Nhà Có Đám - Chương 13: Chương 013: Lò Gạch Bỏ Hoang
Liên bước ra khỏi bãi keo tràm. Gió bấc thổi mạnh hơn. Những cành keo khẳng khiu cọ vào nhau phát ra tiếng kêu kèn kẹt. Cô nhét mảnh áo đồng phục thêu…
Nội dung chương
Liên bước ra khỏi bãi keo tràm. Gió bấc thổi mạnh hơn. Những cành keo khẳng khiu cọ vào nhau phát ra tiếng kêu kèn kẹt. Cô nhét mảnh áo đồng phục thêu chữ Hương vào túi áo khoác công nhân màu xanh thẫm. Năm đồng tiền lẻ dính sáp đỏ được cô nắm chặt trong lòng bàn tay phải. Mồ hôi tay tiết ra làm những tờ tiền giấy ẩm ướt dính chặt vào da thịt. Cô cảm nhận được những vết sáp nến cộm lên thô ráp.
Đế dép cao su Tiền Phong của Liên lún sâu xuống bùn đỏ. Vệt bùn kéo lê trên mặt đất vẫn còn rất rõ. Nó lách qua những gốc cây keo rồi đâm thẳng xuống thung lũng đất sét phía dưới. Nơi đó có lò gạch bỏ hoang của xã. Cô đi theo vệt bùn. Đường đi dốc dần. Những bụi cây xấu hổ gạt vào ống quần kaki của cô làm rách vài sợi chỉ. Liên không để ý. Mắt cô đổ dồn vào vệt kéo lê dưới đất. Vệt bùn này rộng chừng hai gang tay. Đất hai bên bị gạt sang hai phía tạo thành một rãnh nhỏ. Nó giống như có người đang kéo lê một bao tải nặng. Hoặc một thân người không còn sức cử động.
Mưa phùn mùa xuân rơi lất phất trên mặt Liên. Nước mưa lạnh buốt bám vào mi mắt cô. Cô dùng mu bàn tay trái quẹt ngang mặt. Nước mưa lẫn với mồ hôi mặn chát chảy vào khóe miệng. Cô nhìn xuống thung lũng.
Lò gạch cũ hiện ra trong màn sương mù xám xịt của buổi chiều muộn. Đó là một cấu trúc hình tháp tròn xây bằng gạch chỉ đỏ. Lò gạch này bỏ hoang từ cuối những năm chín mươi khi xã cấm đốt lò thủ công. Tường lò nứt toác những đường dài như những con rết khổng lồ bò trên vách. Phần mái ngói phía trên đã sụp đổ một nửa. Những viên ngói vỡ nằm ngổn ngang dưới chân tường. Cây dại và dây leo héo úa bám đầy xung quanh thân lò. Làng xóm không ai lui tới đây. Họ bảo đất này động. Ngày xưa có người chết tai nạn lao động khi xúc đất sét ở đây. Quân đồn đêm đêm vẫn nghe tiếng xe cút kít chở gạch chạy rầm rập quanh lò.
Liên đứng trước vòm cửa lò gạch. Cửa lò xây bằng gạch chỉ đỏ, hình vòm cuốn thấp. Gạch đã mục, nhiều chỗ vỡ vụn ra thành bột đỏ quạch. Cỏ dại mọc um túm che kín lối vào. Vệt bùn đỏ kéo thẳng qua đám cỏ dại, đè bẹp những cọng cỏ non khuất vào bóng tối bên trong vòm cửa.
Liên giơ chiếc đèn pin vỏ sắt lên. Chiếc đèn pin Hải Phòng mạ crom rỉ sét loang lổ. Cô dùng ngón tay cái trượt mạnh nút nhựa đỏ trên thân đèn. Công tắc kêu tạch một tiếng khô khốc. Ánh sáng vàng đục phát ra. Ánh sáng lập lòe vài cái rồi mờ hẳn đi. Quả pin Con Thỏ bên trong chắc đã chảy nước. Liên lắc mạnh chiếc đèn pin vào lòng bàn tay. Ánh sáng tỏ hơn một chút nhưng vẫn đục ngầu. Cô bước qua vòm cửa lò gạch.
Một mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi cô. Liên đưa tay che mũi. Cô ho khan mấy tiếng. Mùi này không phải mùi chuột chết. Nó là mùi của thứ nước lá đun để lâu ngày bị phân hủy và lên men thiu.
Không khí bên trong lò gạch đặc quánh và lạnh hơn bên ngoài. Nước mưa từ mái ngói sụp nhỏ giọt xuống nền đất nện kêu tộp tộp. Tiếng gió rít qua những khe nứt trên tường nghe u u như tiếng còi tàu từ xa vọng lại.
Liên rọi đèn pin sang góc bên trái lò gạch. Cô thấy một phản rơm. Người ta xếp rơm nếp dày cộp lên trên những thanh tre gác tạm trên đống gạch vỡ. Rơm này đã chuyển sang màu đen xám vì ẩm mốc. Giữa phản rơm có một khoảng trũng sâu. Đó là vết nằm của một người. Vệt trũng dài chừng mét rưỡi. Liên tiến lại gần phản rơm. Cô thấy trên những cọng rơm khô còn vương vài sợi tóc đen dài. Dưới chân phản rơm có một chiếc khuy áo nhựa màu trắng bị đứt chỉ. Chiếc khuy áo này cùng loại với khuy áo đồng phục học sinh của Hương.
Bên cạnh phản rơm là một chiếc chậu nhôm Hải Phòng cũ. Chiếc chậu bị sứt một bên quai, đáy chậu méo mó vì va đập. Trong chậu đựng thứ nước màu vàng sậm, đen kịt ở đáy. Mặt nước nổi lên một lớp váng mốc trắng xóa. Đó là nước lá thơm. Liên ngửi thấy mùi sả, mùi hương nhu, mùi lá bưởi thối rữa. Thứ nước này vốn dùng để tắm gội cho người chết trước khi khâm liệm. Hoặc để tắm cho cô dâu trong đêm xuất giá. Tại sao nó lại nằm ở đây.
Liên rọi đèn pin xuống đất. Dưới chân chậu nhôm có những vết nước bắn tung tóe. Đất xung quanh nhão nhoét. Vệt bùn kéo lê ban nãy dừng lại ngay cạnh chiếc chậu nhôm này.
Liên quay đèn pin sang góc bên phải. Dưới chân tường gạch đổ nát là một chiếc lồng tre tròn. Loại lồng này người ta hay dùng để nhốt gà vịt mang ra chợ bán, hoặc để nhốt mèo đen. Cửa lồng làm bằng thanh tre trượt dọc, giờ đang mở toang.
Liên cúi xuống sát chiếc lồng tre. Cô ngửi thấy mùi hôi của lông động vật. Ánh đèn pin rọi vào bên trong lồng. Dưới đáy lồng, trên những nan tre ép dẹt, có những vệt màu nâu đỏ đã khô. Đó là máu. Có những sợi lông ngắn, màu đen tuyền bám vào vết máu khô đó.
Đó là lông mèo đen.
Liên đứng thẳng người dậy. Lớp da gà nổi lên dọc hai cánh tay cô. Ở đám tang quê tôi, mèo đen là thứ kỵ nhất. Ông bà ngày trước bảo con mèo đen nhảy qua quan tài thì người chết bật dậy được. Nên mỗi nhà phải nhốt mèo vào lồng tre.
Liên quay người lại. Ánh đèn pin quét vào giữa lòng lò gạch.
Ở đó đặt hai chiếc ghế băng bằng gỗ xoan. Ghế băng đã mục nát, chân ghế cắm sâu vào nền đất ẩm để giữ thăng bằng. Trên hai chiếc ghế băng là một khối hộp dài, vuông vức.
Khối hộp được phủ kín bằng một tấm chăn chiên màu đỏ cờ. Tấm chăn chiên này rất quen thuộc với những gia đình ở nông thôn những năm chín mươi. Giữa tấm chăn thêu hình đôi chim bồ câu ngậm bông hồng màu hồng nhạt đã bạc màu. Tấm chăn bám đầy bụi đất, mạng nhện và ướt sũng nước mưa. Nước từ mái lò gạch dột xuống thấm đẫm vào tấm chăn chiên, làm nó nặng trịch, rủ xuống sát đất.
Liên bước lại gần. Mỗi bước đi của cô nặng nề. Tiếng dép cao su lách nhách trên đất bùn.
Mùi gỗ mới lẫn mùi dầu rái bốc lên từ dưới tấm chăn đỏ. Dầu rái là thứ người ta dùng để quét lên quan tài chống mối mọt và thấm nước. Liên đứng trước khối hộp dài. Cô biết rõ dưới tấm chăn đỏ kia là cái gì. Đó là một cỗ quan tài gỗ thiên. Gỗ thiên là loại gỗ dày chuyên dùng làm áo quan cho người chết.
Liên nín thở. Cô nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực. Cô đưa bàn tay run rẩy ra. Ngón tay cô chạm vào mép tấm chăn chiên đỏ. Vải len dạ ẩm ướt, lạnh buốt.
Liên lấy đà. Cô giật mạnh tấm chăn xuống.
Tấm chăn nặng trịch rơi xuống đất bùn, phát ra tiếng bịch nặng nề. Bụi bẩn và nước mưa bắn tung tóe vào ống quần Liên.
Cỗ quan tài gỗ thiên hiện ra dưới ánh đèn pin.
Nó được làm bằng gỗ dày, sơn ta màu đen bóng loáng. Lớp sơn đen sâu thẳm, phản chiếu ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn pin của Liên. Quan tài dài chừng mét bảy, bề ngang rộng năm mươi phân.
Liên đưa đèn pin rọi dọc theo chiều dài nắp quan tài.
Trên mặt nắp gỗ đen bóng, xuất hiện năm vết cào. Năm vết cào song song, kéo dài từ đầu quan tài đến giữa nắp. Vết cào sâu hoắm, cào rách lớp sơn ta màu đen, lộ ra thớ gỗ màu vàng nhạt bên trong. Những thớ gỗ còn xơ ra, chưa hề bị bám bụi hay xỉn màu. Vết cào còn rất mới. Nó giống như vết móng tay của một người cố sức cào cấu từ bên trong nắp quan tài.
Liên đứng chôn chân tại chỗ. Cô di chuyển ánh đèn pin về phía đầu quan tài, nơi có chiếc khóa sắt hoen gỉ dùng để chốt chặt nắp quan tài vào thân.
Trong khe khóa sắt nhỏ xíu, có một sợi tóc dài màu đen nhánh mắc kẹt vào. Sợi tóc bị kẹp chặt giữa nắp gỗ và tai khóa sắt, rủ xuống, đung đưa nhẹ theo làn gió bấc lùa qua kẽ tường lò gạch đổ nát.