nghe một chuyện. Trước khi mất chừng một tuần, cô Sáu cứ nhắc mãi với bà một câu: "Nghĩa địa cổ có đinh, bà ơi. Người ta đóng đinh xuống đất, đất đau lắm." Bà tưởng cô mê sảng vì bệnh, nhưng giờ nghĩ lại...

Bà cụ bỏ lửng câu nói, vỗ nhẹ vào tay Diệp An rồi chậm rãi ra về, để lại anh đứng thẫn thờ giữa gian tiệm vắng. Đây đã là người thứ hai nhắc đến chuyện "đinh ở nghĩa địa cổ": hồn cô Sáu trong lúc vẽ nắp hòm lo lắng nhìn về phía nghĩa địa, và giờ là bà cụ khách quen.

Diệp An vội chạy vào xưởng, lôi từ ngăn kéo ra cây đinh sắt nhặt được ở Bình Hưng Hòa dạo trước. Hôm đó anh đi giao hòm cho một khách ở khu công nghiệp, trên đường về ngang qua bãi đất trống cạnh xưởng gỗ ép Vĩnh Hằng, thấy cây đinh nằm chỏng chơ bên vệ đường. Lúc ấy anh chỉ nghĩ là đinh thợ mộc đánh rơi, tiện tay nhặt về, không ngờ hôm nay nó lại thành manh mối quan trọng.

Anh đặt cây đinh dưới ánh đèn, soi kỹ. Đinh dài cỡ gang tay, đầu tù, thân rỉ loang lổ. Anh lấy kính lúp của thợ mộc ra soi từng milimet trên thân đinh.

Tiếng lạch cạch của ngăn kéo làm Bé Ba tỉnh giấc. Bé dụi mắt, lết đến bên bàn, vừa ngáp vừa hỏi có chuyện gì. Nghe Diệp An kể về cây đinh và lời bà cụ, bé cũng xúm lại xem, nhưng chỉ dám đứng xa xa, vì bé bảo đinh trấn yểm có "mùi khó chịu", ngửi lâu nhức đầu.

- Anh Hai ơi, trấn yểm là gì vậy? - bé hỏi. - Sao người ta phải đóng đinh xuống đất?

Diệp An vừa soi vừa giải thích, những kiến thức này anh nghe chú Bảy kể từ hồi còn nhỏ, lúc đó chỉ coi như chuyện cổ tích:

- Trấn yểm là một loại tà thuật phong thủy. Người ta tin rằng dưới lòng đất có những dòng khí gọi là long mạch, như mạch máu của đất vậy. Ai khóa được long mạch thì chiếm được vận khí của cả vùng. Cách khóa đơn giản nhất là đóng đinh sắt xuống những điểm huyệt, như châm kim vào huyệt đạo của con người, làm khí không lưu thông được nữa.

- Vậy người nằm dưới đất thì sao?

- Thì khổ, - Diệp An thở dài. - Đất bị khóa, người nằm dưới cũng bị đè nén, không yên. Cô Sáu nói "đất đau, người nằm dưới đất cũng đau" là vậy đó.

Bé Ba rùng mình, ôm chặt lấy cánh tay Diệp An:

- Ghê quá. Ai mà ác vậy anh?

- Kẻ muốn chiếm vận khí của cả vùng đất này, - Diệp An nói khẽ, mắt nhìn xa xăm. - Mà em nghĩ xem, ở Sài Gòn này, ai có đủ tiền, đủ người để làm chuyện đó?

Hai anh em nhìn nhau, không ai nói ra cái tên đang hiện lên trong đầu cả hai: Vĩnh Hằng. Từ vụ hòm gỗ ép tẩm hóa chất, đến xe tải lảng vảng ở Đa Phước, đến những hố đào trộm xếp thành trục thẳng, mọi dấu vết đều chỉ về tập đoàn tang lễ bí ẩn ấy.

Diệp An lấy giấy bút vẽ lại hình dạng cây đinh, ghi chú cẩn thận ngày giờ và nơi nhặt được, như một thói quen ghi chép mà chú Bảy đã rèn cho anh từ nhỏ. Chú Bảy từng bảo: "Làm nghề này, mắt phải tinh, tay phải chắc, và sổ phải ghi rõ. Có ngày những dòng ghi chép vớ vẩn hôm nay sẽ cứu mạng mày."

Hồi đó anh còn cười, bảo chú mê tín. Giờ nghĩ lại, anh mới thấy chú nói không sai chữ nào.

Vẽ xong, anh trải tờ giấy ra bàn, đặt cây đinh lên trên, nhìn kỹ dưới ánh đèn. Điện thoại anh cùi bắp chụp mờ tịt nên anh không chụp ảnh, chỉ ngồi nhìn, cố ghi nhớ từng chi tiết vào đầu. Cây đinh rỉ đều, không có dấu khắc, nhưng dài và nặng một cách bất thường, không giống đinh thợ mộc thường dùng.

Diệp An cười, nựng má bé:

- Thì từ từ tìm. Trước mắt, mình phải nhổ hết mấy cây đinh đang cắm ở Đa Phước đã. Để lâu ngày, đất bị khóa chặt thì khó cứu.

- Mai anh phải qua nhà A Lực một chuyến, - Diệp An nói, giọng quả quyết. - Chuyện đinh này không thể để lâu được.

- Mấy giờ rồi anh?

- Gần ba giờ sáng.

- Giờ này mà anh còn định đi đâu? Để sáng mai đi, anh thức mấy đêm rồi, mắt thâm như gấu trúc.

Diệp An đành gật đầu. Anh cất kỹ cây đinh và tờ giấy vẽ vào ngăn bí mật dưới bàn thờ tổ nghề mộc tang, nơi anh vẫn cất những thứ quan trọng nhất: thư tay của chú Bảy và cuốn sổ ghi chép những chuyện lạ mà tiệm gặp phải.

Đêm ấy, anh nằm trên giường mà không sao ngủ được. Trong đầu anh cứ hiện lên hình ảnh những cây đinh cắm xiên xuống đất nghĩa địa, hiện lên khuôn mặt lo lắng của cô Sáu, hiện lên mảnh sành hợp chất men lam vẽ rồng. Lời bà cụ khách quen vang vọng mãi: "Người ta đóng đinh xuống đất, đất đau lắm."

Sáng mai, anh phải qua nhà A Lực một chuyến. Chuyện đinh trấn yểm ở Đa Phước không thể để lâu được.

Chương khác

Xem thêm