Ta Thấy Quỷ Từ Khi Lọt Lòng - Chương 8: Chương 008: Chiếc Trâm Dưới Gối
Trong ký ức của kiếp trước, An Đường Viện là một vùng cấm địa đầy rẫy nỗi khiếp sợ. Ta từng bị phạt quỳ trên những viên gạch lát đá xanh lạnh buốt của…
Nội dung chương
Trong ký ức của kiếp trước, An Đường Viện là một vùng cấm địa đầy rẫy nỗi khiếp sợ. Ta từng bị phạt quỳ trên những viên gạch lát đá xanh lạnh buốt của sân viện này suốt ba ngày ba đêm chỉ vì làm phật ý tổ mẫu. Khi ấy, đầu gối ta rướm máu, da thịt đau đớn đến mức tưởng như không thể gượng dậy nổi. Tổ mẫu ngồi trên chiếc sập gụ, tay lần tràng hạt, gương mặt hiền từ của một Phật tử nhưng lời nói ra lại sắc lẹm như dao cạo, hạ lệnh phạt ta không chút xót thương. Kiếp này trùng sinh trở lại, ta không còn là đứa trẻ chỉ biết khóc lóc van xin. Mối thù của mẹ ta, mối thù của chính ta, và cả những oan hồn đang gào thét dưới giếng sâu kia, ta sẽ từng bước đòi lại đầy đủ.
Nắng chiều nhuộm một màu đỏ ối lên những bức tường rêu phong của An Đường Viện. Nơi này là chốn tĩnh tu của tổ mẫu, cũng là nơi tôn nghiêm nhất trong phủ họ Lê. Không khí lúc nào cũng đặc quánh mùi hương trầm quyện với mùi gỗ mục ẩm ướt. Ta nép mình sau khóm mẫu đơn ngoài sân, đôi mắt dõi theo bóng dáng của tổ mẫu vừa bước lên kiệu nhỏ để sang viện của Nhị thẩm bàn việc gia sản. Cơ hội của ta đã đến.
Theo lời di di kể lại, chiếc chìa khóa mở sợi xích sắt đang khóa chặt miệng giếng cổ ở hậu viện được tổ mẫu cất giấu ngay trong phòng ngủ của bà. Sợi xích kia không đơn thuần là vật khóa giếng, nó là thứ trói buộc vong hồn người đàn bà tội nghiệp dưới đáy sâu lạnh lẽo. Muốn giải thoát cho nàng, ta phải có được chiếc chìa khóa ấy. Nhưng một đứa trẻ bảy tuổi như ta làm sao có thể đường hoàng bước vào phòng ngủ của Thái phu nhân để lục lọi?
Ta nhìn xuống đôi bàn tay nhỏ bé của mình. Trong phủ này, sự yếu ớt và ngây ngô của một đứa trẻ chính là lớp ngụy trang hoàn hảo nhất. Không ai đề phòng một đứa trẻ chưa tự chải đầu nổi. Ta lấy vạt áo lau mồ hôi trên trán rồi giả vờ vừa chạy vừa cười khúc khích. Ta lao thẳng vào cửa chính của An Đường Viện.
Uông vú nuôi, kẻ hầu cận trung thành nhất của tổ mẫu, đang ngồi trên sập gỗ thêu áo. Thấy ta xồng xộc chạy vào, mụ nhíu đôi mày rậm, đặt ống chỉ xuống khay rồi lên tiếng:
- Đại tiểu thư, đây là nơi tôn nghiêm của Thái phu nhân, người không được làm loạn.
Ta không dừng lại, tiếp tục chạy vòng quanh chiếc bàn tròn đặt ở giữa phòng khách.
- Ta tìm con bướm giấy! Nó bay vào đây rồi!
Uông vú nuôi đứng dậy, toan bước tới giữ ta lại.
- Nơi này không có bướm nào cả, xin người hãy về viện cho.
Ta liếc nhanh lên chiếc bàn tròn bằng gỗ trắc. Trên mặt bàn có đặt một hộp trầu bằng gỗ mun khảm xà cừ tinh xảo. Đó là món quà quý giá do tri phủ tặng cho tổ mẫu nhân dịp mừng thọ năm ngoái. Bà quý nó hơn mạng sống, hằng ngày đều tự tay lau chùi sạch sẽ. Bên trong hộp chứa chiếc ống vôi bằng đồng thau, con dao bổ cau cán ngà voi cùng những lá trầu xanh phết vôi trắng xóa.
Ta vấp chân vào mép thảm, người đổ nhào về phía chiếc bàn. Đôi tay nhỏ bé của ta bám chặt lấy tấm khăn trải bàn bằng lụa đỏ rồi kéo mạnh.
Tiếng động vang lên chói tai. Chiếc hộp trầu gỗ mun rơi xuống sàn gạch, nắp hộp văng ra xa. Những lá trầu xanh, những quả cau khô cùng chiếc ống vôi bằng đồng lăn lóc khắp nơi. Vôi trắng tràn ra, vương vãi trên tấm thảm thêu hoa mẫu đơn quý giá. Việc làm đổ vôi trắng là điềm gở tối kỵ trong phủ, chắc chắn sẽ khiến tổ mẫu nổi trận lôi đình.
- Trời đất ơi!
Uông vú nuôi hét lên một tiếng thất thanh, gương mặt già nua tái nhợt đi vì kinh hãi. Mụ vội vàng quay sang quát tháo đám gia nhân bên ngoài:
- Các ngươi đâu mau vào đây dọn dẹp!
Hai nha hoàn nhỏ từ ngoài sân hớt hải chạy vào, mặt cắt không còn giọt máu khi nhìn thấy bãi chiến trường trên sàn. Mụ vú nuôi cuống cuồng cúi xuống nhặt chiếc ống vôi, miệng không ngừng la hét thúc giục bọn gia nhân.
- Đại tiểu thư, người hại chết chúng tôi rồi!
Ta vừa lùi lại vừa giả bộ sợ hãi:
- Con xin lỗi, con đi tìm quả thị ở trong kia!
- Đừng vào đó!
Uông vú nuôi hét lên phía sau nhưng không kịp đuổi theo vì đang bận tay nâng niu chiếc hộp trầu bị sứt góc.
Lợi dụng lúc hỗn loạn, ta lùi dần về phía sau bức bình phong bằng gỗ chạm trổ hoa văn cổ kính. Phía sau bức bình phong chính là phòng ngủ của tổ mẫu. Ta lẻn vào trong, khép hờ cánh cửa gỗ để ngăn tiếng ồn ào bên ngoài.
Phòng ngủ của tổ mẫu tối tăm và lạnh lẽo. Các ô cửa đóng kín mít, chỉ vài tia nắng le lói qua khe cửa chớp. Mùi nhang trầm nghẹn cổ họng. Giữa phòng là chiếc giường ba thành gỗ lim đen bóng, chạm khắc hoa văn cổ. Tấm màn gấm dày cộp rủ xuống che khuất phần bên trong giường.
Ta tiến nhanh về phía chiếc giường. Trên giường trải tấm nệm gấm thêu chữ thọ màu vàng kim. Phía đầu giường đặt một chiếc gối hộp bằng gỗ bọc da trâu đã sờn góc. Ta trèo lên giường, hai đầu gối quỳ trên mặt nệm êm ái. Tim ta đập dồn dập trong lồng ngực nhỏ bé. Ta luồn tay xuống dưới chiếc gối gỗ để tìm kiếm chìa khóa.
Không có chiếc chìa khóa nào cả. Khoảng không dưới gối trống rỗng, chỉ có lớp vải nệm phẳng phiu.
Ta hơi thất vọng, định lục tìm ở ngăn kéo nhỏ bên thành giường. Nhưng khi rút tay lại, ngón tay ta chạm phải một vật cứng nằm sâu ở khe hở giữa gối và vách giường. Ta dùng sức kéo vật đó ra. Đó là một gói nhỏ được bọc kỹ bằng nhiều lớp giấy dầu bóng lưỡng.
Ta cẩn thận mở từng lớp giấy. Bên trong chẳng phải chìa khóa đồng; đó là một chiếc trâm cài tóc bằng bạc.
Chiếc trâm không hề sáng bóng. Nó bị bao phủ bởi một lớp bùn đất đen ngòm đã khô cứng. Mùi hôi thối của nước giếng tù đọng lâu ngày cùng mùi bùn non xộc lên mũi ta, lấn át cả mùi nhang trầm trong phòng. Chiếc trâm này có kiểu dáng trâm lá liễu đơn giản, vốn là vật trang sức của những gia đình bình dân chứ không phải của tầng lớp quyền quý như nhà họ Lê.
Ta dùng móng tay cạo nhẹ lớp bùn khô bám trên phần đuôi trâm. Nơi đó khắc hai chữ bằng những nét khắc thủ công. Chữ khắc rất nhỏ, nhưng ta vẫn nhận ra hai chữ: Lệ Nương.
Tên người đàn bà này trùng khớp với cái tên viết trên mảnh giấy ố vàng mà ta tìm thấy trong cuốn gia phả cũ ở thư phòng mấy ngày trước. Phan Lệ Nương, người con dâu bị vu tội thất tiết rồi bị dìm chết dưới giếng sâu hai mươi năm trước.
Tại sao tổ mẫu lại giấu chiếc trâm dính bùn giếng của người chết dưới gối nằm của mình?
Ta nhớ lại những lời đồn đại về thuật trấn yểm vong hồn. Người ta nói rằng, nếu giữ một vật tùy thân có dính bùn nơi người chết đuối nằm lại, rồi đặt dưới gối của kẻ thủ ác, vong hồn của người chết sẽ bị đè chặt dưới âm giới, không thể hiện về báo oán. Tổ mẫu quả nhiên là một người đàn bà độc ác và thâm hiểm. Bà ta sợ Phan Lệ Nương tìm mình đòi mạng, nên đã dùng chính chiếc trâm này để trấn áp linh hồn nàng suốt bấy nhiêu năm.
Ta siết chặt chiếc trâm bạc trong tay. Sự căm phẫn dâng lên trong lòng. Ta đưa chiếc trâm lên trước mặt, khẽ gọi:
- Phan Lệ Nương.
Ngay lập tức, một luồng gió lạnh buốt từ đâu ùa vào phòng, dù các cửa sổ vẫn đóng kín. Ngọn nến nhỏ đặt trên bàn thờ Phật ở góc phòng chợt vụt tắt.
Đồng tử của ta co rút lại. Cơn đau nhói quen thuộc từ sâu trong hốc mắt truyền đến. Âm dương nhãn của ta bỗng chốc sáng rõ một cách lạ thường. Bóng tối trong căn phòng biến mất, thay vào đó là một thứ ánh sáng âm u, đỏ rực như máu.
Lớp bùn khô trên chiếc trâm bạc bỗng chốc chảy ra, hóa thành những giọt nước màu đen hôi thối nhỏ xuống nệm gấm. Dưới sàn nhà, một lối đi bằng máu tươi hiện ra rõ mồn một. Vệt máu bắt đầu từ ngay dưới chân giường của tổ mẫu, kéo dài thành một đường thẳng tắp, bò qua ngưỡng cửa gỗ và hướng ra ngoài sân.
Trên lối đi đầy máu ấy, ta còn nhìn thấy những vết chân trần nhỏ bé, loang lổ vết bùn đất. Những vết chân lệch nhau, bên cao bên thấp, như người đàn bà què kéo lê đôi chân xiềng xích đi qua. Tiếng xích sắt lách cách va chạm vào nhau thoang thoảng vang vọng bên tai ta.
Uông vú nuôi từ ngoài bình phong thưa lên rằng có khách đến thăm.
Tiếng gọi của Uông vú nuôi từ bên ngoài bức bình phong cắt ngang dòng suy nghĩ của ta. Tiếng bước chân của mụ đang tiến gần đến cửa phòng ngủ.
Ta nhanh chóng giấu chiếc trâm bạc dính bùn vào trong dải áo bên hông. Ta vừa trèo xuống giường thì cánh cửa phòng ngủ bị đẩy mạnh ra. Uông vú nuôi bước vào với khuôn mặt xám xịt. Nhìn thấy ta đứng cạnh giường, mụ bước tới giật lấy tay ta.
- Ai cho phép người vào phòng ngủ của Thái phu nhân? Người có biết đây là trọng tội không?
Ta cố ý làm ra vẻ sợ hãi, mếu máo chực khóc.
- Con sợ quá, con chỉ muốn trốn thôi.
Uông vú nuôi nhìn quanh căn phòng một lượt. Mụ không phát hiện ra vết tích bất thường dưới chiếc gối gỗ, liền lôi ta ra ngoài. Mụ nhíu mày giục giã:
- Mau ra ngoài! Thái phu nhân sắp về rồi, người mà thấy cảnh này thì cả tôi và người đều không yên ổn đâu.
Ta để mặc cho mụ lôi ra ngoài phòng khách. Bọn gia nhân đã dọn dẹp xong xuôi đống đổ nát, nhưng mùi vôi trắng vẫn còn nồng nặc. Ta nhân lúc Uông vú nuôi bận phân phó nha hoàn lau sàn, lập tức chạy biến ra khỏi An Đường Viện.
Khi bước ra khỏi An Đường Viện, bóng tối đã bao trùm lấy toàn bộ phủ họ Lê. Những chiếc đèn lồng đỏ treo dọc hành lang bắt đầu được thắp lên, tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt, chập chờn. Nhưng trong mắt ta, vệt máu đỏ rực của Phan Lệ Nương vẫn sáng rõ như một ngọn lửa dẫn đường.
Ta lặng lẽ bám theo vệt máu. Nó dẫn ta đi qua những lối đi quanh co, tránh xa những khu vực có gia nhân đi lại. Con đường dẫn về phía bắc phủ, nơi cây cối rậm rạp ít người qua lại. Gió đêm mạnh hơn, cành tre xào xạc bên tường như tiếng thì thầm oán hận.
Vệt máu dẫn ta đến trước một ngôi nhà gỗ lớn cổ kính. Đó chính là từ đường của nhà họ Lê. Cánh cửa gỗ lim nặng nề khảm đinh đồng đóng chặt, toát ra một vẻ thâm nghiêm và lạnh lẽo đến đáng sợ.
Ta nhìn xuống chân mình. Vệt máu đỏ tươi kia bò qua bậc thềm đá, luồn qua khe cửa dưới chân từ đường và biến mất vào bên trong.
Tại sao vong hồn của Phan Lệ Nương lại dẫn ta đến đây? Nơi thờ tự tổ tiên của dòng họ Lê có uẩn khúc gì liên quan đến cái chết của nàng?
Ta tiến lên bậc thềm đá, đặt tay lên cánh cửa gỗ lim nặng trịch. Cái lạnh từ cửa truyền thẳng vào lòng bàn tay, buốt tận xương tủy. Ta dùng hết sức đẩy mạnh cánh cửa từ đường.
Tiếng cửa kẽo kẹt nặng nề vang lên trong đêm tối, phá tan sự tĩnh mịch của khu vườn phía bắc. Cánh cửa từ từ mở ra, để lộ một không gian tối tăm, nồng nặc mùi nhang tàn và bụi bặm bên trong.