Lên Hương - Chương 159: Lớp bùa sống
Sáng hôm sau, khi Diệp An đã tỉnh táo hoàn toàn, chú Bảy gọi anh ra gian thờ tổ nghề ở cuối tiệm. Đó là một gian nhỏ, trang nghiêm, với bàn thờ gỗ mít,…
Nội dung chương
Sáng hôm sau, khi Diệp An đã tỉnh táo hoàn toàn, chú Bảy gọi anh ra gian thờ tổ nghề ở cuối tiệm. Đó là một gian nhỏ, trang nghiêm, với bàn thờ gỗ mít, bát nhang đồng cũ kỹ, và bài vị tổ nghề mộc tang khắc chữ Nôm. Mùi nhang trầm thoang thoảng, ánh nắng sớm len qua khe cửa, tạo thành những vệt sáng mờ ảo.
- Hôm nay, hai chú cháu mình tu sửa lại "lớp bùa sống" trấn mộ số ba, - chú Bảy nói, giọng nghiêm túc. - Trận vừa rồi động đến long mạch, lớp bùa cũ đã suy yếu. Phải củng cố lại, không thì...
Ông không nói hết, nhưng Diệp An hiểu. Mộ số ba nằm ngay dưới chân họ, long mạch vừa bị động, nếu không trấn giữ cẩn thận, hậu quả khó lường.
- Mình làm gì hả chú? - Diệp An hỏi.
- Ba việc, - chú Bảy giơ ba ngón tay. - Một, thay bát nhang tổ nghề mới, vì bát cũ đã nứt sau trận động đất nhẹ đêm qua. Hai, chú dạy cháu bài khấn giữ mạch, mỗi đêm đúng 0 giờ, cháu phải ra đây thắp nhang khấn một lần, không được quên, không được trễ. Ba, quét dọn lại toàn bộ gian thờ, lau từng tấm bài vị, thay nước cúng.
Hai chú cháu bắt tay vào việc. Chú Bảy cẩn thận nhấc bát nhang cũ xuống, gói vào vải đỏ để chôn ở góc vườn sau tiệm theo đúng lễ. Rồi ông lấy ra một bát nhang đồng mới, đã chuẩn bị sẵn từ Huế mang về, đặt lên bàn thờ. Diệp An lau chùi bàn thờ, thay nước cúng, thắp ba nén nhang mới.
- Bây giờ chú dạy cháu bài khấn giữ mạch, - chú Bảy nói, lấy trong túi ra một tờ giấy dó cũ, trên đó viết bài khấn bằng chữ Nôm. - Bài này dài hơn bài khấn phá trận, phải học thuộc lòng. Mỗi đêm 0 giờ, cháu đứng trước bàn thờ này, thắp ba nén nhang, khấn bài này một lần, tâm phải tĩnh, lòng phải thành. Quên một đêm, mạch đất động. Trễ một giờ, bùa suy. Nhớ kỹ chưa?
- Dạ, nhớ rồi, - Diệp An gật đầu, lòng dấy lên một trách nhiệm nặng nề mà thiêng liêng.
Diệp An nhận tờ giấy, đọc kỹ từng chữ. Bài khấn là một bài văn vần cổ, cầu xin tổ nghề phù hộ, cầu xin long mạch yên ổn, cầu xin người xưa nằm yên dưới đất được giấc ngủ bình an. Anh đọc đi đọc lại mấy lần, rồi nhắm mắt lại, lẩm nhẩm học thuộc. Chú Bảy ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng lại sửa cho anh một chữ phát âm sai, giảng giải ý nghĩa từng câu.
- Câu này nghĩa là "đất yên thì người yên", - chú Bảy chỉ vào một dòng chữ Nôm. - Tổ nghề mình dạy, người làm nghề tang không chỉ lo cho người chết, mà còn phải lo cho đất. Đất động thì mồ mả động, mồ mả động thì người sống cũng không yên.
- Dạ, con hiểu, - Diệp An nói, ghi chép cẩn thận vào sổ tay. - Chú ơi, bài khấn này chú học từ ai?
- Từ ông nội cháu, - chú Bảy cười buồn. - Ông là thợ mộc tang giỏi nhất Chợ Quán hồi đó. Chú học lóm được, rồi tự mày mò thêm. Giờ truyền lại cho cháu, coi như của hồi môn.
Hai chú cháu cùng cười, nhưng trong nụ cười có cả sự trang nghiêm của một nghi lễ truyền nghề. Diệp An biết, từ đêm nay, mỗi đêm 0 giờ, anh sẽ đứng trước bàn thờ này, thắp nhang, khấn bài khấn giữ mạch. Đó không chỉ là nhiệm vụ, đó còn là lời hứa với chú Bảy, với tổ nghề, và với người nằm dưới nền nhà.
- Tốt, - chú Bảy gật gù sau một buổi sáng. - Cháu học nhanh hơn chú hồi trẻ. Tối nay bắt đầu thực hành luôn.
Trong lúc hai chú cháu tu sửa gian thờ, ngoài sân tiệm, xóm Chợ Quán đang mở tiệc mừng. Bà con mang bàn ghế ra giữa hẻm, bày biện đủ món ăn: bánh tét, bánh chưng, xôi gấc, gà luộc, heo quay. Trẻ con chạy nhảy tung tăng, người lớn cười nói rôm rả. Không khí như Tết đến sớm.
Tư Hủ Tiếu, như thường lệ, là đầu bếp chính. Ông đãi cả xóm một nồi cháo gừng to nhất từ trước tới nay, nồi cháo to đến mức phải dùng cái muôi dài cả thước mới khuấy được. Mùi cháo thơm phức lan khắp con hẻm, ai đi qua cũng phải dừng lại hít hà.
- Cháo của Tư Hủ Tiếu là nhất! - Một bác trong xóm khen. - Ăn vào ấm cả người!
- Ừ, - Tư Hủ Tiếu cười toe toét, mồ hôi nhễ nhại. - Cháo này tao nấu bằng cả tấm lòng đó. Mừng xóm mình thoát nạn, mừng tiệm Vạn Niên Cư thắng lớn!
Bà Hai Xuyến ngồi ở bàn đầu, vừa ăn cháo vừa kể chuyện ngày xưa cho mấy đứa trẻ nghe. Bà kể chuyện xóm Chợ Quán thời bà còn trẻ, chuyện những người thợ mộc tang giỏi nghề, chuyện những đêm nghe tiếng chuông của tiệm Vạn Niên Cư mà thấy lòng bình yên. Đám trẻ nghe say sưa, mắt tròn xoe.
- Bà ơi, tiệm Vạn Niên Cư có ma không bà? - Một đứa trẻ hỏi.
- Có chứ, - bà Hai Xuyến cười. - Nhưng ma ở tiệm này là ma hiền, ma tốt. Chúng nó phù hộ cho xóm mình đó.
Bé Ba đang bay lượn trên đầu đám trẻ, nghe vậy thì cười tít mắt, sà xuống xoa đầu từng đứa, dù chúng không thấy cô bé mà chỉ thấy tóc mai khẽ động, má mát lạnh như có ai vừa lướt qua.
Diệp An và chú Bảy, sau khi xong việc ở gian thờ, cũng ra dự tiệc. Bà con vây quanh hai chú cháu, người chúc sức khỏe, người cảm ơn, người mời rượu. Chú Bảy uống liền mấy chén, mặt đỏ bừng, cười hề hề. Diệp An thì chỉ uống trà, nhưng nụ cười trên môi anh tươi hơn bao giờ hết.
- Thằng An giỏi quá! - Một bác trong xóm vỗ vai anh. - Nghe nói cháu vẽ tranh cho người âm siêu thoát, giỏi như thần tiên vậy!
- Dạ, cháu chỉ làm nghề thôi bác, - Diệp An cười ngượng ngùng.
- Nghề này là nghề tích đức đó cháu, - bác nói, giọng trầm xuống. - Xóm mình có tiệm Vạn Niên Cư là phúc lớn.
Tiệc tàn lúc chạng vạng tối. Bà con ra về, ai cũng no nê, vui vẻ. Tư Hủ Tiếu ngồi bệt xuống đất, thở hổn hển, chiếc khăn rằn vắt vai ướt đẫm mồ hôi:
- Mệt... mệt quá... Nấu cho cả xóm ăn mệt hơn khiêng quan tài. Mà cái nồi cháo to đó, tao phải đứng khuấy suốt hai tiếng đồng hồ, tay giờ còn mỏi nhừ.
- Nhưng vui, phải không? - A Lực cười, đưa cho ông một ly nước.
- Ừ, vui, - Tư Hủ Tiếu gật đầu, mắt hoe đỏ. - Lâu lắm rồi xóm mình mới vui như vậy.
Đêm xuống, khi mọi người đã về hết, chú Bảy ngồi một mình ở góc tiệm, với vò rượu gừng còn dang dở. Ông không uống nhiều như mọi khi, chỉ nhấp từng ngụm nhỏ, mắt nhìn Diệp An đang lau dọn bàn ghế ngoài sân, đăm đăm như có điều muốn nói.
Diệp An cảm nhận được ánh mắt của chú, quay lại:
- Chú nhìn gì con dữ vậy?
- À... không có gì, - chú Bảy cười hề hề, nhưng nụ cười có vẻ gượng gạo. - Chú chỉ nghĩ... thằng cháu của chú lớn thật rồi. Mới ngày nào còn là thằng nhóc hay khóc nhè, giờ đã là người đàn ông gánh vác được việc lớn.
- Chú đừng có sến, - Diệp An cười, nhưng trong lòng anh dấy lên một cảm giác lạ. Ánh mắt của chú Bảy đêm nay khác mọi khi, như thể ông đang giấu một chuyện quan trọng mà ông chưa dám nói ra.
- Chú ơi, - Diệp An ngồi xuống bên cạnh chú. - Chú có chuyện gì muốn nói với con phải không?
Chú Bảy im lặng một lúc lâu, nhìn vào chén rượu trong tay, rồi ngẩng lên nhìn đứa cháu. Môi ông mấp máy như muốn nói gì đó, nhưng rồi lại thôi. Ông rót thêm một chén rượu, uống cạn, rồi đứng dậy:
- Mai theo chú ra nghĩa địa, có chuyện phải kể.
Nói xong, ông đi thẳng vào gian sau, để lại Diệp An ngồi một mình với đầy thắc mắc. Bé Ba hiện ra bên cạnh, khẽ lắc chiếc chuông đồng trong tay như đồng tình với một bí mật mà cô bé biết nhưng không nói.
Đêm đầu tháng hai se lạnh, đèn lồng sen trắng đung đưa trước cửa tiệm. Gió lùa qua con hẻm mang theo mùi hoa sữa cuối mùa thoang thoảng. Diệp An nhìn theo bóng chú Bảy khuất sau cánh cửa, trong lòng dấy lên một dự cảm: ngày mai, sẽ có một chuyện rất quan trọng được kể ra. Một chuyện mà chú Bảy đã giấu kín, có lẽ còn lâu hơn cả bí mật về mộ số ba.