Tiếng Hát Trước Linh Sàng - Chương 36: Bài văn tế thật
Sáng Day 11, nắng chưa lên khỏi mặt sông Hậu thì Năm Chấn đã ngồi dậy. Ông nằm trên tấm chiếu rách trải giữa nhà kho bỏ hoang của bến sông cũ, chỗ Chín…
Nội dung chương
Sáng Day 11, nắng chưa lên khỏi mặt sông Hậu thì Năm Chấn đã ngồi dậy.
Ông nằm trên tấm chiếu rách trải giữa nhà kho bỏ hoang của bến sông cũ, chỗ Chín Ca cho ông trú tạm từ đêm qua. Mùi ẩm mốc của bao tải cũ, mùi dầu máy, mùi sông nước len vào từng hơi thở. Ở góc nhà kho, trên tấm ván kê bằng hai chồng gạch, ông đã dựng lại bàn thờ Tổ nghiệp: ba nén nhang cong khói, một chén nước trong, một dĩa trái cây héo. Bàn thờ cũ cùng cả chiếc ghe đã thành tro đêm Day 5. Bàn thờ này là bàn thờ mượn tạm của Tổ, ông khấn thế đêm đầu dựng nó lên.
Trước mặt ông, trên mặt bàn thấp, trải hai thứ giấy.
Một là tờ giấy đỏ cỡ lớn, gấp làm tư, mép giấy đã sờn. Bài văn tế ca tụng mà nhà họ Bạch đưa ông đêm đầu, bắt ông hát đúng từng chữ. Tờ giấy này may mà còn, vì từ đêm đầu ông đã mang cả hòm đồ nghề theo vào dinh thự, tờ giấy đỏ kẹp trong ngăn hòm.
Hai là xấp giấy vàng mã trắng ngà, loại giấy người ta dùng viết sớ cúng, mua ở tiệm mực chợ Phong Điền.
Năm Chấn cầm tờ giấy đỏ lên, đọc lần cuối.
"Than ôi! Cụ cố Bạch Hào, bậc kỳ lão đức cao vọng trọng, một đời gây dựng cơ nghiệp, đêm rằm thanh thản trút hơi thở cuối cùng trong giấc ngủ, con cháu đầy đàn khóc tiễn..."
Ông đọc đến đó thì ngừng. Ngoài kia, tiếng ghe máy nổ lạch bạch trên sông. Trong này, khói nhang quẩn quanh mặt ông.
Ông gấp tờ giấy đỏ lại, cất vào ngăn hòm. Không xé. Ông cần giữ nó. Nhưng bản chép tay mà ông đã chép ra để học thuộc đêm trước giờ Tý, tờ giấy trắng đầy chữ ông viết vội dưới ánh đèn dầu, ông cầm lên, xé.
Xé một đường. Xé hai đường. Xé đến khi mảnh giấy nhỏ như móng tay, rơi lả tả xuống nền xi măng.
- Tổ chứng cho con. Từ đêm nay, con không hát dối nữa.
Ông thì thầm.
Ông trải tờ giấy vàng ra. Mài mực. Cây bút lông cũ của ông, lông đã rụng một nửa, cán trúc trơn bóng vì mồ hôi tay mấy chục năm. Ông chấm mực, tay run.
Nét đầu tiên lệch. Ông hít sâu, điều hơi như điều hơi trước khi lên sân khấu. Nét thứ hai đi thẳng.
Ông viết. Chữ Hán nôm lẫn chữ quốc ngữ, như lối viết văn tế của người hát bội già học nghề từ thầy cũ:
"Than ôi! Người nằm đây không chết vì bệnh già. Đêm mồng tám, giờ Tuất, rượu sâm trong chén bị đổ thuốc an thần quá liều bởi tay người con dâu. Rồi bàn tay phải của người con cả bóp lấy cổ cha, ngón cái ấn yết hầu, ngón trỏ siết gân cổ, đến khi hơi thở tắt hẳn..."
Mực loang trên giấy vàng. Tay ông run, nhưng nét chữ càng về sau càng dứt khoát, như dao chém.
Ông viết tiếp, viết về 20 năm trước. Viết về đêm hội ghe, về người đàn bà bị chuốc say, về ngọn lửa thiêu rụi gánh hát trong một canh giờ, về người vợ gieo mình xuống sông Hậu khi đứa con mới lọt lòng được ba ngày. Ông viết tên Trần Thị Lệ bằng nét chữ ngay ngắn nhất, như khắc.
Viết xong, ông đọc lại thành tiếng. Giọng ông khàn, vỡ ở những chỗ cao, nhưng từng chữ rõ như tiếng trống chầu nện xuống mặt trống.
Ngoài cửa nhà kho, tiếng bước chân. Chín Ca bước vào, tay xách giỏ đồ ăn sáng, vai đeo cái trống chầu nhỏ. Ông ta nhìn xấp giấy vàng trên bàn, nhìn những mảnh giấy trắng xé vụn dưới nền, rồi ngồi xuống đối diện Chấn, không nói gì một lúc lâu.
- Viết xong rồi à?
Chín Ca hỏi.
- Xong.
- Đọc tao nghe.
Năm Chấn đọc. Từ câu mở đầu "Than ôi" đến câu kết "Oan có đầu, nợ có chủ, đêm nay hát ra trước linh sàng, ai gây ra thì người ấy trả". Đọc xong, ông đặt bút xuống, nhìn bạn.
Chín Ca im lặng. Ông ta rút điếu thuốc ra, châm, hít một hơi dài, nhả khói lên mái tôn.
- Mày biết mày đang làm gì không?
Chín Ca nói chậm rãi.
- Hát bài này trước linh sàng nhà họ Bạch, giữa đám tang, trước mặt quan khách, là mày tuyên chiến công khai. Không còn đường lui. Dũng nó không phải thằng hiền. Nó dám đốt ghe mày, nó dám làm hơn thế.
- Tao biết.
- Công an chưa chắc đã tin mày. Mày là thằng hát bội, không phải thầy cãi.
- Tao biết.
Chín Ca nhìn thẳng vào mắt bạn.
- Vậy sao mày còn viết?
Năm Chấn rót chén nước, uống một ngụm. Nước lạnh, trôi xuống cổ họng khô rát.
- Tổ dạy, hát sai một chữ là phản Tổ. Đêm đầu, tao hát đúng từng chữ bài văn tế giả của nó, ca tụng một thằng giết người là bậc kỳ lão đức cao. Tao đã phản Tổ một lần. Hát dối cả một vở, che một vụ giết người, che cả món nợ 20 năm của vợ tao, mới là phản thật. Tổ có quở, tao chịu. Nhưng tao không hát dối lần thứ hai.
Chín Ca không đáp. Ông ta đứng dậy, lấy cái trống chầu đeo trên vai xuống, ngồi xếp bằng, đặt trống lên đùi.
- Tập đi. Vở này dài, hơi mày phải giữ. Đoạn cao trào tố cáo, mày phải hát một hơi, không được ngắt. Ngắt là mất khí thế, đám đông nó không tin.
Hai người đàn ông già bắt đầu tập dượt trong nhà kho ẩm mốc. Chín Ca gõ nhịp: Tùng! Tùng! Tùng! Chát! Năm Chấn cất giọng. Lúc đầu giọng còn run, còn vấp ở những câu dài. Chín Ca ngắt, sửa:
- Chỗ này lấy hơi ở bụng, đừng lấy ở ngực. Chỗ kia nhấn chữ "bóp", chữ "thuốc", cho nó như dao đâm.
Họ tập đi tập lại. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo Chấn. Ngoài kia nắng đã lên cao, xuyên qua khe tôn thành những vệt sáng chéo.
- Tao nhớ hồi xưa, mày hát vai Quan Võ ở đình làng, đoạn xử án Bàng Đức, mày hát một hơi dài mà không ai nghe mày lấy hơi ở đâu. Bây giờ già rồi, hơi ngắn lại, nhưng cái nghề nó còn trong máu. Đoạn tố cáo này, mày hát như mày đang xử án thật. Mày là Quan Võ, nó là thằng phạm tội quỳ dưới sân khấu.
Chín Ca vừa gõ nhịp vừa nói.
Chấn gật đầu, lau mồ hôi trán. Ông nhớ lại những đêm diễn xưa, khi gánh hát còn nguyên, khi Lệ còn sống, còn đứng trong cánh gà nhìn ông diễn. Lệ hay nhắc ông: "Anh hát đoạn xử án, mắt anh phải long lên, như mắt ông Quan Thánh thật." Bây giờ, ông sắp hát một vở xử án thật, trước mặt những kẻ đã giết vợ ông gián tiếp 20 năm trước.
- Đoạn cuối, tao viết câu "Oan có đầu, nợ có chủ". Mày nghĩ hát câu đó, Tổ có trách không?
Chấn nói.
Chín Ca ngừng gõ. Ông ta nhìn bạn, ánh mắt nghiêm trang hiếm thấy.
- Tổ dạy hát sai một chữ là phản Tổ. Nhưng Tổ cũng dạy: hát bội là để phân biệt trung gian, tỏ rõ oan khuất. Mày hát đúng sự thật, Tổ nào trách mày? Tổ chỉ trách thằng hát dối.
Hai người lại tập tiếp. Lần này, Chấn hát trọn đoạn cao trào một hơi, từ "Than ôi" đến "người ấy trả". Giọng ông vang trong nhà kho, dội vào vách tôn, dội ra mặt sông. Một con cò trắng đậu trên cọc bến giật mình bay vụt lên.
Đang hát đến đoạn "ngón cái ấn yết hầu, ngón trỏ siết gân cổ", Chấn bỗng ngừng bặt. Chín Ca cũng ngừng gõ.
Trong góc nhà kho, bên cạnh bàn thờ Tổ tạm, một bóng người mờ nhạt đang đứng. Bạch Hào. Không còn rõ mặt rõ giáp như đêm Day 10, mà trong suốt như làn khói, như sắp tan vào không khí. Hồn chỉ hiện được chốc lát, oán khí đã gần cạn.
Hồn nhìn Chấn, nhìn xấp giấy vàng, rồi cất giọng khàn như gió lùa qua kẽ lá:
- Mày... hát thật... tao mới đi được.
Rồi bóng mờ tan. Chỉ còn khói nhang quẩn quanh, và mùi tanh nhẹ của sông nước.
Hai người đàn ông ngồi im. Chín Ca đặt dùi trống xuống.
- Nó yếu lắm rồi. Mày phải nhanh lên.
Chín Ca nói khẽ.
Đúng lúc đó, điện thoại cùi bắp của Chấn réo vang. Số của Sáu Miên.
- Alô, chú Sáu?
Giọng Sáu Miên hổn hển bên kia:
- Chấn ơi! Tin mới! Sáng nay thằng Dũng nó họp họ hàng, tuyên bố dời lễ hỏa táng lên sáng Day 13! Sớm hơn dự kiến hai ngày! Nó nói... nó nói cha nó nóng lòng siêu thoát, để lâu không tốt!
Năm Chấn siết chặt điện thoại. Chín Ca nhìn ông, chờ đợi.
- Chú nghe ở đâu?
Chấn hỏi.
- Tao đi ngang dinh thự, nghe mấy bà họ hàng xì xào. Họ còn nói thằng Dũng chi tiền lo lót khắp nơi, ai hỏi gì cũng bảo ông cụ chết vì bệnh già, đừng đồn đoán linh tinh. Nó còn mời thầy pháp về trấn hồn, nói nhà có ma quấy. Chấn ơi, nó đang dọn đường dư luận đó!
- Cám ơn chú. Chú giữ gìn. Đừng đến gần dinh thự nữa.
Cúp máy, Chấn nói với Chín Ca, giọng trầm xuống:
- Nó dời hỏa táng lên sáng Day 13. Lý do: cha nóng lòng siêu thoát.
Chín Ca cười gằn:
- Siêu thoát cái con khỉ. Nó muốn thiêu xác sớm để phi tang. Không còn xác, không khám nghiệm được, mọi lời mày nói thành lời thằng điên.
Năm Chấn nhìn xấp giấy vàng trên bàn. Nhìn bàn thờ Tổ tạm. Nhìn những mảnh giấy trắng xé vụn.
- Chỉ còn hai ngày.
Ông nói.
Ngoài sông, một con đò ngang chở khách qua lại, tiếng máy nổ xa dần. Trong nhà kho, ba nén nhang trên bàn thờ tạm đã cháy được một nửa, khói bay thẳng lên, không nghiêng ngả.
Năm Chấn hiểu ra một điều, lạnh cả sống lưng: Dũng không dời lịch vì nóng lòng. Dũng dời lịch vì nó đã đánh hơi thấy ông đang đào. Cuộc đua bây giờ không còn tính bằng ngày nữa. Nó tính bằng giờ.
Ông cầm xấp giấy vàng lên, vuốt phẳng từng tờ, xếp ngay ngắn.
- Chiều nay mày đi với tao. Mình còn một việc phải làm trước khi trời tối.
Ông nói với Chín Ca, rồi siết chặt xấp giấy vàng trong tay.
---