Lên Hương - Chương 143: Lô 7
Về đến tiệm Vạn Niên Cư lúc gần trưa, ai nấy đều rã rời sau một đêm thức trắng giữa bão. Quần áo còn ẩm, tóc tai bết bát, mắt ai cũng thâm quầng, vai đau…
Nội dung chương
Về đến tiệm Vạn Niên Cư lúc gần trưa, ai nấy đều rã rời sau một đêm thức trắng giữa bão. Quần áo còn ẩm, tóc tai bết bát, mắt ai cũng thâm quầng, vai đau nhức, chân rã rời. Nhưng trên môi mỗi người đều nở một nụ cười nhẹ nhõm, nụ cười của những người vừa làm xong một việc nghĩa lớn. Tư Hủ Tiếu lật đật nấu một nồi cháo gừng lớn, cả đội xúm quanh ăn ngấu nghiến, chẳng ai nói câu nào, chỉ nghe tiếng muỗng chạm vào bát lách cách và tiếng húp cháo sùm sụp.
Ăn xong, A Lực trải một tấm vải trắng ra giữa gian tiệm, cẩn thận đặt lên đó ba cây đinh cũ vừa nhổ từ hài cốt cụ Khai. Ba cây đinh đen sì, rỉ sét loang lổ, dài cả gang tay, đầu nhọn hoắt, nằm trên nền vải trắng trông càng thêm ghê rợn.
Cả đội xúm quanh, ai nấy mặt mày nghiêm trang. Ngay cả Ba Gác đang ngồi bó chân một chỗ cũng cố nhích đến gần xem. Tư Hủ Tiếu bưng ra một ấm trà nóng, rót cho mỗi người một chén, không khí như một buổi họp quan trọng.
- Kiểm tra kỹ, - A Lực nói, giọng trầm và chậm. - Chụp ảnh từng cây, ghi chép đầy đủ: ngày giờ nhổ, vị trí trên hài cốt, tình trạng rỉ sét, dấu hiệu đặc biệt. Đây là bằng chứng thép, sau này đối chất với Vĩnh Hằng, mình phải có thứ này.
Diệp An lấy điện thoại ra, chụp từng cây đinh dưới nhiều góc độ: toàn cảnh, cận cảnh đầu đinh, thân đinh, đuôi đinh. Chụp xong, anh còn lấy thước kẹp đo chiều dài, đường kính từng cây, đọc số liệu cho Chín Cá ghi.
- Cây số một, nhổ từ đỉnh đầu, dài mười tám phân, đường kính một phân hai, rỉ nặng nhất, lớp rỉ dày, đầu đinh còn nhô hai đốt ngón tay khi cắm trong xương.
- Ghi rồi, - Chín Cá cắm cúi viết, lưỡi thè ra vì tập trung.
- Cây số hai, nhổ từ lồng ngực, dài mười bảy phân rưỡi, có khắc chìm logo Vĩnh Hằng trên thân, nét khắc đã mờ vì rỉ sét nhưng vẫn nhận ra được hình tròn và chữ.
A Lực lấy kính lúp ra soi kỹ chỗ khắc logo, gật gù:
- Đúng logo Vĩnh Hằng. Tao đã thấy logo này trên cổng xưởng gỗ ép của chúng nó ở Bình Hưng Hòa. Không chạy đi đâu được.
- Cây số ba, nhổ từ ống chân, dài mười tám phân, rỉ ít hơn hai cây kia, lớp rỉ mỏng, có lẽ đóng sau cùng, thời gian ngắn hơn.
- Ba cây, ba đợt, - A Lực kết luận, giọng nặng trĩu. - Chúng nó không đóng một lần mà đóng dần, mỗi lần kiểm tra lại đóng thêm một cây. Lần đầu đóng ở chân, lần hai đóng ở ngực, lần ba đóng ở đầu. Mỗi lần đóng, cụ Khai lại thêm một cơn đau mới. Tàn độc, thật là tàn độc.
Ba Gác ngồi một bên, chân đã được băng bó cẩn thận bằng thuốc sát trùng và băng gạc sạch, nhìn ba cây đinh mà rùng mình:
- Tưởng tượng bị đóng ba cây này vào xương, đau đến mức nào... Tao bị đinh ba chạc đâm một phát vào chân mà đã muốn xỉu, huống chi cụ bị đóng ba cây vào đầu, ngực, chân, mà còn là đóng vào xương người chết, đau cả hồn.
- Đừng tưởng tượng, - Năm Vá Xe vỗ vai anh, giọng trầm xuống. - Nhìn thôi đã thấy ớn rồi. Mà mày cũng liều, đinh đâm xuyên chân mà còn gồng khiêng, tao nể mày thật.
Kiểm tra xong, A Lực lấy ra một chiếc hòm gỗ nhỏ, gỗ mun đen bóng, bên trong lót vải đỏ. Ông cẩn thận gói từng cây đinh vào vải đỏ, xếp ngay ngắn vào hòm, cây nào ra cây nấy, không để chúng chạm vào nhau kẻo làm trầy xước dấu vết. Đậy nắp lại, ông lấy dây đỏ buộc chéo, thắt nút, rồi nhỏ sáp ong lên nút thắt niêm phong.
- Hòm bằng chứng, - ông nói, giọng nghiêm trang như đang tuyên thệ. - Từ giờ, mọi bằng chứng thu được từ Vĩnh Hằng đều cất vào đây. Khóa kỹ, chỉ tao và thằng An biết chỗ giấu. Không ai được tự ý mở, trừ khi cả đội đồng ý.
Ông cất hòm gỗ vào ngăn bí mật dưới bàn thờ tổ nghề, nơi đã có cây đinh khắc logo từ vụ Đa Phước. Ngăn bí mật được ngụy trang khéo léo, nhìn ngoài chỉ như một ngăn tủ bình thường, nhưng bên trong có khóa hai lớp. Hòm bằng chứng giờ đã có thêm ba cây đinh mới, nặng trĩu những tội ác.
- Từ nay, - A Lực phủi tay, đứng dậy, - Vĩnh Hằng có chối cũng không được. Đinh có logo của chúng nó, khắc trên thân đinh, đây là dấu tay của kẻ phạm tội.
Chiều hôm đó, cả đội quay lại huyệt mới làm lễ tạ mộ. Bão đã tan hẳn, trời trong vắt, nắng vàng rực rỡ. Lễ đơn sơ sau bão: một mâm cơm cúng với gà luộc, xôi gấc, canh khổ qua, ba nén nhang, một bình hoa cúc vàng tươi, một chai rượu trắng, một đĩa trầu cau. Cụ ông họ Trần cũng đến, mang theo một con gà luộc nữa và một chai rượu trắng, miệng cười mà mắt vẫn đỏ hoe.
- Cụ Khai ơi, - cụ ông khấn, giọng nghẹn ngào nhưng ấm áp. - Bão tan rồi, nhà mới của cụ đã yên, nắng lên đẹp lắm. Từ giờ cụ không còn đau nữa, cụ yên nghỉ nhé. Con cháu họ Trần đời đời nhớ ơn cụ.
Gió nhẹ thổi qua, làm những nén nhang cháy đều, khói bay thẳng lên trời xanh trong. Hoa cúc vàng rung rinh trong nắng, gà luộc vàng ươm, xôi gấc đỏ au, mâm cúng tuy đơn sơ mà ấm cúng lạ thường. Bé Ba bay lượn quanh ngôi mộ, thì thầm với Diệp An, giọng vui vẻ, người khác không tài nào nghe thấy:
- Anh Hai ơi, em thấy cụ Khai cười. Cụ mặc áo the khăn xếp đẹp lắm, cụ vẫy tay chào mình kìa.
Diệp An mỉm cười, khẽ gật đầu. Anh biết, cụ Khai đã được giải thoát.
Lễ xong, cả đội nán lại bên mộ một lúc lâu, không ai muốn về. Nắng chiều vàng óng rải trên ngôi mộ mới đắp, hoa cúc vàng rung rinh trong gió nhẹ. Tám người đàn ông ngồi quanh mộ, uống nốt chai rượu cúng, kể cho nhau nghe những chuyện vui buồn của đêm bão vừa qua, tiếng cười vang vọng giữa nghĩa trang yên tĩnh.
Trên đường về, đi ngang qua cánh đồng lúa vừa được bão tưới đẫm, Diệp An chợt nhớ đến cây đinh mới toanh nhặt được lúc đóng nắp quan tài. Suốt đêm qua và cả ngày nay bận rộn, anh quên bẵng mất nó. Anh lấy nó ra khỏi túi áo trong, đưa cho A Lực:
- Chú, cháu quên mất cây này. Lúc đóng nắp quan tài, nó rơi ra từ quách đá cũ. Chú xem kỹ giúp cháu.
A Lực cầm cây đinh mới lên, nheo mắt nhìn dưới nắng chiều. Cây đinh sáng bóng, không một vết rỉ, đầu đinh còn nhọn hoắt, cầm nặng tay. Ông lấy kính lúp ra soi kỹ thân đinh, từng ly từng tí, rồi bỗng khựng lại, mặt biến sắc, tay run lên.
- Thằng An, mày xem này. Xem kỹ chỗ này.
Diệp An cúi xuống nhìn qua kính lúp. Trên thân đinh, khắc chìm một dòng chữ nhỏ xíu, tinh xảo, nét khắc còn sắc lẹm như mới khắc hôm qua: Vĩnh Hằng - lô 7.
Hai chú cháu nhìn nhau, không ai nói nên lời. Gió chiều thổi qua cánh đồng lúa, làm những bông lúa còn non xào xạc, như tiếng thì thầm của một bí mật vừa được hé lộ. Mặt trời đã lặn một nửa xuống chân trời, ánh nắng đỏ rực như máu.
- Lô 7, - A Lực nói khẽ, giọng nặng trĩu, mắt nhìn đăm đăm vào dòng chữ khắc trên đinh. - Có lô 7 thì phải có lô 1, lô 2... đến lô 6. Chúng nó đúc đinh hàng loạt, đánh số lô như hàng hóa, như đinh ốc bán ngoài chợ. Đây không phải chuyện một hai cây đinh nữa, đây là cả một dây chuyền sản xuất tội ác.
Diệp An siết chặt cây đinh trong tay, mắt nhìn về phía xa, nơi mặt trời đã lặn hẳn, chỉ còn một vệt đỏ cuối trời. Trong đầu anh hiện lên tấm bản đồ da dê của chú Bảy, với những dấu chấm đỏ rải rác khắp Sài Gòn, mỗi dấu chấm là một ngôi mộ cổ, mỗi ngôi mộ có thể là một nạn nhân.
Lô 7. Những cây đinh này đã đi đến đâu? Còn bao nhiêu ngôi mộ nữa đang bị đóng đinh? Và... lô 7 này, ban đầu được định đóng ở đâu, đóng vào ai?
Câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu anh, nặng trĩu như chính cây đinh đang nằm trong lòng bàn tay. Anh cất cây đinh vào túi áo trong, cài khuy cẩn thận, như cất một lời thề.