Nhà Có Đám - Chương 12: Chương 012: Bãi Keo Sau Làng

Liên bước qua hàng rào tre đổ nát phía sau nhà Tuấn. Đế dép cao su lún sâu vào lớp đất đỏ nhão nhoét. Mưa phùn mùa xuân rơi lất phất, bám vào những sợi…

Nội dung chương

Liên bước qua hàng rào tre đổ nát phía sau nhà Tuấn. Đế dép cao su lún sâu vào lớp đất đỏ nhão nhoét. Mưa phùn mùa xuân rơi lất phất, bám vào những sợi tóc mai của cô. Gió bấc thổi từ phía cánh đồng vào, mang theo hơi lạnh buốt của đất cày. Cô giơ chiếc đèn pin vỏ sắt lên. Ánh sáng vàng đục quét qua những gốc keo lá tràm đứng san sát nhau.

Bãi keo sau làng im lìm dưới màn sương mù xám xịt. Những thân cây keo tràm gầy guộc, vỏ xám mốc, cành lá khẳng khiu chĩa lên trời như những cánh tay khô héo. Đất dưới chân cô mềm và lún. Vệt bùn đỏ kéo dài từ chân hàng rào nhà Tuấn vẫn còn rất rõ. Đó là một đường rãnh sâu, đất hai bên bị gạt sang hai phía. Vết kéo lê rộng chừng hai gang tay. Nó đè nát những bụi cỏ dại và lá keo khô trên mặt đất.

Liên đi theo vệt bùn. Cô bước từng bước cẩn thận để không bị trượt chân xuống những hố đất trũng. Tiếng bùn nhão hút lấy đế dép nghe sột soạt, nặng nề. Đèn pin trong tay cô chập chờn. Cô phải dùng lòng bàn tay đập mạnh vào phần đuôi sắt của đèn. Một tiếng cạch khô khốc vang lên. Ánh sáng vàng yếu ớt lại hiện ra. Loại đèn pin vỏ sắt Trung Quốc này chạy bằng hai quả pin đại Con Thỏ, dùng lâu rất nhanh hết pin. Cô biết mình không còn nhiều thời gian trước khi trời tối hẳn.

Liên đứng dưới chân hàng rào nhà Tuấn. Ngôi nhà ngói sông Cầu của gia đình Tuấn im lìm như một ngôi mộ cổ. Cửa chính đóng chặt, hai cánh cửa gỗ lim đen sì không một kẽ hở. Không có một tiếng động nào phát ra từ bên trong. Ngay cả con chó mực xích ở góc sân mọi ngày vẫn sủa dữ dội, hôm nay cũng im hơi lặng tiếng. Liên nhìn xuống vệt bùn dưới chân. Đồng tiền hai trăm đồng dính sáp đỏ cô vừa nhặt được vẫn nằm im trong túi áo. Cô hướng ánh đèn pin về phía bãi keo. Vệt bùn kéo lê dẫn thẳng vào bóng tối âm u của những tán lá tràm.

Mưa phùn bắt đầu nặng hạt hơn. Những giọt nước mưa lạnh ngắt rơi bộp bộp lên chiếc nón lá cũ cô đội trên đầu. Liên kéo cao cổ áo khoác len. Chiếc áo len màu xám này cô mua từ hồi còn học sư phạm dưới thị xã, giờ đã sờn rách ở cùi chỏ. Cô bước chân vào bãi keo. Đất đỏ bãi keo nổi tiếng là dính và trơn. Chỉ sau vài bước, hai chiếc dép cao su của cô đã bám đầy bùn, nặng trịch như đeo đá.

Càng đi sâu vào bãi keo, mùi lá keo mục càng nồng, bám chặt vào vạt áo. Nhưng lẫn trong mùi lá mục ấy, Liên ngửi thấy một mùi hương khác. Cô dừng bước, ngửng mũi lần theo hướng thoảng của mùi hương.

Đó là mùi nước lá thơm. Mùi hương của lá mùi già, lá sả và vỏ bưởi héo được đun sôi. Người dân quê cô thường đun loại nước này vào chiều ba mươi Tết để tắm gội tất niên. Hoặc họ dùng nó để lau rửa thân thể cho người chết trước khi khâm liệm vào quan tài. Mùi hương ấm áp nhưng đặt trong bãi keo lạnh lẽo này lại tạo cảm giác kỳ quái.

Liên đi qua một cây keo nhỏ bị gãy ngọn. Trên cành cây thấp, một dải vải màu đỏ tươi đang bay phấp phới trước gió bấc. Cô bước tới, giơ tay chạm vào dải vải. Nó là một mảnh vải thô, loại vải nhuộm rẻ tiền thường dùng để may vỏ chăn bông ở nông thôn. Mảnh vải ướt sũng nước mưa. Khi cô đưa lên gần mũi, mùi nước lá thơm sực lên nồng nặc.

Cô nhìn kỹ mép vải. Vết xé còn rất mới. Những sợi chỉ đỏ tua rua tưa ra, bám vào lớp vỏ cây keo xù xì. Ai đó đã đi qua đây mang theo một tấm vải đỏ lớn, và một mảnh của nó đã bị gai keo giữ lại.

Liên nhét mảnh vải đỏ vào túi áo khoác len sờn góc. Cô tiếp tục đi theo vệt bùn.

Liên tiếp tục bước đi. Dưới chân cô, bùn đỏ mỗi lúc một nhão. Gió bấc thổi mạnh làm những cành keo khô gãy rụng rơi xuống đất nghe rốp một tiếng. Liên dừng lại khi đèn pin quét qua một vật thể màu đen nằm chắn ngang lối đi.

Đó là xác một con mèo đen. Con mèo nằm nghiêng trên lớp lá keo mục, thân hình cứng đờ. Liên tiến lại gần, cúi người soi đèn. Con mèo bị cắt mất hai tai. Vết cắt nham nhở, máu đã đông cứng thành những cục màu đen sẫm bám vào bộ lông xơ xác. Mắt con mèo vẫn mở trừng trừng, đục ngầu dưới ánh đèn pin.

Người dân quê cô rất kỵ mèo đen. Khi trong nhà có người chết, tất cả mèo trong xóm đều phải bị nhốt chặt vào lồng tre. Làng sợ mèo nhảy qua quan tài sẽ làm người chết bật dậy, biến thành quỷ nhập tràng. Con mèo đen này bị giết và cắt tai vứt ở đây. Chuyện này không thể trùng hợp đến thế. Đây là một phần của nghi lễ trấn yểm. Người ta muốn chặn mọi đường sống của linh hồn.

Liên bước qua xác con mèo. Sự ghê tởm và sợ hãi dâng lên trong lòng cô. Cô siết chặt chiếc đèn pin vỏ sắt trong tay.

Cô nhớ lại những gì xảy ra sáng nay. Cô đã cầm đèn pin đi gõ cửa từng nhà trong xóm để hỏi tin tức của Hương. Nhưng nhà nào cũng cài then gỗ chặt chẽ. Tiếng gõ cửa của cô chỉ nhận lại sự im lặng đáng sợ. Chỉ có một nhà duy nhất hé cửa. Đó là nhà bà cụ Tứ ở cuối xóm.

Bà cụ hé cánh cửa gỗ mục nát, để lộ khuôn mặt đầy nếp nhăn và đôi mắt đục ngầu.

- Con bé đi làm dâu rồi. Cô giáo hỏi làm gì nữa.

Bà cụ nói bằng giọng khàn đặc, hơi thở có mùi trầu không nồng nặc.

- Nhưng Hương mới mười ba tuổi. Sao lại đi làm dâu vào lúc này?

Liên hỏi dồn, tay vịn chặt vào mép cửa.

- Số nó thế. Nhà nó nhận trầu cau rồi. Cô về đi, đừng xía vào việc của làng.

Bà cụ sập cửa lại. Tiếng then tre cài cạch một tiếng khô khốc.

Liên nhớ lại ánh mắt của bà cụ Tứ lúc đó. Ánh mắt đục ngầu nhưng chứa đầy sự cảnh cáo.

- Cô giáo là người ngoài. Kẻ ngoài cuộc tốt nhất là đừng hỏi chuyện của làng. Biết nhiều chỉ tổ rước họa vào thân.

Bà cụ Tứ nói thêm một câu trước khi đóng cửa.

- Nhưng con bé học trò của cô. Cô dạy nó từng ngày mà.

Liên đã nói vọng qua khe cửa.

- Trách nhiệm của cô là dạy chữ. Còn việc của làng là việc của trời đất. Cô chống lại được trời đất không?

Tiếng cười khục khục của bà cụ vang lên sau cánh cửa, rồi tắt lịm.

Liên siết chặt nắm tay. Cô không tin vào trời đất của cái làng này. Cô chỉ biết Hương cần cô. Con bé mới mười ba tuổi. Nó còn quá nhỏ để hiểu được những hủ tục tàn nhẫn của người lớn.

Liên lắc đầu gạt bỏ ký ức đó. Hương là một học sinh ngoan. Con bé hay ngồi ở bàn thứ ba bên dãy cửa sổ. Nó gầy gò, da dẻ xanh xao vì thiếu ăn. Mỗi lần lên bảng, tay nó run bần bật. Có lần Liên thấy cổ tay Hương quấn một sợi chỉ đỏ ba vòng. Khi cô hỏi, con bé chỉ cúi đầu không nói.

Liên nhớ lại một buổi chiều tuần trước. Hương ở lại trực nhật lớp sau giờ học. Con bé cầm cây chổi tre quét dọn những hạt cát khô trên nền xi măng nứt nẻ. Liên ngồi ở bàn giáo viên chấm bài. Cô chợt nghe tiếng Hương lầm rầm khấn vái. Cô ngẩng đầu lên, thấy Hương đang đứng trước chiếc bàn học thứ ba. Con bé đặt một mẩu bánh mì khô lên bàn, rồi chắp hai tay trước ngực.

- Hương làm gì thế?

Liên hỏi.

- Con cúng cho bạn.

Hương giật mình, giấu vội hai tay sau lưng.

- Bạn nào? Lớp mình chỉ có mười hai bạn ngồi đây thôi mà.

- Bạn thứ mười ba. Bạn nằm dưới gầm bàn và bảo rằng bạn đói lắm.

Liên lúc đó chỉ nghĩ trẻ con nghèo đói nên hay tưởng tượng ra những chuyện kỳ quái. Cô bảo Hương đi về sớm kẻo trời tối. Giờ đây, đứng giữa bãi keo lạnh lẽo, cô mới nhận ra sự đáng sợ trong lời nói của con bé. Bạn thứ mười ba ngồi dưới gầm bàn. Vệt đất đỏ dưới bàn học thứ ba kéo ra tận cửa sau. Có phải người ta đã kéo Hương đi từ chính vị trí đó?

Vệt bùn kéo lê dưới đất bắt đầu ngoằn ngoèo. Có những chỗ bùn bị xới tung lên như thể người kéo vật nặng đã bị trượt chân. Liên cúi người, soi đèn sát mặt đất. Cô thấy những dấu chân người lớn. Đó là dấu dép cao su đúc, loại dép đàn ông trong làng hay đi khi ra đồng. Dấu chân lún sâu, phần gót bấm mạnh xuống đất đỏ. Có nhất hai người đàn ông đã đi qua đây.

Bên cạnh dấu dép cao su, Liên thấy những vệt tròn nhỏ lún sâu. Đó là vết đầu gậy chống xuống đất để lấy đà. Người đi sau phải dùng gậy chống mới giữ được thăng bằng khi kéo vật nặng.

Gió bấc lại thổi qua. Những cành keo khô gãy rụng rơi xuống đất nghe rốp một tiếng. Liên giật mình. Cô quay đầu lại nhìn phía sau. Chỉ có những thân cây keo xám xịt đứng im lìm trong sương mù. Không có ai bám theo cô. Nhưng cô cảm thấy có những ánh mắt đang nhìn mình từ sau những gốc cây. Dân làng chắc chắn biết cô đang ở đây. Họ biết nhưng họ im lặng. Sự im lặng của họ đáng sợ hơn cả bóng tối.

Liên tiếp tục bước đi. Vệt bùn dẫn cô đến một khu vực thưa cây hơn. Phía trước là những bụi cây mâm xôi dại đầy gai nhọn. Trên những bụi gai này, cô lại thấy những dải vải đỏ khác. Một dải, hai dải, ba dải. Chúng được buộc cẩu thả vào các cành gai. Giống như người đi trước muốn đánh dấu đường đi trong đêm tối.

Liên tiến lại gần bụi gai. Cô dùng một cành củi khô gạt những nhánh gai sang một bên. Mùi nước lá thơm ở đây còn nồng hơn. Nó xộc thẳng vào mũi cô. Cô nhìn xuống chân bụi gai. Có một chiếc gáo dừa bị vứt bỏ. Chiếc gáo dừa đen bóng, bên trong vẫn còn bám một lớp cặn màu trắng đục. Liên cúi xuống ngửi chiếc gáo. Mùi nước lá thơm tỏa ra từ đó. Người ta đã mang theo nước lá thơm ra tận đây để tắm rửa cho ai đó.

Tắm rửa ở giữa bãi keo hoang vắng này? Người ta tắm cho người sống hay người chết?

Liên cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại. Cô nhớ đến khuôn mặt tái nhợt của Hương. Con bé Hương gầy gò, nước da xanh xao vì thiếu ăn. Mỗi lần lên bảng làm bài, tay nó run bần bật. Liên thường cầm tay nó để chỉ cách viết chữ. Tay con bé lúc nào cũng lạnh ngắt như đồng tiền đồng dưới giếng.

Cô đi tiếp. Vệt bùn kéo lê bắt đầu mờ dần khi đất chuyển sang vùng nhiều sỏi đá. Nhưng những dải vải đỏ trên cành cây vẫn xuất hiện đều đặn. Chúng dẫn lối cho cô.

Cô đi đến một khu đất trũng. Nước mưa đọng lại thành những vũng lớn màu đỏ ngầu như máu. Vệt kéo lê đi thẳng qua vũng nước này. Liên phải đi vòng qua rìa vũng nước để tránh bị ngập dép. Cô soi đèn xuống vũng nước. Dưới đáy nước bùn đỏ, cô thấy một chiếc dép nhựa màu xanh của trẻ con nằm chìm nghỉm. Đó là chiếc dép của Hương. Chiếc dép nhựa đứt quai mà con bé vẫn thường dùng dây chuối khô để buộc lại.

Liên nhặt chiếc dép lên. Nó nặng trịch vì bùn đất bám đầy. Cô đặt chiếc dép lên một gốc keo gần đó. Lòng cô thắt lại. Nỗi sợ hãi dần bị thay thế bởi sự phẫn nộ và lo lắng cho học trò của mình.

Cô tiếp tục đi. Ánh đèn pin quét qua những thân cây keo xám xịt. Gió bấc rít qua những tán lá nhọn hoắt.

Phía trước có một cây keo cổ thụ. Thân cây to bằng hai người ôm, vỏ cây đen sì vì từng bị sét đánh. Một nửa thân cây đã chết khô, cành lá trơ trụi chĩa thẳng lên trời như những ngón tay gầy guộc. Nửa thân cây còn lại vẫn xanh tốt, cành lá xum xuê rủ xuống tạo thành một khoảng tối đen ngóm dưới gốc.

Vệt bùn kéo lê dừng lại ngay trước gốc cây này.

Liên bước chậm lại. Cô đưa đèn pin soi vào gốc cây. Dưới gốc cây keo cổ thụ có một hốc lớn. Hốc cây sâu hoắm, nằm sát mặt đất. Miệng hốc được che phủ bởi một tấm phên tre cũ kỹ, đã mục nát một nửa. Tấm phên tre này thường được dùng để che cửa chuồng gà hoặc làm giàn phơi sắn ở nông thôn.

Ai đó đã dựng tấm phên tre ở đây để che giấu hốc cây.

Liên tiến lại gần. Cô nghe thấy tiếng gió rít qua khe hở của tấm phên tre. Âm thanh nghe như tiếng thở dài của người sống. Cô đứng im vài giây, lắng nghe thật kỹ. Không có tiếng động nào khác ngoài tiếng gió và tiếng mưa phùn rơi trên lá keo.

Cô giơ tay phải, nắm lấy cạnh tấm phên tre. Tấm phên ướt sũng, lạnh ngắt và nhớp nháp bùn đất. Liên dùng lực kéo mạnh. Tấm phên tre đổ sụp xuống đất, phát ra một tiếng rầm nhẹ. Bụi bẩn và mùn gỗ bay ra, làm cô phải ho sặc sụa.

Liên đưa đèn pin soi vào trong hốc cây.

Hốc cây tối om. Ánh sáng vàng từ đèn pin quét qua những lớp lá keo khô, mùn cưa và những sợi tơ nhện chăng chịt. Ở góc sâu nhất của hốc cây, có một vật màu trắng đục nằm im lìm.

Vật đó có kích thước bằng một nắm tay. Nó nổi bật giữa đống mùn gỗ màu nâu xám.

Liên quỳ một chân xuống bùn. Cô thò tay vào trong hốc cây. Cánh tay cô chạm vào những sợi tơ nhện dai nhách bám đầy bụi. Cảm giác ngứa ngáy da thịt xuất hiện. Cô phớt lờ nó, cố gắng với tay sâu hơn. Ngón tay cô chạm vào vật màu trắng.

Nó mềm nhưng ẩm ướt. Đó là vải.

Liên nắm chặt vật đó rồi kéo ra ngoài. Cô đưa nó ra dưới ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn pin.

Đó là một chiếc bọc nhỏ được làm từ một mảnh vải trắng. Mảnh vải này có mép rách nham nhở, rõ ràng là bị xé vội từ một chiếc áo. Vải cotton mỏng, đã ngả sang màu cháo lòng vì mồ hôi và bụi bẩn. Trên góc mảnh vải, có một đường thêu bằng chỉ màu xanh lá cây đã sờn chỉ.

Liên nhìn kỹ những đường thêu. Đó là ba chữ viết hoa méo mó: "Nguyễn Thị Hương".

Đây là mảnh áo đồng phục học sinh của Hương. Liên tự tay phát chiếc áo đó cho con bé vào đầu năm học. Chính cô đã bảo các học sinh phải thêu tên mình lên ngực áo để tránh bị lẫn khi giặt giũ. Đường chỉ thêu vụng về này chính là do tự tay Hương thêu.

Chiếc bọc được buộc chặt bằng một sợi chỉ màu đỏ. Sợi chỉ đỏ quấn quanh chiếc bọc đúng ba vòng, nút thắt được thắt bằng hai nút chết.

Liên dùng ngón tay cạy nút thắt. Sợi chỉ đỏ dai và ẩm ướt, bám chặt vào lớp vải. Cô phải dùng móng tay bấm mạnh mới nới lỏng được nút thắt. Khi sợi chỉ đỏ được gỡ ra, cô mở mảnh vải trắng.

Bên trong mảnh áo đồng phục là năm đồng tiền lẻ.

Đó là năm tờ tiền giấy mệnh giá hai trăm đồng cũ kỹ. Những tờ tiền đã sờn mép, màu đỏ nhạt của tờ tiền bị bao phủ bởi những vệt sáp màu đỏ tươi. Vệt sáp đông cứng, bám chặt vào bề mặt giấy như những vết máu khô.

Liên cầm một tờ tiền lên. Cô đưa lên mũi ngửi.

Mùi sáp nến thơm trộn lẫn với mùi dầu rái nồng nặc. Mùi dầu rái dùng để miết các khe hở của quan tài gỗ.

Năm đồng tiền lẻ.

Ở quê cô, khi người chết được khâm liệm, người ta thường đặt vào tay họ một số đồng tiền lẻ. Số tiền này để họ trả tiền đò khi đi qua sông vong xuyên, hoặc để mua đường ở thế giới bên kia. Số lượng tiền lẻ thường là số lẻ: ba đồng, năm đồng hoặc bảy đồng.

Tại sao mảnh áo của Hương lại bọc năm đồng tiền lẻ này và giấu ở đây?

Liên nắm chặt năm đồng tiền lẻ trong tay. Lòng bàn tay cô cảm nhận được sự lạnh lẽo của những tờ tiền giấy thấm đẫm nước mưa và sáp nến.

Liên nhìn kỹ năm đồng tiền lẻ. Chúng là loại tiền giấy cotton cũ. Mặt trước in hình chân dung Bác Hồ, mặt sau in hình máy cày trên cánh đồng. Trên mỗi tờ tiền, vệt sáp đỏ được quệt chéo từ góc này sang góc kia. Vết sáp dày, đục ngầu. Khi cô miết ngón tay lên, sáp nến vỡ ra thành những vụn nhỏ màu đỏ tươi như những vảy máu khô bám vào kẽ móng tay cô.

Cô lật mặt sau của mảnh áo đồng phục. Mảnh áo bị xé thô bạo từ phần ngực trái, nơi có chiếc túi áo nhỏ. Vết rách nham nhở làm đứt một phần của đường chỉ may túi. Trên lớp vải trắng đục, ngoài ba chữ thêu tên Hương bằng chỉ xanh sờn, còn có một vết mực xanh đã nhòe đi vì nước mưa. Đó là vết mực từ chiếc bút máy Trường Sơn cũ mà Liên đã tặng Hương khi con bé đạt điểm cao môn Tiếng Việt vào tháng trước.

Chương khác

Xem thêm