TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 169: Hai Tờ Lệnh Một Chiếc Áo
Khánh đứng trước tủ kính lớn đặt sát vách rường của tiệm Vong Ký. Sau lần chuyển có kiểm soát tối qua, chiếc áo dài màu tím Huế phủ trên thân ma-nơ-canh…
Nội dung chương
Khánh đứng trước tủ kính lớn đặt sát vách rường của tiệm Vong Ký. Sau lần chuyển có kiểm soát tối qua, chiếc áo dài màu tím Huế phủ trên thân ma-nơ-canh bằng gỗ mít vẫn giữ nguyên nếp gấp cũ. Lớp vải lót màu trắng bên trong lộ ra một góc ở tà áo dưới, khô khốc và đục ngầu như màu sương muối. Cửa tủ vẫn khóa; hai dải niêm có chữ ký Phan Khanh và Nguyễn Vĩnh Khánh còn nguyên qua mép kính.
Hôm nay là ngày mười bốn tháng Tám. Sau khi giải quyết xong vụ chiếc nón bài thơ của Mai Trang ở nghĩa địa Phú Cam, Khánh dành cả buổi sáng để dọn dẹp lại các kệ gỗ trong kho niêm. Tiệm Vong Ký những ngày cận kề rằm tháng Bảy âm lịch luôn ngột ngạt hơn thường lệ. Hơi ẩm từ dòng sông Hương bốc lên, theo gió luồn qua các khe cửa gỗ rường, mang theo mùi bùn non và mùi nước lợ đặc trưng của mùa nước dâng. Khánh cầm chiếc khăn vải sợi bông, tỉ mỉ lau sạch lớp bụi mịn bám trên mặt kính của chiếc tủ trưng bày đặt ngay gian ngoài.
Chiếc áo dài tím này do Phan Khanh đưa tới ngày 31/07/2026, sau khi lấy ra từ căn nhà khóa kín lâu ngày. Nó được bọc và niêm từ hôm bàn giao; tối qua lớp bọc ngoài rách trong lúc vật chứng tự trượt khỏi kệ. Phan Khanh và Khánh đã lập biên bản, mở phần niêm hỏng rồi chuyển áo lên ma-nơ-canh bằng kẹp gỗ để quan sát trong tủ kính khóa kín. Từ lúc chuyển, chính chiếc tủ mang niêm kiểm soát, không phải chiếc áo trần; đến hôm nay 14/08 vẫn chưa được ghi tên vào cuốn Vong Ký trắng. Khánh nhìn chăm chú qua kính vào những đường chỉ khâu chạy dọc theo sườn áo. Vải áo ngoài là thứ lụa tơ tằm màu tím sậm, loại vẫn thường thấy ở các sạp vải lớn trong chợ Đông Ba. Nhưng lớp vải lót bên trong lại thô ráp, dày và cứng, màu trắng đục của nó tương phản hoàn toàn với vẻ mềm mại của lớp lụa ngoài. Những đường khâu nối giữa hai lớp vải không đều, có chỗ mũi chỉ to, có chỗ lại siết chặt đến rúm cả mặt tơ tằm bên ngoài. Hắn đưa ngón tay chạm nhẹ vào mặt kính, cảm giác lạnh ngắt từ tấm kính truyền qua da thịt, buốt đến tận xương.
Bên ngoài, tiếng chổi tre của Bồi khua sột soạt trên khoảng sân gạch nhỏ trước tiệm. Thằng bé vừa quét lá khế rụng vừa lẩm nhẩm một bài đồng dao quen thuộc của trẻ con vùng đầm phá Phú Vang. Trong gian chính, Ông Tư ngồi lặng lẽ trên chiếc ghế bành bằng mây cũ. Chân trái của ông duỗi thẳng trên nền gạch, chiếc gậy gỗ mun tựa hờ vào thành ghế. Ông không uống trà, chỉ đăm đăm nhìn ra khoảng sân nắng nhạt qua ô cửa sổ mở hé. Gương mặt ông hiện rõ những nếp nhăn sâu hoắm, da dẻ xám xịt như người thiếu hơi ấm của ánh mặt trời lâu ngày.
Khánh đặt chiếc khăn lau xuống bàn, định bụng vào bếp nấu ấm nước chè xanh thì bước chân chợt khựng lại. Trên bàn thờ nhỏ đặt ở góc nhà, nơi đặt bát hương đồng cũ của tiệm, một làn khói mỏng không rõ từ đâu bốc lên, dù nén hương vòng thắp từ sáng đã tàn lụi. Giữa lớp tro nhang xám mịn, một góc giấy màu đỏ tươi từ từ trồi lên.
Khánh bước tới, dùng hai ngón tay kẹp lấy góc giấy rồi rút nhẹ. Đó là một tờ giấy đỏ dai và thô, không giống bất kỳ loại giấy vàng mã nào người ta thường bán ngoài chợ. Mặt giấy láng bóng, ở giữa đóng một con dấu tròn màu mực đen tuyền, nét mực sắc sảo hình hai chữ Thiên Phủ viết theo lối triện cổ. Khi Khánh vừa cầm tờ giấy lên, một mùi khói nhang cháy khét xen lẫn vị lạnh buốt của sương sớm phả thẳng vào mặt hắn. Nội dung tờ lệnh viết bằng chữ Hán mực đen, yêu cầu tiệm Vong Ký phải bàn giao chiếc áo dài tím cùng tên tuổi người chết trước khi mặt trời lặn. Lý do đưa ra rất rõ ràng: hồ sơ người chết ghi nhận nguyên nhân tử vong là treo cổ, thuộc phần vong trên cao, do Thiên Phủ quản lý.
- Chú Tư, có đồ gửi tới.
Khánh nói, giọng trầm xuống. Hắn chưa kịp đưa tờ giấy đỏ cho Ông Tư thì dưới ngạch cửa gỗ của tiệm, nơi tiếp giáp với nền đất ẩm bên ngoài, một tiếng sột soạt khác lại vang lên.
Một tờ giấy màu vàng sậm, dính đầy bùn đất ướt, từ từ nhô lên từ khe hở dưới cánh cửa. Khánh cúi xuống nhặt tờ giấy vàng. Tờ giấy này mang dấu ấn hình vuông khuyết góc của Địa Phủ, nét triện màu đỏ tươi như máu mới. Mùi bùn đất ẩm ướt và mùi vôi sống cũ bốc lên nồng nặc từ mặt giấy. Tờ lệnh của Địa Phủ cũng yêu cầu thu hồi chiếc áo dài tím ngay trong ngày. Lý do là lớp lót bên trong áo được cắt từ vải liệm lấy dưới huyệt mộ, còn cái chết của người này xảy ra ngay trên mặt đất, thuộc quyền cai quản của đất đai sông ngòi phía dưới.
Khánh cầm hai tờ lệnh trên hai tay. Một tờ đỏ, một tờ vàng. Cả hai đều đòi người, đòi vật, nhưng tuyệt nhiên không một dòng nào nhắc đến lời hẹn, lời khai hay nguyện ước của người đã khuất. Chúng chỉ đơn thuần là những mệnh lệnh khô khốc, đòi phân chia một vong hồn dựa trên những quy tắc phân loại của hai cõi.
Ông Tư khẽ nhích chân trái, tiếng gậy gỗ chạm xuống nền gạch nghe cộc một tiếng. Ông nhìn hai mảnh giấy trên tay Khánh, đôi mắt già nua nheo lại dưới đôi chân mày bạc trắng.
- Hai bên đều đòi.
Ông Tư ho húng hắng vài tiếng, giọng khàn đặc.
- Mi tính giao cho bên mô?
Khánh nhìn tờ lệnh đỏ có mùi khói nhang, rồi nhìn sang tờ lệnh vàng dính đất mộ. Hắn lắc đầu, đặt cả hai tờ giấy lên chiếc đĩa đồng cũ dùng để đốt sớ đặt trên bàn trà.
- Tiệm mình không bán người chết cho bên thắng tranh chấp. Với lại, nguyên nhân tử vong của người ta còn chưa rõ ràng, giao đi chừ là hại vong. Ai biết được họ ghi hồ sơ có đúng sự thật hay không.
Ông Tư nhìn Khánh thật lâu. Ánh mắt ông có phần nhẹ nhõm, nhưng nét mệt mỏi trên gương mặt vẫn không giảm bớt. Ông chống gậy đứng lên, bàn tay gầy guộc run rẩy cầm lấy bật lửa ga trên bàn.
- Rứa thì đốt đi.
Ông Tư nói, giọng khản đặc.
Ông châm lửa vào góc hai tờ giấy. Ngọn lửa bùng lên, chia chiếc đĩa đồng làm hai nửa rõ rệt. Nửa bên tờ lệnh đỏ cháy ra những tia lửa màu hồng nhạt, tro giấy bay vút lên trần nhà rường rồi tắt ngấm. Nửa bên tờ lệnh vàng cháy chậm hơn, khói đen bốc lên nghi ngút, giấy cháy đến đâu liền hóa thành những cục đất vàng quánh lại, bám chặt vào mặt đĩa đồng như bùn sông.
Khi ngọn lửa vừa tắt, Ông Tư định cúi xuống dọn chiếc đĩa thì người ông bỗng lảo đảo. Chân trái mất lực hoàn toàn khiến ông suýt đổ ập xuống bàn. Khánh nhanh tay đỡ lấy vai ông, dìu ông ngồi lại vào chiếc ghế bành. Trán Ông Tư lấm tấm mồ hôi hột, hơi thở dốc và nặng nề. Ông vịn chặt vào mép bàn gỗ để giữ thăng bằng, bàn tay nổi đầy gân xanh.
- Chú nghỉ đi, để con dọn.
Khánh nói, giọng lo lắng. Hắn mang chiếc đĩa đồng ra góc sân, dùng nước giếng dội sạch lớp tro đất bám trên mặt đĩa.
Đến chập chiều, khi ánh nắng ngoài ngõ kiệt Gia Hội bắt đầu chuyển sang màu vàng vọt của buổi hoàng hôn, tiếng gõ cửa tiệm vang lên. Người gõ cửa là mụ Hoa, chủ sạp quần áo cũ ở chợ Đông Ba. Mụ Hoa đi một mình, gương mặt tái nhợt, chiếc nón lá cầm trên tay run bần bật. Mụ vừa bước qua ngạch cửa đã vội vã nhìn quanh như sợ có ai bám theo sau lưng.
- Cậu Khánh ơi, tui lạy cậu, cậu giúp tui với.
Mụ Hoa nói, giọng run rẩy, đặt lên bàn một cuốn sổ mua hàng cũ nát, bìa bọc nylon xanh đã rách góc.
Khánh rót cho mụ cốc nước chè xanh ấm.
- Có chuyện chi rứa o? O ngồi xuống uống miếng nước đã.
Mụ Hoa nhấp một ngụm nước, nhưng tay run đến nỗi nước chè sóng sánh đổ cả ra ngoài. Mụ chỉ tay về phía chiếc tủ kính niêm khóa đặt chiếc áo dài tím.
- Chiếc áo nớ... tui mua lại của một người dọn nhà thuê ở kiệt Gia Hội hồi giữa năm 2024. Căn nhà nớ có người chết trẻ, nghe đâu là tự sát. Tui thấy áo còn mới, vải lụa tốt nên mua về định sửa lại bán kiếm lời. Nhưng từ ngày mang chiếc áo nớ về sạp, chuyện kỳ quái cứ xảy ra liên tục.
Mụ Hoa nuốt nước bọt, giọng nhỏ lại như sợ người ngoài nghe thấy.
- Tui treo chiếc áo nớ lên con ma-nơ-canh bằng nhựa ở sạp. Đêm nào tui cũng mơ thấy có người đàn bà đứng bên giường, cổ họng nghẹn đặc không nói được câu chi. Tui sợ quá, về sau cất nó trong căn nhà khóa kín rồi báo anh Phan Khanh. Ngày ba mươi mốt tháng Bảy, ảnh lấy áo ra, niêm lại và đưa sang gửi tạm chỗ cậu. Nhưng mà... dù áo đã mang đi rồi, con ma-nơ-canh nhựa ở sạp của tui vẫn bị biến dạng. Cứ mỗi sáng ra mở sạp, tui lại thấy trên cổ con ma-nơ-canh hằn lên những vệt màu tím đen, giống như có ai dùng dây siết chặt vào phần cổ nhựa nớ. Vệt lằn ngày càng sâu, nhựa bắt đầu nứt ra rồi. Tui không dám giữ cuốn sổ mua hàng ni nữa, tui giao hết cho cậu để cậu tìm cách trả áo cho người ta, chứ tui chịu không thấu nữa rồi.
Khánh nhận lấy cuốn sổ mua hàng từ tay mụ Hoa. Hắn lật từng trang giấy đen sạm vì bụi chợ. Ở mục ghi giữa năm 2024, có dòng chữ viết tay nguệch ngoạc ghi nhận việc mua một chiếc áo dài tím cùng vài món đồ trang sức bằng đồng với giá rẻ. Địa chỉ căn nhà được ghi rõ là một kiệt nhỏ nằm sâu trong khu Gia Hội.
Sau khi tiễn mụ Hoa ra về, Khánh quay vào tiệm. Bóng tối bắt đầu đổ sập xuống những mái ngói rêu phong của phố cổ. Trong tiệm không bật đèn điện, chỉ có ngọn đèn dầu đặt trên quầy tỏa ra ánh sáng vàng cam leo lét.
Chính lúc này, từ phía chiếc tủ kính trưng bày, một tiếng động lạ vang lên. Tiếng gỗ mít của ma-nơ-canh kêu răng rắc, giống như có một lực lớn đang vặn xoắn các khớp nối.
Khánh bước nhanh lại gần. Dưới ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu, hai tà của chiếc áo dài tím tự động chuyển động. Chúng không rủ xuống tự nhiên nữa mà bắt đầu quấn chặt lấy thân ma-nơ-canh gỗ. Vải lụa tím căng ra dưới một lực kéo vô hình. Cổ áo dài siết chặt lại quanh phần cổ gỗ của ma-nơ-canh. Lực siết mạnh đến mức lớp sơn phủ màu da người trên cổ gỗ nứt ra từng mảng, rơi lả tả xuống đế tủ. Khớp vai bên trái của ma-nơ-canh bị kéo lệch hẳn sang một bên, phát ra tiếng kêu khô khốc của thớ gỗ bị bẻ gãy.
- Bồi, lấy cho eng nén nhang trầm với ba tờ giấy vàng mau!
Khánh gọi giật giọng ra phía sau.
Thằng bé Bồi đang ngồi ở góc nhà vội vàng chạy tới, tay cầm sẵn nhang và giấy vàng đưa cho Khánh. Khánh châm nén nhang bằng ngọn lửa đèn dầu, khói trầm thơm nồng bốc lên. Hắn dùng ngón tay trỏ tay phải, bấm mạnh vào đầu ngón tay trái cho đến khi một giọt máu tươi rỉ ra. Hắn quệt giọt máu lên ba tờ giấy vàng, miệng lẩm nhẩm những câu chú niêm phong cơ bản mà Ông Tư đã dạy.
Khánh dán ba tờ giấy vàng lên mặt kính của chiếc tủ, ngay vị trí đối diện với cổ của ma-nơ-canh. Hắn cắm nén nhang trầm vào chiếc bát nhỏ đặt dưới chân tủ.
Khi bùa niêm vừa chạm vào kính, chiếc áo dài ngoài màu tím bỗng khựng lại, đứng yên không chuyển động nữa. Nhưng những đường chỉ khâu nối giữa lớp lụa tím và lớp vải lót màu trắng bên trong vẫn giật liên hồi. Những sợi chỉ đen mảnh như tóc người nhô lên khỏi mặt vải, co giật theo từng nhịp ngắn, giống như có ai đó đang đứng phía sau giật mạnh những sợi tóc bị kẹt trong kẽ vải.
Khánh cầm cây đèn dầu, ghé sát mắt vào lớp kính tủ để quan sát kỹ hơn. Dưới ánh lửa bập bùng, hắn nhìn thấy rõ những sợi chỉ khâu không phải làm bằng chỉ cotton hay chỉ tơ thông thường. Trong sợi chỉ đen có lẫn những sợi tóc người thật, dài và mảnh. Lớp vải lót màu trắng bên trong bốc lên mùi đất mộ ẩm ướt, thứ mùi của đất sâu bị đào xới lên sau một trận mưa rào, trộn lẫn với mùi vôi sống cũ dùng để rải dưới đáy quan tài.
Đúng lúc đó, từ mặt trong của lớp vải lót trắng, một vết bầm màu tím đen bắt đầu hiện rõ. Vết bầm lan rộng ra, tạo thành hình dáng của một bàn tay phụ nữ với những ngón tay thon dài. Bàn tay đó ép mạnh từ phía trong ra ngoài lớp vải lót, in hằn rõ rệt lên mặt vải như muốn đẩy tung lớp cửa kính để thoát ra ngoài.
Bồi từ phía sau bước lại gần. Thằng bé không sợ hãi như mọi khi, nhưng gương mặt nó dưới ánh đèn dầu đã chuyển sang màu trắng bệch. Nó áp tai vào lớp kính tủ, đôi mắt mở to nhìn chằm chằm vào dấu bàn tay bầm tím trên lớp vải lót.
Khánh định kéo Bồi ra xa, nhưng thằng bé đã giơ một ngón tay lên môi, ra hiệu cho hắn im lặng. Nó lắng nghe một lúc lâu, bờ vai nhỏ run lên bần bật dưới lớp áo cộc tay. Khi nó quay lại nhìn Khánh, hai dòng nước mắt đã chảy dài trên má:
- Eng Khánh, có o mô trong áo nói đừng giao tên o cho họ.