Lên Hương - Chương 145: Bản đồ và điểm đỏ
Đầu tháng hai, Sài Gòn se lạnh theo cái cách mà người ta hay gọi là mùa đông của phương Nam: lạnh không đủ để run, chỉ đủ để buổi sáng mở cửa ra nghe mùi…
Nội dung chương
Đầu tháng hai, Sài Gòn se lạnh theo cái cách mà người ta hay gọi là mùa đông của phương Nam: lạnh không đủ để run, chỉ đủ để buổi sáng mở cửa ra nghe mùi sương ướt bám trên mái tôn. Trần Diệp An ngồi bệt dưới nền gạch bông của Vạn Niên Cư, trước mặt trải hai tấm bản đồ.
Một tấm là da dê, cũ đến nỗi mép đã sờn như bánh đa nướng quá lửa. Đó là di vật thầy Tám để lại trước khi đi: bản đồ chỉ vị trí mộ quách số hai. Nét vẽ tay run run nhưng đường nào ra đường nấy, có khoanh một vòng tròn đỏ đã phai màu ở phía tây nam.
Tấm còn lại là bản đồ quy hoạch khu Bình Hưng Hòa, mới in từ máy photocopy ở phường, mực còn thơm. Trên đó, cũng một vòng tròn đỏ, nhưng nét bút bi còn tươi, do chính tay Trần Văn Lực khoanh đêm qua.
Hai vòng tròn đỏ đặt cạnh nhau. Diệp An nheo mắt nhìn đi nhìn lại, rồi ngẩng lên nhìn A Lực.
- Trùng khít, anh Lực à.
A Lực đang ngồi xổm bên cạnh, tay cầm điếu thuốc rê chưa châm, gật đầu một cái nặng như đá tảng lăn:
- Tao xin ở phường mất nửa buổi, phải mời thằng cán bộ địa chính hai ly cà phê sữa đá nó mới chịu photo cho. Nó còn dặn: "Anh Lực coi chừng, khu đó là đất của tập đoàn Vĩnh Hằng, đụng vào là bỏng tay."
- Tay mình chai hết rồi, bỏng thêm chút cũng không sao.
Câu nói đùa rơi xuống nền gạch, không ai cười. Cả hai đều biết chuyện này không còn là chuyện đùa được nữa. Ba cây đinh sắt đóng vào thi hài cụ Khai ở Đa Phước, cây mới nhất khắc rõ dòng chữ "Vĩnh Hằng - lô 7", đang nằm trong hòm bằng chứng ở góc tiệm, bọc trong ba lớp vải, như một vật vừa thiêng vừa độc.
Diệp An lấy thước kẻ đặt lên bản đồ, đo khoảng cách từ vòng tròn đỏ đến con kênh gần nhất, rồi đối chiếu với những ghi chú bằng chữ Nôm nhỏ xíu bên lề tấm da dê. Thầy Tám khi còn sống đã giải thích sơ: mộ quách hợp chất phải đặt trên huyệt mắt rồng, nơi long mạch đi qua. Hồi đó, ông lang già ngồi ở chính chỗ Diệp An đang ngồi bây giờ, tay run run chỉ vào tấm da dê, giọng khàn như lá khô:
- Cháu nhớ kỹ, quách tam hợp thạch là ba ngôi mộ anh em, cùng một mạch mà ra. Mộ nào cũng chôn người có công khai đất lập ấp, nên oán khí nặng, phúc khí cũng nặng. Kẻ nào động vào mà không đúng lễ, mạch đứt, đất động, cả vùng mang họa.
- Vậy sao thầy không báo cho ai biết? - Diệp An khi ấy đã hỏi.
Thầy Tám cười, nụ cười móm mém mà buồn:
- Báo cho ai? Quan thì bận, dân thì sợ. Thầy giữ tấm bản đồ này mấy chục năm, chờ người có duyên. Cháu có Họa Hồn Bút, cháu là người có duyên đó.
Nhớ lại chuyện cũ, Diệp An thấy cổ họng nghẹn lại. Thầy Tám đã đi rồi, nắp hòm anh vẽ cho thầy là một vườn thuốc Nam xanh mướt, thầy ngồi giữa vườn phơi thuốc mà cười. Giờ đến lượt anh phải làm nốt phần việc thầy dặn: tìm cho ra mộ số hai, trước khi Vĩnh Hằng kịp làm gì thêm với nó.
- Mộ số một ở Đa Phước suýt bị san phẳng, - Diệp An nói khẽ, ngón tay dừng lại trên điểm đỏ. - Mộ số hai nằm ngay dưới nền xưởng gỗ ép của Vĩnh Hằng ở Bình Hưng Hòa. Thầy Tám nói đúng. Chúng nó xây xưởng đè lên mộ để tiện bề trấn yểm.
A Lực rít một hơi thuốc rê dài, khói bay lên quẩn quanh ngọn đèn lồng sen trắng treo trước cửa:
- Xây xưởng đè lên mộ cổ, rồi đóng đinh trấn long mạch ngay dưới dây chuyền sản xuất. Thằng Tống Gia Khang này nó không chỉ tham, nó còn liều.
- Nó không liều, anh à. Nó tính kỹ lắm. Ai mà ngờ dưới nền một xưởng gỗ ép ồn ào lại có mộ cổ? Có ai đào nền xưởng người ta lên kiểm tra bao giờ.
Đúng lúc đó, tiếng chuông đồng nhỏ ở quầy lễ tân khẽ rung lên hai tiếng: leng keng. Bé Ba hiện ra, ngồi chễm chệ trên chiếc ghế gỗ cao mà cô bé tự nhận là "ghế giám đốc", hai chân đung đưa không chạm đất. Trên tay cô bé là một cây kẹo bông gòn to bằng cái mặt, trắng hồng như mây.
- Hai anh bàn chuyện đột nhập hả? Cho em đi với.
Diệp An và A Lực nhìn nhau. A Lực cau mày:
- Con nít đi đâu mà đi. Ở nhà coi tiệm.
- Em tám tuổi... à quên, em mãi mãi tám tuổi, - Bé Ba vừa nói vừa cắn một miếng kẹo bông gòn, miệng dính đầy đường. - Nhưng em là ma, anh Lực ơi. Ma đi đường âm, camera nào quay được em. Mấy anh đột nhập xưởng người ta ban đêm, không có em dẫn đường tránh camera với ca trực bảo vệ thì coi chừng bị bắt như trộm chó.
Diệp An phì cười, nhưng rồi nụ cười tắt dần. Cô bé nói đúng. Xưởng gỗ ép Vĩnh Hằng không phải cái kho bỏ hoang. Đó là cơ sở sản xuất đang hoạt động, có bảo vệ, có camera, ca đêm chạy dây chuyền ầm ầm. Hai người sống lọt vào đó mà không bị phát hiện là chuyện không tưởng, trừ khi có một hướng dẫn viên... không thuộc về thế giới này.
- Em đi do thám trước được không? - Diệp An hỏi. - Chỉ do thám thôi, không đụng vào thứ gì hết. Đi đường âm vào, nhìn xem dưới nền xưởng có gì, rồi về báo.
Bé Ba vỗ ngực đánh đốp, kẹo bông gòn rung rinh:
- Chuyện nhỏ như con thỏ. Đêm nay em đi, sáng mai về báo cáo đầy đủ. Anh Hai nhớ để phần bánh pía cho em.
- Để hai cái, - Diệp An hứa. - Nhưng nhớ kỹ: thấy bùa ngải gì thì đừng chạm vào. Mấy thứ trấn yểm của Vĩnh Hằng không phải đồ chơi.
- Em biết mà. Em là ma có kinh nghiệm ba mươi năm rồi đó.
Cô bé nói xong liền tan biến như làn khói, chỉ còn cây kẹo bông gòn rơi xuống ghế, lăn lông lốc. A Lực nhìn cây kẹo, lắc đầu:
- Có con bé này, tiệm mình đỡ tốn tiền thuê trinh sát.
Đêm đó, Diệp An không ngủ được. Anh nằm trên chiếc giường xếp ở gian sau, nghe tiếng xe rác đi qua đầu hẻm, tiếng chó sủa xa xa, và tiếng chuông gió bằng đồng treo ở cửa sau khẽ kêu mỗi khi có gió lùa. Trong đầu anh cứ hiện lên hình ảnh ba cây đinh sắt trên thi hài cụ Khai: một ở đỉnh đầu, một ở lồng ngực, một ở ống chân. Đau đớn của người chết không kêu được thành tiếng, chỉ còn lại trong tiếng lòng mà Họa Hồn Bút của anh nghe thấy khi vẽ nắp hòm cho cụ: "Chúng nó đóng đinh vào xương cốt ta, đau lắm, cháu ơi."
Anh trở mình, nhìn lên trần nhà loang lổ. Nếu mộ số hai cũng bị đóng đinh như mộ số một, thì dưới nền xưởng gỗ ép kia, có một linh hồn, hay nhiều linh hồn, đang chịu đau trong bóng tối, giữa tiếng máy ép gỗ ầm ầm suốt ngày đêm. Nghĩ đến đó, anh siết chặt nắm tay.
Gần sáng, khi trời còn chưa hửng, tiếng chuông đồng ở quầy lễ tân rung lên dồn dập. Diệp An bật dậy, chạy ra. Bé Ba đã hiện hình, nhưng không còn vẻ lém lỉnh thường ngày. Mặt cô bé tái mét, môi run run, cây kẹo bông gòn trên tay đã bị bóp nát từ lúc nào.
A Lực cũng vừa chạy từ gian sau ra, áo còn chưa kịp cài nút:
- Sao rồi, Bé Ba?
Cô bé nuốt nước bọt, giọng nhỏ như tiếng muỗi:
- Dưới nền xưởng... có một cái quách đá to lắm, anh Hai à. To gấp đôi cái quách của cụ Khai. Xung quanh cắm chi chít đinh sắt, dán đầy bùa vàng. Và... và có kẻ dán bùa canh giữ. Em vừa thò đầu xuống đã thấy một lá bùa đỏ treo ngay cửa hầm, nó nóng rát như lửa. Em phải chạy về liền.
Diệp An quỳ xuống, ngang tầm mắt cô bé, đặt tay lên vai em:
- Em có sao không? Có bị thương ở đâu không?
- Em không sao. Nhưng... - Bé Ba ngẩng lên, đôi mắt to tròn ngấn nước. - Anh Hai ơi, dưới đó có người khóc. Khóc nhiều lắm. Khóc mà không ra tiếng, chỉ nghe trong đầu em thôi. Họ bảo họ bị đóng đinh, đau lắm, mà không ai nghe thấy.
Trong gian tiệm im ắng của buổi sớm mai, câu nói của cô bé rơi xuống như một hòn đá ném vào mặt nước lặng. A Lực châm điếu thuốc rê, rít một hơi thật sâu rồi dụi tắt ngay, như thể đột nhiên thấy thuốc đắng ngắt.
Diệp An đứng dậy, đi đến góc tiệm, mở hòm bằng chứng, nhìn ba cây đinh sắt nằm im lìm trong lớp vải. Rồi anh đóng nắp hòm lại, quay sang A Lực, giọng trầm hẳn:
- Mình phải vào đó, anh Lực. Phải phá cái trận đó. Không thì các cụ dưới đó không yên được.
A Lực gật đầu, không nói gì thêm. Ngoài cửa, ánh đèn lồng sen trắng chao nghiêng trong gió sớm, quầng sáng trắng mờ như một con mắt đang nhìn vào tiệm, chờ đợi.