Lên Hương - Chương 146: Kế hoạch lúc hai giờ sáng
Buổi họp bàn kế hoạch đột nhập diễn ra trong gian sau của Vạn Niên Cư, trên chiếc chiếu cói đã sờn, xung quanh là mùi gỗ hòm mới đóng và mùi nhang trầm…
Nội dung chương
Buổi họp bàn kế hoạch đột nhập diễn ra trong gian sau của Vạn Niên Cư, trên chiếc chiếu cói đã sờn, xung quanh là mùi gỗ hòm mới đóng và mùi nhang trầm còn vương từ đêm qua. Có mặt đầy đủ: Trần Diệp An, A Lực, Bé Ba, và Tư Hủ Tiếu, người tự ý đến với lý do "đem cháo qua cho tụi bây ăn khuya" nhưng ai cũng biết ông đến để hóng chuyện.
Diệp An trải tờ giấy A3 ra giữa chiếu, vẽ sơ đồ xưởng gỗ ép Vĩnh Hằng theo lời Bé Ba mô tả: cổng chính hướng đông, hai dãy nhà xưởng song song, kho nguyên liệu phía sau, văn phòng hai tầng bên trái cổng. Bé Ba ngồi xổm bên cạnh, tay cầm bút chì màu, chấm chấm thêm vào những vị trí camera mà cô bé nhớ được từ chuyến do thám đêm qua.
- Camera ở bốn góc nhà xưởng, một cái ở cổng, một cái ở kho, - Bé Ba vừa nói vừa chấm. - Nhưng có hai điểm mù: góc chết sau bồn nước inox phía tây, và dưới gầm băng chuyền số ba, chỗ đó tối om, camera không lia tới.
A Lực gật gù, tay gõ gõ lên sơ đồ:
- Hàng rào tôn cao hai mét rưỡi, phía tây giáp con rạch nhỏ, ít người qua lại. Mình vào đường đó. Tao mượn chiếc ba gác của thằng Ba Gác, chất đồ nghề mộc lên, giả làm thợ sửa chữa đi lạc. Nếu bị hỏi thì nói...
- Nói gì? - Tư Hủ Tiếu chen vào.
- Nói đi sửa mái tôn cho xưởng bên cạnh, lạc đường. Giấy tờ thì không có, nhưng mặt tao hiền như vầy, ai nỡ bắt.
Cả chiếu cười ồ lên. Mặt A Lực với vết sẹo dài từ thái dương xuống gò má, cộng thêm hình xăm trổ lấp ló ở cổ, mà bảo hiền thì đúng là chuyện cười ra nước mắt. Nhưng trong cái nghề đạo tỳ, cái mặt dữ đó lại là thứ khiến người ta tin tưởng: mặt của người dám đứng ra gánh việc khó.
Diệp An lấy trong túi vải ra bộ đồ nghề của mình: cọ vẽ bọc trong khăn, hũ mực pha sẵn theo đúng tỷ lệ bảy phần tro tàn nhang ba phần sáp ong, một cuộn chỉ ngũ sắc, mấy miếng gỗ đào đã đẽo sẵn. Anh xếp từng thứ ngay ngắn như người ta xếp lễ vật.
- Em mang theo cọ mực để làm gì? - Tư Hủ Tiếu hỏi. - Đi đột nhập chứ có phải đi vẽ tranh đâu.
- Để phòng khi cần vẽ bùa giải, hoặc... - Diệp An ngập ngừng. - Hoặc nếu gặp linh hồn nào bị kẹt dưới đó, em phải nghe họ nói gì.
Bé Ba giơ tay phát biểu như học sinh trong lớp:
- Em dẫn đường! Em bay trước, dò bùa ngải, chỉ từng điểm mù camera. Gặp bảo vệ thì em xô đổ vài món đồ đánh lạc hướng. Em rành nghề này lắm, hồi còn sống em hay... à thôi.
Cô bé im bặt, nhưng ai cũng hiểu "hồi còn sống" của một đứa bé bán vé số lang thang nghĩa là gì. Không ai hỏi thêm. A Lực xoa đầu cô bé:
- Ừ, mày là trinh sát trưởng. Nhưng nhớ lời anh An dặn: thấy bùa đỏ thì tránh xa, đừng có tò mò mà chạm vào.
Tư Hủ Tiếu nãy giờ im lặng bỗng lên tiếng, giọng đầy khí thế:
- Vậy tao đi theo nấu cháo cho ma ăn. Ma dưới hầm bị đóng đinh đau đớn, chắc đói lả rồi. Tao nấu nồi cháo gừng mang theo, vừa phá trận vừa phát cháo từ thiện.
Cả chiếu quay sang nhìn ông. A Lực là người lên tiếng trước, giọng đều đều:
- Không.
- Sao không? - Tư Hủ Tiếu trợn mắt.
- Thứ nhất, mày nấu cháo thì ai trông quán hủ tiếu? Thứ hai, đột nhập mà mang theo nồi cháo thì khác gì đi cắm trại? Thứ ba...
A Lực chưa kịp nói hết câu thứ ba thì Bé Ba đã chen vào, giọng lém lỉnh:
- Thứ ba, ma không ăn được cháo nóng đâu chú Tư. Ma chỉ ngửi mùi thôi. Chú nấu nồi cháo mang vào xưởng, bảo vệ ngửi thấy mùi là biết có người đột nhập liền.
Tư Hủ Tiếu há miệng định cãi, rồi ngậm lại, mặt xịu xuống như đứa trẻ bị tịch thu đồ chơi. Diệp An vỗ vai ông an ủi:
- Chú Tư ở nhà là hậu phương vững chắc. Tụi con về lúc ba giờ sáng, chú nấu sẵn nồi cháo gừng để tụi con ăn lấy sức. Việc đó quan trọng không kém.
Nghe vậy, Tư Hủ Tiếu mới nguôi ngoai, gật đầu lia lịa:
- Ừ, hậu phương. Tao sẽ nấu nồi cháo to nhất từ trước tới giờ. Có thêm trứng gà ta, hành lá...
- Rồi rồi, - A Lực cắt ngang. - Bây giờ chốt kế hoạch.
Kế hoạch được chốt trong vòng nửa giờ, ngắn gọn như mọi kế hoạch của đội đạo tỳ: ít lời, nhiều việc.
Giờ hành động: đêm không trăng cuối tháng Giêng, khi trời tối nhất. Ca bảo vệ xưởng đổi ca lúc hai giờ sáng, khoảng trống giữa hai ca khoảng mười lăm phút là cửa sổ vàng để lọt vào. Bé Ba bay trước dò đường, A Lực và Diệp An theo sau, mang đồ nghề mộc ngụy trang. Mục tiêu: tìm cửa hầm dưới gầm dây chuyền số ba, chụp ảnh trận đồ, lấy một cây đinh trấn làm bằng chứng, rồi rút. Tuyệt đối không động vào bùa ngải, tuyệt đối không gây tiếng động lớn.
- Còn một điều nữa, - A Lực nói, giọng trầm xuống. - Nếu bị phát hiện, tao ở lại cản, thằng An chạy trước, mang bằng chứng về. Bé Ba bay về báo tin. Rõ chưa?
- Không, - Diệp An lắc đầu. - Đi cùng thì về cùng. Không ai ở lại hết.
Hai người nhìn nhau, không ai chịu nhường ai. Cuối cùng Bé Ba thở dài như bà cụ non:
- Hai anh đừng cãi nữa. Em đảm bảo không ai bị bắt hết. Em là ma, em lo được.
Chiều hôm đó, A Lực sang nhà Ba Gác mượn chiếc xe ba gác cà tàng. Nghe xong chuyện, Ba Gác không hỏi nhiều, chỉ lặng lẽ lấy chìa khóa đưa, rồi dúi thêm vào tay A Lực một cái búa đinh và cuộn dây thừng:
- Đem theo phòng thân. Mà nhớ, xe tao mới thay bugi, chạy đừng có rú ga như mọi lần.
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Tối đến, cả đội đạo tỳ tụ tập ở tiệm, ai cũng biết chuyện nhưng không ai nói toạc ra. Năm Vá Xe vá lại quai túi đồ nghề cho Diệp An. Sáu Hồ pha một ấm cà phê đặc quánh, dặn uống để thức đêm. Bảy Ve Chai lén dúi vào túi A Lực một con dao găm cũ.
- Đồ nghề của tao hồi trẻ, cầm cho chắc tay.
Chín Cá thì im lặng gói cho mỗi người một nắm xôi mặn.
- Ăn đi, đi đêm đói lắm.
Không ai nói hai chữ "đột nhập". Họ chỉ nói "đi công chuyện". Nhưng ánh mắt ai cũng hiểu: đêm nay, hai người anh em của họ đi vào hang cọp.
Tư Hủ Tiếu đứng ở cửa, tay xách nồi cháo còn bốc khói, mắt đỏ hoe:
- Ba giờ sáng về, cháo còn nóng. Thằng nào không về, tao... tao đổ cháo đi, không cho ăn nữa.
- Ừ, về mà, - A Lực cười, vỗ vai ông. - Cháo của mày, chó còn chê, tụi tao sao dám không về.
Cả đội cười vang, xua đi không khí căng thẳng. Nhưng khi hai bóng người khuất sau đầu hẻm, tiếng cười tắt dần, chỉ còn tiếng dép lê của Tư Hủ Tiếu quay vào bếp, và tiếng dao thớt lách cách chuẩn bị nồi cháo ba giờ sáng.
Đêm trước ngày hành động, Diệp An ngồi một mình trong tiệm, lau từng cây cọ. Ngoài trời không trăng, mây đen phủ kín, đúng như dự báo: đêm không trăng cuối tháng. Anh nhớ lại lời chú Bảy trong thư tay để lại hồi đầu truyện: "Nghề này không phải nghề đóng hòm. Nghề này là nghề đưa người ta đi cho tử tế." Lúc đó anh còn chưa hiểu. Giờ thì anh hiểu rồi, mà cái giá của sự hiểu biết này là những đêm không ngủ, là bàn tay run run mỗi khi cầm cọ quá lâu, là những sợi tóc bạc sớm lấp ló sau tai ở tuổi hai mươi bốn.
Bé Ba lặng lẽ hiện ra, im lặng một lúc rồi hỏi nhỏ:
- Anh Hai có sợ không?
- Sợ chứ. - Diệp An thành thật. - Nhưng sợ thì các cụ dưới đó vẫn đau. Sợ không làm được gì thì sợ để làm gì.
- Anh Hai giống chú Bảy ghê. Chú Bảy cũng hay nói câu đó.
Nhắc đến chú Bảy, cả hai cùng im lặng. Đã gần nửa năm chú bỏ đi, chỉ để lại thư tay và cuốn sổ tay nghề mộc. Không ai biết chú ở đâu, làm gì, còn sống hay... Diệp An không dám nghĩ tiếp. Anh chỉ biết, nếu chú Bảy ở đây lúc này, chú sẽ là người đầu tiên xách đồ nghề đi cùng.
- Ngủ đi, mai còn đi sớm, - Bé Ba nói, rồi tan biến.
Diệp An nằm xuống giường xếp, nhưng mắt vẫn mở. Ngoài cửa, quầng sáng đèn lồng sen trắng chập chờn. Trong đầu anh, tiếng khóc không thành tiếng mà Bé Ba mô tả cứ vang lên mãi: những linh hồn bị đóng đinh dưới nền xưởng, kêu cứu trong bóng tối mà không ai nghe thấy, đã không biết bao nhiêu năm.
Đồng hồ điểm hai giờ sáng. Giờ hành động đã ấn định. Không còn đường lui.