Ta Thấy Quỷ Từ Khi Lọt Lòng - Chương 9: Chương 009: Bài Vị Quay Mặt

Vệt oán khí màu đỏ sậm trải dài trên nền gạch ẩm ướt, tỏa ra thứ mùi tanh nồng của xác chết lâu ngày. Dưới nhãn quan của ta, luồng âm khí màu đỏ tía ấy…

Nội dung chương

Vệt oán khí màu đỏ sậm trải dài trên nền gạch ẩm ướt, tỏa ra thứ mùi tanh nồng của xác chết lâu ngày. Dưới nhãn quan của ta, luồng âm khí màu đỏ tía ấy bò trườn qua các ngách hành lang, luồn lách dưới những bóng cây ngô đồng cổ thụ đang trút lá. Nó dẫn thẳng về phía đông nam của phủ họ Lê.

Nơi đó là từ đường.

Gió đêm thổi qua các khe cửa gỗ, phát ra tiếng rít dài lạnh lẽo. Ta rón rén bước đi, tà áo lụa mỏng quét nhẹ trên nền đất để xóa đi dấu chân của chính mình. Sự nghi ngờ trong lòng ta ngày một lớn khi nghĩ về chiếc trâm dính bùn giếng khắc tên người đàn bà bí ẩn dưới gối của tổ mẫu.

Từ đường là nơi cấm địa của gia tộc, ngày thường chỉ có tổ mẫu và gia trưởng mới có chìa khóa ra vào. Nhưng đêm nay, cánh cửa gỗ lim nặng nề lại khép hờ, để lộ một khe hở tối om hệt như cái miệng của một con quái thú đang chờ mồi.

Ta lách người qua khe cửa.

Mùi nhang tàn quyện với mùi gỗ mục và bụi bặm xộc thẳng vào mũi. Không gian bên trong tĩnh mịch đến đáng sợ. Những bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng đã xỉn màu treo lơ lửng trên cao, đổ bóng xuống mặt đất những hình thù kỳ dị.

Vệt máu âm khí bò đến bục gỗ cao nhất rồi biến mất.

Ta nhấc chân bước lên bục thờ, đưa mắt nhìn lướt qua hàng chục tấm bài vị được xếp ngay ngắn theo thứ bậc từ cao xuống thấp. Tất cả đều hướng mặt khắc tên ra ngoài, đón nhận ánh sáng và hương khói của con cháu đời sau.

Chỉ trừ ba tấm bài vị nằm ở góc khuất nhất phía sau bức bình phong gỗ.

Ta nheo mắt nhìn kỹ. Ba tấm bài vị gỗ sức sẹo, xám xịt đó đều bị xoay mặt vào tường. Phần lưng gỗ trơn nhẵn, bám đầy bụi đất lạnh lẽo phơi ra ngoài.

Hành động này trong phong thủy gọi là trấn hồn. Người sống xoay ngược bài vị của người chết vì sợ hãi vong linh của họ quay về báo oán, hoặc muốn giam cầm linh hồn họ vĩnh viễn trong bóng tối không thể luân hồi. Người sống sợ họ nhìn thấy tội ác của mình. Kẻ đứng sau chuyện này chắc chắn là tổ mẫu hoặc phụ thân ta.

Ta vươn tay, định xoay tấm bài vị đầu tiên lại để xem tên tuổi người dưới suối vàng.

Tiếng bản lề gỗ kêu lên một tiếng khục khặc khô khốc từ phía cửa ra vào.

Có người đang đến.

Ta lập tức lùi lại, nhanh chóng lách người nấp sau chiếc bình phong gỗ lớn vẽ cảnh tùng hạc đã mục nát ở góc phòng. Qua những kẽ hở của bình phong, ta nín thở quan sát cửa ra vào.

Hai bóng người mảnh mai lách qua khe cửa, bước đi nhẹ như mèo. Ánh sáng từ chiếc đèn lồng nhỏ bọc vải lụa xanh chiếu tỏ khuôn mặt của họ. Ta kinh ngạc khi nhận ra đó là Vân di di và Mặc di di.

Vân di di, người vốn luôn hoạt bát, hay nói hay cười trong phủ, lúc này mặt cắt không còn giọt máu. Nàng ôm khư khư chiếc đèn lồng trong ngực, đôi mắt lá liễu ngập tràn sự hoảng loạn. Đi phía sau nàng là Mặc di di. Nàng vẫn câm lặng, khuôn mặt bình thản đến lạnh lùng, nhưng đôi bàn tay siết chặt vào vạt áo đã tố cáo sự căng thẳng tột độ.

Họ tiến thẳng đến góc bàn thờ phụ.

Vân di di quỳ thụp xuống đất, nước mắt lã chã rơi trên nền gạch cổ. Nàng vươn tay chạm vào tấm bài vị thứ nhất bị xoay mặt vào trong, ngón tay run rẩy miết lên những nét chữ khắc sâu.

- Tỷ tỷ, muội lại đến thăm tỷ đây.

Giọng Vân di di nghẹn ngào, chỉ là tiếng thì thầm rất nhỏ nhưng trong từ đường vắng lặng lại rõ mồn một.

- Muội vẫn chưa tìm thấy thứ đó, tỷ ở dưới suối vàng hãy linh thiêng chỉ đường cho muội.

Mặc di di không nói lời nào. Nàng quỳ xuống bên cạnh Vân di di, hướng mắt về phía tấm bài vị thứ ba.

Đó là một tấm bài vị trống không. Trên mặt gỗ nhẵn thín không có lấy một nét chữ, không tên không họ, cũng không có ngày sinh tháng đẻ. Nhưng Mặc di di lại nhìn nó với ánh mắt đầy thành kính và đau đớn. Nàng cúi đầu, trán chạm sát đất, bả vai run lên bần bật theo từng nhịp thở dồn dập.

Ta nấp sau bình phong, lòng bàn tay đổ đầy mồ hôi lạnh. Mối quan hệ giữa hai vị di di này và những người đã chết trong phủ họ Lê rõ ràng không hề đơn giản. Người tỷ tỷ đã chết của Vân di di là ai? Và tấm bài vị không tên kia thờ phụng vong linh nào mà khiến Mặc di di phải quỳ lạy đau đớn đến thế?

Bỗng nhiên, Mặc di di giật phắt gấu áo của Vân di di. Nàng chỉ tay ra phía cửa từ đường, nét mặt lộ vẻ cảnh giác.

Có tiếng bước chân dập dồn của gia nhân đi tuần tra đêm bên ngoài.

Vân di di vội vàng lau nước mắt, nhanh chóng xoay các bài vị trở lại tư thế úp mặt vào tường như cũ. Mặc di di đỡ nàng đứng dậy, dập tắt ngọn đèn trong lồng lụa xanh. Hai người họ lách người qua cánh cửa phụ bên hông từ đường, biến mất vào bóng tối tĩnh mịch.

Đợi cho tiếng bước chân của họ hoàn toàn xa dần, ta mới từ sau bình phong bước ra.

Ta không bật lửa nữa mà dùng âm dương nhãn để nhìn trong bóng tối. Luồng khí âm ty lạnh lẽo tỏa ra từ ba tấm bài vị vẽ nên những đường nét mờ ảo màu xanh xám. Ta bước đến trước tấm bài vị trống mà Mặc di di vừa quỳ lạy.

Khi đưa tay vuốt dọc theo phần bục gỗ đặt bài vị, ngón tay ta chợt nhói đau. Một dăm gỗ nhỏ cắm vào da thịt. Ta đưa ngón tay lên mũi ngửi, mùi gỗ thông mới bị gọt đẽo còn thơm nồng, lấn át cả mùi nhang tàn xung quanh.

Nơi này có dấu vết mới.

Ta cúi người, nhìn xuống khoảng trống phía sau bàn thờ tổ tiên. Đây là nơi tiếp giáp giữa mặt sau của án thờ và bức tường gạch cổ kính.

Trên tấm gỗ lớn làm bệ đỡ án thờ, có những vết dao mới khắc. Đó là những nét khắc sâu, dứt khoát, có vẻ vừa mới được thực hiện cách đây không lâu. Những vụn gỗ nhỏ vẫn còn vương vãi trên bề mặt chưa kịp quét dọn.

Ta áp sát mặt vào khe hẹp, dùng ngón tay miết theo từng nét khắc để nhận dạng mặt chữ. Có ba ký tự được khắc song song nhau. Dưới mỗi ký tự là một nét gạch ngang sâu hoắm, như dấu vạch bỏ một mạng sống.

Ta chưa kịp nhìn kỹ xem đó là chữ gì thì từ phía sân trước của từ đường bỗng vang lên tiếng xôn xao dồn dập. Ánh đuốc sáng rực từ xa tiến lại, soi sáng cả một góc trời đêm.

Tiếng trống chầu vang lên dồn dập ba tiếng.

- Lão phu nhân có lệnh, toàn phủ tập hợp tại từ đường tế tổ!

Tiếng gọi của gia nhân truyền đi khắp các gian phòng, phá tan sự tĩnh mịch của đêm tối.

Ta giật mình. Tế tổ giữa đêm là chuyện vô cùng kỳ lạ. Tổ mẫu vốn là người trọng lễ nghi, chưa bao giờ có tiền lệ tế tổ vào giờ này. Chắc chắn có chuyện chẳng lành đã xảy ra. Có lẽ việc ta làm đổ hộp trầu và lấy đi chiếc trâm dưới gối của bà đã bị phát hiện. Bà ta dùng cớ tế tổ để vây bắt thủ phạm.

Nếu ta bị bắt quả tang đang ở trong từ đường một mình vào lúc này, trăm miệng cũng không bào chữa được. Ta nhanh chóng lau sạch vết máu trên tay, chỉnh đốn lại trang phục rồi lách người ra cửa sau của từ đường, men theo lối đi nhỏ phủ đầy cỏ dại để trở về phòng mình.

Chỉ mười lăm phút sau, ta đã đứng lẫn trong dòng người của phủ họ Lê đang lục đục kéo đến từ đường. Trời đêm lạnh thấu xương, gió bấc thổi mạnh làm những ngọn đuốc trên tay gia nhân cháy bập bùng, hắt những bóng đen dài ngoằn ngoèo lên bức tường gạch.

Tổ mẫu ngồi trên chiếc kiệu tre được bốn gia đinh khiêng thẳng vào sân từ đường. Khuôn mặt bà trầm mặc, nghiêm nghị như tượng đá, đôi mắt sắc lẹm như dao quét qua từng người đang quỳ dưới sân.

Bên cạnh kiệu của bà, phụ thân ta vẻ mặt nghiêm trọng, chắp tay đứng hầu.

Tất cả các di nương, thê thiếp và con cháu trong phủ đều đã có mặt, ai nấy đều run rẩy vì lạnh và sợ hãi. Vân di di và Mặc di di cũng đứng lẫn trong đám đông, vẻ mặt họ lúc này đã trở lại bình thường nhưng khó giấu được nét lo âu trong ánh mắt.

Tổ mẫu bước xuống kiệu, chống chiếc gậy đầu rồng gõ mạnh xuống nền gạch.

- Đêm nay ta nằm mộng thấy gia tiên quở trách, trong phủ có kẻ lòng dạ bất chính, dám đột nhập vào phòng ta để lấy cắp tín vật.

Giọng tổ mẫu khản đặc nhưng uy nghiêm, vang vọng khắp khoảng sân rộng.

- Kẻ đó không chỉ trộm đồ mà còn mang theo uế khí làm ô uế từ đường. Vì vậy, ta quyết định lập tức tế tổ để tìm ra kẻ thủ ác và thanh lọc gia môn.

Bà ta liếc nhìn về phía ta. Ánh mắt ấy lạnh đến rợn người, như rắn độc nhắm trúng con mồi.

Ta cúi đầu, vẻ mặt giả vờ sợ sệt hệt như một đứa trẻ nhút nhát, nhưng bàn tay trong ống áo đã siết chặt chiếc trâm dính bùn giếng thu được từ phòng bà. Trận chiến này, ta không thể lùi bước.

Chương khác

Xem thêm