THẤT SƠN VÙNG ĐẤT BỊ NGUYỀN - Chương 6: ÔNG NĂM CHÈO VÀ ĐÊM NƯỚC ĐỎ

Dân miệt đồng bằng sông Cửu Long có câu ca dao: "Tháng Bảy nước nhảy khỏi bờ". Nhưng với dân vùng Bảy Núi An Giang tụi tui, mùa nước nổi không chỉ là…

Nội dung chương

Dân miệt đồng bằng sông Cửu Long có câu ca dao: "Tháng Bảy nước nhảy khỏi bờ". Nhưng với dân vùng Bảy Núi An Giang tụi tui, mùa nước nổi không chỉ là chuyện con nước lên xuống theo chu kỳ tự nhiên, mà nó còn là một mùa của những nỗi sợ mơ hồ, cổ xưa, trồi lên từ đáy sâu thăm thẳm của dòng Mekong hùng vĩ.

Khi con nước từ thượng nguồn đổ về, cuộn đỏ phù sa, cả một vùng Tứ Giác Long Xuyên rộng lớn biến thành biển nước mênh mông. Ranh giới giữa sông và ruộng, giữa đường đi và bờ bãi bị xóa nhòa. Những cánh đồng khô nẻ hôm qua nay trắng xóa một màu nước. Những ngôi nhà sàn, trong đó có nhà của Bà Tư tui, bỗng chốc trở thành những hòn đảo cô độc giữa bốn bề sóng vỗ.

Mùa nước về mang theo tôm cá đầy đồng, mang theo sinh kế cho dân nghèo, nhưng cũng mang theo những thứ khác không thuộc về thế giới con người.

Người già trong sóc, những người đã sống qua cả trăm mùa nước, thường rỉ tai con cháu những điều kiêng kỵ khi "Bà Thủy" ghé thăm. Họ bảo, ban ngày mặt nước hiền hòa là vậy, nhưng khi đêm xuống, cái màn đen bao phủ lên mặt nước mênh mông kia là tấm chăn che đậy những bí mật kinh hoàng.

Và nỗi sợ lớn nhất, nỗi sợ được gọi tên bằng sự kính cẩn pha lẫn run rẩy, là "Ông".

Ở xứ này, khi nói đến "Ông" mà không kèm theo tên, người ta tự hiểu đó là Ông Năm Chèo – con sấu thần trong truyền thuyết của Đức Phật Thầy Tây An. Tương truyền, Ông là một con sấu lạ, có năm chân, da lốm đốm bông đỏ, mũi đỏ, được Phật Thầy nuôi dưỡng từ nhỏ để trấn yểm.

Nhưng vì nghiệp lực của chúng sanh còn nặng, Ông đã sổng chuồng, trốn vào rừng rậm Láng Linh, mang theo lời nguyền rằng một ngày nào đó, vào năm "Hợi" tận thế, Ông sẽ trồi lên, to lớn như một quả núi, nuốt chửng những kẻ gian ác.

Người ta tin rằng, bình thường Ông ngủ vùi dưới lớp bùn sâu hàng chục thước, phong ấn bản thân để chờ thời. Nhưng mỗi khi mùa nước nổi về, dòng nước cuộn xiết đánh thức giấc ngủ ngàn năm của Ông. Ông cựa mình. Và mỗi cái cựa mình của Ông là một tai ương cho kẻ nào xui xẻo phạm phải.

Năm đó, con nước về lớn kỷ lục. Người ta bảo là "năm rồng lội". Nước dâng cao mấp mé sàn gõ nhà Bà Tư. Đêm nằm ngủ, tui nghe tiếng sóng vỗ oàm oạp ngay dưới lưng mình, cảm giác lạnh lẽo như đang nằm chông chênh trên một chiếc bè giữa đại dương, chỉ cách vực thẳm một lớp ván mỏng manh.

Sau vụ con Linh bị bùa yêu, không khí trong nhà vẫn còn nặng nề. Cậu Ba, cha con Linh, dường như muốn tìm quên trong công việc. Bản tính tham công tiếc việc, cộng thêm cái nết ngang tàng của đàn ông vùng lũ, khiến cậu không chịu ngồi yên.

Đêm hôm đó là một đêm không trăng không sao. Bầu trời đen kịt như cái vung nồi úp xuống mặt nước cũng đen ngòm. Không gian tĩnh mịch đến rợn người, chỉ có tiếng côn trùng rả rích và tiếng mái chèo khua nước lách cách của Cậu Ba.

Cậu Ba chèo chiếc xuồng ba lá nhỏ đi thăm dớn (một loại lưới bắt cá hình phễu) ngoài bãi tràm ngập nước, cách nhà chừng hai cây số. Khu vực đó nước sâu, nhiều gốc cây mục, là nơi trú ngụ của cá lớn, nhưng cũng là nơi ít ai dám bén mảng vào ban đêm.

Cậu Ba kể lại, đêm đó cậu trúng mánh. Mấy cái dớn đầu tiên đầy ắp cá linh, cá lóc. Lòng tham nổi lên, cậu quyết định đi sâu hơn vào trong lung tràm để thăm cái dớn cuối cùng đặt ở chỗ nước xoáy.

Khi cậu nắm sợi dây dớn kéo lên, cậu thấy nặng trịch. Nặng một cách bất thường, không giống sức nặng của cá tôm giãy giụa, mà giống như đang kéo một tảng đá dưới đáy sông.

Cậu Ba nghiến răng, gồng mình kéo mạnh. Cái dớn từ từ trồi lên mặt nước.

Bên trong không có con cá nào cả. Chỉ có một vật thể đen sì, dài ngoằng, mắc kẹt cứng trong cái hom dớn.

Cậu Ba soi đèn pin vào. Đó là một khúc vật chất lạ lùng. Nó to bằng bắp đùi người lớn, dài cỡ hơn hai gang tay, cong cong hình lưỡi liềm. Ban đầu, cậu tưởng là một khúc gỗ lũa (gỗ chìm dưới nước lâu năm) bị nước cuốn vào.

Cậu Ba định gỡ ra vứt đi, nhưng khi tay cậu chạm vào nó, một cảm giác lạnh buốt truyền thẳng lên cánh tay. Nó lạnh hơn cả nước sông đêm nay. Cậu cầm lên, thấy nó nặng kinh khủng, bề mặt sần sùi, gai góc, cứng như đá nhưng lại có độ trơn nhớt của loài thủy tộc. Cậu gõ thử cán dao vào, nó phát ra tiếng coong coong đục ngầu, không phải tiếng gỗ, cũng không hẳn là tiếng kim loại.

Cái tính tham lam và tò mò của dân đi đồng trỗi dậy. Cậu Ba nghĩ bụng: "Thứ này lạ à nghen. Chắc là gỗ hóa thạch, hay đồ cổ gì của người xưa chìm ghe rớt lại. Đem về chùi rửa sạch sẽ, biết đâu bán cho mấy tay buôn đồ cổ trên thị xã cũng được mớ tiền."

Nghĩ là làm, cậu hí hửng quăng "khúc gỗ" đó xuống khoang xuồng. Nó rớt xuống nghe một tiếng cụp nặng nề, làm cái xuồng chòng chành suýt lật.

Về tới nhà, trời đã quá nửa đêm. Cả nhà đã ngủ say. Cậu Ba cột xuồng, xách cái "của nợ" đó lên. Vì nó còn dính đầy bùn đất và rong rêu hôi hám, cậu không đem vào nhà ngay mà quăng đại nó nằm chỏng chơ dưới sàn nước – cái sàn thấp bằng tre chìa ra mé sông, nơi dùng để rửa chén bát, giặt giũ.

Cậu Ba rửa chân tay qua loa rồi leo lên nhà, chui vào mùng ngủ, lòng vẫn khấp khởi mừng thầm về món "lộc trời" kỳ lạ. Cậu đâu biết rằng, cậu vừa mang một tai họa kinh hoàng về ngay dưới chân nhà mình.

Tui không biết mình ngủ được bao lâu thì bị đánh thức. Không phải vì tiếng động, mà vì một sự im lặng đột ngột. Tiếng ếch nhái kêu râm ran ngoài đồng bỗng dưng tắt ngấm. Không gian nín thở, đặc quánh lại.

Rồi, từ dưới gầm sàn nhà sàn, một âm thanh lạ lùng vang lên.

BÙM...

Tiếng động rất lớn, trầm và đục, giống như có ai đó vừa ném một tảng đá táng xuống nước ngay dưới chân cột nhà. Cả căn nhà sàn rung lên bần bật. Mấy cây cột cái bằng gỗ thao lao già cỗi kêu răng rắc như sắp gãy. Mấy cái nồi niêu treo trên vách va vào nhau leng keng.

Tui giật bắn mình ngồi dậy. Bà Tư cũng đã tỉnh, bà nắm chặt tay tui, người run lên.

"Cái gì vậy Ngoại? Sạt lở đất hả Ngoại?" – Tui thì thầm, giọng lạc đi vì sợ.

Bà Tư ra hiệu im lặng, tai bà áp sát xuống mặt ván sàn. "Suỵt! Không phải đất lở. Có cái gì... ở dưới đó."

Không gian lại chìm vào im lặng vài giây. Rồi tiếp đó là một chuỗi âm thanh khiến tui cả đời này không quên được.

Phì... phò... phì... phò...

Tiếng thở.

Nó to, ồm ồm và ướt át như tiếng bệ rèn khổng lồ đang hoạt động, hay tiếng một con trâu mộng đang bị ngạt nước. Hơi thở đó phát ra từ ngay dưới sàn nhà tui, mạnh đến mức tui cảm giác được luồng hơi nóng ẩm của nó phả lên qua các khe hở của vách ván.

Kèm theo tiếng thở là một mùi hôi thối nồng nặc bốc lên, xộc thẳng vào mũi. Đó là cái mùi của đáy sông ngàn năm không thấy ánh mặt trời – mùi bùn non tanh tưởi trộn lẫn với mùi xác động vật thối rữa, mùi rong rêu mục nát, và một mùi hăng hắc đặc trưng của loài bò sát lớn.

Hai con chó trong nhà, con Mực và con Phèn (con chó mới nuôi), bình thường hung dữ là thế, vậy mà lúc này tụi nó không dám sủa một tiếng. Tụi nó rên ư ử, chui tọt vào gầm tủ thờ, ép sát người vào nhau, run cầm cập và đái cả ra sàn nhà vì sợ hãi tột độ. Loài vật bao giờ cũng cảm nhận được nguy hiểm nhanh hơn con người.

Lúc này, vợ chồng Cậu Ba ở buồng bên cũng đã thức giấc. Cậu Ba vớ lấy cây đèn pin sạc, mặt cắt không còn giọt máu. Cậu ra hiệu cho mọi người ở yên trong mùng, còn mình thì rón rén bước ra phía cửa sau, hướng ra sàn nước.

Tui lén nhìn theo. Cậu Ba hé cửa, luồng gió lạnh buốt từ sông thổi thốc vào, mang theo cái mùi tanh tưởi nồng nặc hơn. Cậu Ba run run bật công tắc đèn pin, soi xuống mặt nước đen ngòm dưới sàn.

Ánh đèn loang loáng quét qua mặt nước đang dao động dữ dội.

Và rồi, Cậu Ba hét lên một tiếng thất thanh, kinh hoàng: "ÁÁÁ! MÁ ƠI! CỨU CON!"

Cậu đánh rơi cây đèn pin xuống nước. Ánh đèn tắt ngấm. Cậu Ba ngã ngửa ra sau, bò lùi vào trong nhà bằng tứ chi, mặt mày méo xệch, miệng lắp bắp không thành tiếng: "Ở... ở dưới... nó... nó..."

Bà Tư vội vàng thắp ngọn đèn dầu lên. Trong ánh sáng vàng vọt, tui thấy Cậu Ba đang co rúm ở góc nhà, mắt trợn ngược, chỉ tay ra phía cửa sau.

"Cái gì? Mày thấy cái gì?" – Bà Tư quát lớn để trấn tĩnh con trai.

"Cái... cái lưng... Nó to như chiếc ghe chài... Nó nằm ngay dưới sàn nhà mình..." – Cậu Ba hổn hển kể lại, giọng đứt quãng.

Cậu kể, lúc soi đèn xuống, cậu không thấy cái "khúc gỗ" cậu vớt được đâu nữa. Thay vào đó, cậu thấy mặt nước dưới sàn nước đang cuộn lên sùng sục như nồi nước sôi khổng lồ.

Từ trong vùng nước xoáy đó, một khối đen trũi, khổng lồ từ từ nhô lên. Nó to lớn đến mức choáng hết cả gầm sàn nhà.

Đó là cái lưng của một con quái vật.

Da nó không láng mịn mà sần sùi, lồi lõm như vỏ cây cổ thụ ngàn năm, bám đầy rong rêu và những con hà đá sắc nhọn. Trên cái lưng đen trũi đó, lờ mờ dưới ánh đèn pin, cậu thấy những cái gai nhọn hoắt, xếp thành hàng dọc sống lưng, tua tủa như lưỡi cưa.

Và kinh khủng nhất, ở phía đầu của khối đen đó, cậu thấy hai điểm sáng đỏ rực.

Hai con mắt.

To như hai cái chén sành, đỏ lòm như hai hòn than đang cháy, lạnh lùng và tàn nhẫn, đang ngước lên nhìn trân trân vào cậu.

Nó chỉ trồi lên một chút rồi từ từ chìm xuống, nhưng cái khoảnh khắc đó đủ để Cậu Ba nhận ra rằng, nếu con quái vật đó chỉ cần quẫy đuôi nhẹ một cái thôi, thì cả cái nhà sàn này sẽ tan tành thành trăm mảnh gỗ vụn.

Nghe Cậu Ba kể xong, Bà Tư lặng người đi một lúc. Rồi bà quay sang hỏi Cậu Ba, giọng nghiêm nghị lạ thường:

"Hồi tối đi thăm dớn, mày có đem cái gì lạ về nhà không?"

Cậu Ba ấp úng, mặt tái mét, gật đầu. Cậu kể lại chuyện vớt được "khúc gỗ" đen sì và vứt nó ngoài sàn nước.

Bà Tư nghe xong, bà vỗ đùi cái đét, than trời:

"Trời ơi là trời! Thằng ngu này! Mày hại cả nhà rồi! Cái đó đâu phải gỗ đá gì. Cái đó là cái vảy... hay cái gai trên lưng Ông Năm Chèo đó!"

Bà Tư giải thích, giọng run run vì sợ hãi. Con sấu thần đó đã sống dưới đáy sông cả trăm năm. Thỉnh thoảng, nó thay da, hoặc cọ mình vào đá ngầm làm rụng vảy, gãy gai. Những thứ đó rớt ra đều mang theo linh khí – và cả tà khí – khủng khiếp của nó. Những loài thủy tộc khác không dám lại gần, nhưng Cậu Ba vì lòng tham đã vớt lên, đem về nhà.

"Mày đem đồ của Ổng về, tức là mày đã mời Ổng tới nhà. Ổng theo mùi cái vảy mà tìm tới đây để đòi lại. Hèn chi nãy giờ tao nghe tiếng thở, Ổng nằm ngay dưới sàn nhà mình mà mình không biết."

Cả nhà nghe xong ai nấy đều bủn rủn tay chân. Cái chết đang nằm ngay dưới lớp ván sàn mỏng manh này.

"Phải trả lại! Ngay lập tức!" – Bà Tư quả quyết.

Bà Tư bất chấp nguy hiểm, cầm ngọn đèn dầu đi ra sàn nước. Tui và Cậu Ba rón rén theo sau. Dưới ánh đèn dầu leo lét, cái "khúc gỗ" đen sì đó vẫn nằm chỏng chơ ở góc sàn.

Bà Tư cẩn thận dùng một tấm vải đỏ bọc nó lại, không dám chạm tay trần vào nữa. Bà sai Cậu Ba vào nhà lấy gấp một nải chuối già, một dĩa gạo muối.

Bà Tư nhanh thoăn thoắt chặt mấy cây bẹ chuối, kết lại thành một chiếc bè nhỏ xíu. Bà đặt nải chuối, dĩa gạo muối và cái "vảy sấu" được bọc vải đỏ lên chiếc bè. Bà cắm thêm ba cây nhang đang cháy lên đó.

Giữa đêm khuya thanh vắng, trên cái sàn nước chông chênh, Bà Tư quỳ xuống, hướng ra mặt nước đen ngòm đang cuộn chảy, khấn vái lâm râm:

"Nam mô A Di Đà Phật. Nam mô Đức Phật Thầy Tây An. Con cúi lạy Ông Năm. Con cháu trong nhà ngu dại, mắt thịt phàm trần không biết là đồ của Ông nên lỡ tay mạo phạm. Nay con xin hoàn lại vật cũ, có chút lễ mọn tạ lỗi với Ông. Xin Ông đại xá từ bi, nhận lại đồ rồi về nơi nước thẳm non cao, đừng chấp nhặt kẻ phàm phu, đừng quấy quả gia đình con nữa..."

Lời khấn vừa dứt, bà Tư ra hiệu cho Cậu Ba. Cậu Ba run rẩy dùng cây sào đẩy nhẹ chiếc bè chuối ra khỏi sàn nước.

Chiếc bè nhỏ trôi theo dòng nước được chừng năm mét thì chuyện kỳ lạ xảy ra.

Mặc dù trời đứng gió, mặt nước xung quanh tương đối phẳng lặng, nhưng chiếc bè chuối bỗng nhiên chòng chành dữ dội như có ai đang lắc mạnh từ bên dưới. Ba cây nhang cắm trên bè vụt tắt ngấm.

Rồi, ngay trước mắt tui, Cậu Ba và Bà Tư, mặt nước chỗ chiếc bè đang trôi bỗng nhiên lõm xuống. Một cái xoáy nước khổng lồ hình thành trong tích tắc, xoay tít mù, tạo ra tiếng ào ào kinh khủng.

Cái xoáy nước đó như một cái miệng khổng lồ há ra, hút tuột chiếc bè chuối xuống đáy sâu. Chỉ trong một cái chớp mắt, chiếc bè, nải chuối, và cái "vảy sấu" biến mất tăm, không để lại một dấu vết nào.

Không có tiếng động lớn, không có cảnh quẫy đuôi long trời lở đất. Chỉ có một sự tiếp nhận lặng lẽ nhưng đầy uy lực khủng khiếp.

Sau khi chiếc bè bị hút xuống, từ chỗ đó, một dải bọt khí trắng xóa khổng lồ sủi lên ùng ục, sôi lên như nước trong nồi áp suất, rồi chạy dài một đường thẳng tắp hướng về phía rừng tràm ngập nước xa tít tắp, nơi được cho là Láng Linh – hang ổ của Ông.

Mặt nước trở lại yên tĩnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Chỉ còn lại mùi hôi tanh nồng nặc vẫn còn lảng vảng trong không khí.

Cả nhà tui đứng chết lặng trên sàn nước, ướt đẫm mồ hôi lạnh và nước mưa bắt đầu rơi hạt. Cậu Ba ngã phịch xuống sàn, thở dốc như người vừa thoát chết đuối.

Từ sau đêm đó, Cậu Ba bán đứt chiếc xuồng ba lá, đốt bỏ mấy cái dớn. Cậu thề độc không bao giờ bước chân xuống sông giăng câu thả lưới vào ban đêm nữa, dù cá có nhiều bao nhiêu đi chăng nữa. Cậu bảo:

"Tao tởn tới già rồi. Sông nước xứ này thiêng quá. Ở trên bờ thì sợ rắn, sợ ngải, xuống nước thì sợ Ông. Thôi tao lên núi làm rẫy cho lành, cực một chút mà giữ được cái mạng."

Căn nhà sàn trở lại yên bình, nhưng nỗi ám ảnh về đêm nước đỏ ấy thì không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của những người chứng kiến. Và chúng tôi đâu ngờ rằng, Ông Năm Chèo chỉ là một trong những "chủ nợ" ghé thăm gia đình này. Cái "nghiệp" của dòng họ vẫn còn đó, lẩn khuất trong những bụi chuối sau hè, nơi chôn giấu những bí mật kinh hoàng mà Bà Tư vẫn chưa kịp kể hết, chờ đợi thời khắc cuối cùng để đòi lại món nợ máu năm xưa.

Chương khác

Xem thêm