TÔI MỞ TIỆM CẦM ĐỒ CHO MA (VONG KÝ - SÔNG HƯƠNG) - Chương 185: Kho Trống Một Chỗ

Bồi trở xuống kho sau một đêm thức trắng, đôi chân nhỏ bé của nó bước từng bước ngập ngừng trên những bậc thang đá ẩm ướt dẫn xuống lòng đất. Gian kho…

Nội dung chương

Bồi trở xuống kho sau một đêm thức trắng, đôi chân nhỏ bé của nó bước từng bước ngập ngừng trên những bậc thang đá ẩm ướt dẫn xuống lòng đất. Gian kho dưới tiệm Vong Ký vào buổi sáng sớm lạnh hơn bình thường. Mùi mưa dầm dề từ mặt sông Hương ngoài kia thấm qua những kẽ tường gạch vồ, mang theo hơi nước ngai ngái và vị mặn mòi của bùn đất lâu năm. Thằng bé ôm chiếc khăn lau màu xám tro trong ngực, mắt nhìn chăm chăm vào ô tủ số ba đã được mở toang từ đêm qua.

Khánh đứng tựa lưng vào cây cột rường giữa kho, giọng khàn đi vì thiếu ngủ.

- Để đó eng làm cho. Mi lên nhà trên nằm nghỉ đi.

Bồi khẽ lắc đầu. Nó không nhìn Khánh, chỉ nhìn vào khoảng trống tối om bên trong ô tủ gỗ.

- Dạ thôi, để con tự dọn. Vật của mẹ con, con muốn tự tay cất dọn ngăn ni.

Khánh im lặng, không ngăn cản thêm. Hắn biết tính thằng bé, những lúc nó bướng bỉnh như thế này thì có nói thế nào cũng vô ích. Hắn chỉ bước lại gần, đỡ lấy chiếc hộp các-tông cũ từ tay Bồi rồi đặt xuống nền đất nện để thằng bé có chỗ đựng những thứ linh tinh.

Ông Tư đứng ở đầu cầu thang, tay chống gậy gỗ, chân trái gần như không có lực nên ông phải tựa hẳn người vào vách đá. Ông mở quyển Vong Ký trắng ra, những ngón tay khô gầy lật qua từng trang giấy bản màu vàng úa. Đến trang viết tên Võ Thị Liên đêm qua, mặt giấy giờ đây chỉ còn là một khoảng trống trơn nhẵn. Nét mực tàu đen sẫm ghi tên mẹ Bồi đã phai đi hoàn toàn, không để lại dù chỉ là một vệt xám mờ.

Ông Tư lên tiếng, giọng trầm thấp và đục ngầu như nước sông mùa lũ.

- Tên đã phai khỏi sổ. Lời hẹn dưới nước đã trả xong. Từ chừ trở đi, vong hồn bà Liên không còn thuộc về cõi âm sông Hương nữa.

Bồi nghe vậy thì bờ vai nhỏ khẽ run lên một nhịp, nhưng nó nhanh chóng lấy tay quệt ngang mũi, bắt đầu với tay vào trong ô tủ gỗ. Ô tủ số ba vốn là nơi đặt chiếc lược nhựa xanh lá cây suốt nhiều năm qua. Giờ đây, khi vật neo đã được đưa ra ngoài, bên trong không còn một chút hơi ấm lạnh nào của cõi âm. Khánh ghé mắt nhìn vào, chỉ thấy một lớp muối mỏng màu trắng đục đọng lại trên mặt gỗ rường cũ kỹ. Đó là thứ muối kết tinh từ nước lợ của đầm Cầu Hai, thứ nước đã nuôi dưỡng vong hồn người đàn bà tội nghiệp suốt những năm tháng nằm dưới đáy nước sâu.

Bồi dùng chiếc khăn khô lau cẩn thận từng góc của ô tủ. Nó lau rất chậm, như sợ rằng nếu làm nhanh quá thì chút dấu vết cuối cùng của mẹ nó cũng sẽ biến mất. Lớp muối mỏng bám chặt vào thớ gỗ ẩm được nó chùi sạch, rơi lả tả xuống lòng bàn tay. Sau khi lau xong, thằng bé gỡ tấm thẻ tre nhỏ ghi ngày nhận vật treo ở mép tủ xuống. Tấm thẻ tre đã mủn nát, sợi dây gai buộc thẻ cũng đã mục ruỗng từ lâu.

Nó cầm tấm thẻ tre và chiếc chìa khóa đồng nhỏ bước lại gần Ông Tư, hai tay dâng lên.

- Con trả chìa khóa cho ông Tư. Tấm thẻ ni... con cũng không giữ nữa.

Ông Tư đón lấy chiếc chìa khóa, tiếng kim loại chạm vào nhau nghe lạnh ngắt. Ông nhìn thằng bé, hỏi nhẹ:

- Mi không muốn giữ giấy biên nhận sao? Để làm kỷ niệm cũng được mà.

Bồi cúi đầu.

- Dạ thôi. Mẹ con đi rồi, giữ cái giấy ni chỉ thêm nhớ. Con giữ cái khác rồi.

Thằng bé thọc tay vào túi quần, lôi ra một chiếc cúc áo bằng xà cừ nhỏ xíu, xỉn màu. Chiếc cúc này vốn được khâu bằng một sợi chỉ tơ đỏ mục nát ở phần chuôi của chiếc lược nhựa xanh. Đêm qua, khi chiếc lược mất đi âm khí và gãy làm đôi, chiếc cúc xà cừ này đã tự rớt ra ngoài.

Khánh nhìn chiếc cúc xà cừ, chân mày khẽ nhíu lại. Hắn quay sang nhìn Ông Tư, ý muốn hỏi liệu vật này có mang theo điềm gở hay không. Ông Tư hiểu ý, ông đặt gậy xuống, lấy từ trong túi áo ra một nén nhang nhỏ. Ông châm nhang, rồi bảo Bồi đặt chiếc cúc xà cừ lên một chén nước sông Hương nhỏ đặt trên bàn thờ phụ trong kho.

Khói nhang bay lên, quấn quanh chén nước rồi tản ra thành những làn khói thẳng đứng, không hề tụ lại hay có màu đen đục. Mặt nước sông trong chén vẫn phẳng lặng, chiếc cúc xà cừ chìm xuống đáy, lấp lánh thứ ánh sáng xà cừ yếu ớt dưới ánh đèn dầu.

Ông Tư gật đầu.

- Chiếc cúc ni sạch sẽ. Nó không giữ vong, cũng không mang theo lời hẹn hay oán khí chi cả. Chỉ là một món đồ của người sống từng dùng. Mi giữ lấy làm kỷ vật thì được.

Bồi cẩn thận vớt chiếc cúc ra, lau khô vào vạt áo rồi bỏ lại vào túi quần. Khuôn mặt nó tuy vẫn còn nét mệt mỏi sau một đêm dài khóc nghẹn, nhưng ánh mắt đã có phần thanh thản hơn.

Khánh bước tới bên tủ gỗ, dùng tay đẩy cánh cửa gỗ của ô tủ số ba lại. Tiếng chốt khóa bằng đồng kêu lên một tiếng rắc khô khốc, vang vọng trong không gian chật hẹp của gian kho dưới lòng đất. Ô tủ số ba từ nay sẽ bỏ trống, chờ đợi một tà vật khác được mang đến tiệm.

Nhưng ngay khi tiếng chốt cửa vừa dứt, Bồi đột ngột khựng người lại. Đôi tai của thằng bé giật mạnh hai cái liên tiếp. Nó quay ngoắt đầu về phía bức tường gạch khô ở phía Đông của gian kho - hướng nhìn thẳng ra lòng sông Hương bên ngoài vách đá.

Bồi nói, giọng nhỏ đến mức gần như chỉ là một hơi thở gấp.

- Eng Khánh... Có tiếng chi dưới tường.

Khánh dừng tay, hắn lắng tai nghe nhưng xung quanh chỉ có tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái ngói của tiệm ở phía trên cao và tiếng nước sông vỗ oàm oạp vào chân bến đá ngoài kia. Hắn cầm chiếc khánh đồng nhỏ trên bàn thờ phụ lên, gõ nhẹ một tiếng boong thanh mảnh. Mặt khánh đồng đứng im, không hề có độ rung bất thường nào báo hiệu sự xuất hiện của vong hồn.

Khánh ôn tồn nói:

- Không có chi đâu Bồi. Chắc tiếng nước mưa thấm qua kẽ gạch đó thôi.

Bồi quả quyết, bước chân tự động tiến lại gần bức tường gạch vồ màu xám xịt.

- Không phải nước mưa. Tiếng ni lạ lắm. Nó chảy... nó chảy rào rào nhưng nghe như có người đang cào vào gạch.

Thằng bé áp sát tai vào một khe gạch khô khốc ở góc tường phía Đông. Khe gạch này nằm ở vị trí khuất, nơi lớp vôi vữa đã bong tróc lộ ra phần đất nện bên trong. Khánh và Ông Tư đều bước lại gần. Ông Tư nhìn chằm chằm vào khe gạch, gương mặt già nua của ông hiện lên vẻ nghiêm trọng. Ông không nghe thấy tiếng động như Bồi, nhưng ông biết Âm giác của đứa trẻ làng chài này chưa bao giờ báo sai.

Bồi đứng yên như tượng trong ba nhịp thở. Đột nhiên, khuôn mặt nó co rúm lại. Hai dòng máu mũi đỏ tươi từ hai bên cánh mũi đột ngột chảy tràn ra, nhỏ xuống chiếc áo cộc tay sờn rách của nó.

Khánh la lên, lao tới chụp lấy vai thằng bé kéo mạnh ra khỏi bức tường.

- Bồi!

Nhưng Bồi lúc này đã lả đi. Hai tai nó ù đặc, mắt trợn trừng nhìn vào khoảng không trước mặt. Nó lấy hai tay bịt chặt tai, người run lên bần bật như bị trúng gió độc.

Thằng bé gào lên, nhưng giọng méo mó đi vì chính nó cũng không tự nghe thấy tiếng mình.

- Đau quá... tai con đau quá eng Khánh ơi... Tiếng nước chảy to quá... Con không nghe được tiếng eng nói nữa...

Khánh không chần chừ, hắn luồn tay dưới nách Bồi, bế thốc thằng bé lên rồi nhanh chóng bước lên những bậc thang đá. Ông Tư chống gậy đi sau, tiếng gậy gỗ gõ dồn dập trên nền đá ẩm ướt như thúc giục.

Lên đến gian giữa của tiệm Vong Ký, Khánh đặt Bồi nằm xuống chiếc chõng tre bên cạnh quầy cầm đồ. Hắn lấy một chiếc khăn ướt lau sạch máu mũi trên mặt thằng bé, rồi dùng ngón tay ấn mạnh vào huyệt nhân trung của nó. Bồi hít vào một hơi thật sâu, đôi mắt nó dần có lại tiêu cự, nhưng người vẫn không ngừng run rẩy.

Khánh gắt nhẹ, giọng chứa đầy sự lo lắng.

- Nằm yên đó. Không được cố nghe nữa.

Hắn quay sang nhìn Ông Tư đang thở dốc bên cạnh bàn gỗ.

- Răng tự nhiên thằng nhỏ bị nặng rứa ông Tư? Hồi trước hắn nghe tiếng vong trong gương có bị chảy máu mũi mô?

Ông Tư ngồi xuống ghế, đặt chiếc gậy gỗ tựa vào thành bàn. Ông rót một chén nước chè xanh đã nguội ngắt, đẩy về phía Khánh rồi chậm rãi giải thích:

- Âm giác của thằng Bồi trước chừ luôn bị tạp âm từ chiếc lược của mẹ nó che lấp bớt. Giờ vật neo đã trống, vong hồn bà Liên đã đi, cái mỏ neo giữ thần trí của nó dưới kho cũng không còn. Âm giác của nó nhạy hơn, nhưng cũng vì rứa mà nó phải hứng chịu trực tiếp những tiếng động từ dưới lòng sông Hương dội vào. Không phải vì nó mạnh lên, mà là vì cái màng bảo vệ của nó đã mất rồi.

Khánh nhìn xuống Bồi. Thằng bé đã nhắm mắt, hơi thở dần ổn định nhưng hai tai vẫn đỏ ửng lên vì áp lực âm khí. Hắn lấy cuốn sổ tay nhỏ của mình ra, ghi chép lại vị trí khe gạch ở bức tường phía Đông dưới kho mà Bồi vừa chỉ. Hắn tự hứa với lòng sẽ không bao giờ cho thằng bé xuống kho nghe ngóng bất kỳ thứ gì nữa nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng.

Ngoài trời, cơn mưa giông tháng Tám vẫn đổ xuống phố cổ Bao Vinh không dứt. Khánh bước ra phía cửa tiệm, nhìn qua những cánh cửa thượng song hạ bản đang mở hờ.

Ngay lúc đó, một hiện tượng kỳ lạ xảy ra ngoài kiệt Gia Hội phía sau nhà. Nước mưa đọng trong các rãnh thoát nước bằng đá dọc theo con kiệt vốn đang chảy xuôi dòng ra phía sông Hương. Nhưng chỉ trong vòng vài giây ngắn ngủi, dòng nước đục ngầu ấy bỗng nhiên khựng lại, rồi chảy ngược về phía ngược lại, hướng thẳng vào sâu trong đất liền trước khi trở lại bình thường.

Bồi từ trên chõng tre khẽ mở mắt, nhìn ra khoảng sân ngoài kiệt qua khe cửa. Nó mấp máy môi, muốn nhắc đến dòng nước chảy ngược vừa nhìn thấy, nhưng cơ thể kiệt sức khiến nó không thể phát ra thành tiếng. Nó chỉ có thể nhắm mắt lại, tay nắm chặt chiếc cúc áo xà cừ trong túi quần.

Khánh cũng nhìn thấy cảnh tượng nước chảy ngược đó. Tim hắn đập nhanh hơn một nhịp. Nước sông Hương đang có những biến chuyển bất thường, điềm báo về ngày mở Cửa ngày một rõ rệt hơn.

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại di động đặt trên quầy cầm đồ của Khánh rung lên bần bật. Tiếng chuông reo vang lên lạc lõng giữa tiếng mưa dầm dề. Khánh bước tới cầm máy, màn hình hiển thị tên của Trần Quang.

Hắn nhấn nút nghe, chưa kịp lên tiếng thì đầu dây bên kia đã vang lên giọng nói gấp gáp, xen lẫn tiếng thở dốc của Quang:

- Khánh đó phải không? Tau tìm thấy rồi.

Khánh hỏi, mắt vẫn không rời khỏi Bồi đang nằm trên chõng.

- Tìm thấy cái chi? Mi đang ở mô rứa?

Giọng Quang nhỏ lại, như thể anh đang phải trốn ở một góc khuất để gọi điện.

- Tau đang ở nhà thờ họ Nguyễn dòng trong kiệt Kim Long. Trong lúc tra cứu sổ nghĩa địa cũ để tìm thông tin về chủ nhân chiếc áo dài tím của vợ Phan Khanh, tau vô tình phát hiện ra một tập mục lục biên bản cũ của Thoải Phủ sông Hương. Tập mục lục ni chép từ năm 1725.

Khánh nghe đến mốc năm 1725 thì toàn thân cứng đờ. Đó là thời điểm xảy ra vụ án của Thảo Ly và Hồ Vũ dưới thời Chưởng môn Ông Tâm.

Khánh hỏi dồn:

- Trong mục lục ghi cái chi?

Quang nói nhanh, tiếng giấy tờ sột soạt vang lên bên đầu dây của anh.

- Có tên của Hồ Vũ. Bên cạnh tên hắn có ghi một người phụ nữ, nhưng người ta không chép đầy đủ họ tên, chỉ ghi vỏn vẹn một chữ 'Ly'. Biên bản ghi rõ đây là phán quyết thi hành đối với kẻ phản Phủ. Bản gốc của tập biên bản ni đang được cất trong kho lưu trữ tư liệu cũ của nhà thờ họ này. Quản kho đã đồng ý cho tau vào xem bản gốc chiều ni.

Khánh cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Một linh cảm xấu ập đến khiến hắn không kịp suy nghĩ nhiều.

- Quang, nghe tau nói ni. Mi tuyệt đối không được tự ý đi vào kho lưu trữ đó một mình. Đợi tau lên Kim Long rồi hai đứa cùng vào. Nghe rõ chưa?

Tuy nhiên, đầu dây bên kia không có tiếng trả lời của Quang. Chỉ có tiếng rè rè của sóng điện thoại bị nhiễu do trời mưa bão.

Rồi, qua ống nghe, Khánh nghe thấy một tiếng rẹt rất lớn, giống như tiếng một trang giấy cổ thụ bị ai đó dùng lực xé toạc ra khỏi gáy sách. Ngay sau đó là tiếng nước nhỏ tỏng tỏng đều đặn xuống nền đá ẩm ướt, rõ mồn một như thể có kẻ đang đứng ngay sát bên cạnh chiếc điện thoại của Quang.

Khánh hét vào điện thoại:

- Quang! Mi có nghe tau nói không?

Giọng của Quang vang lên, nhưng lần này nó run rẩy đến mức không còn ra hơi:

- Khánh... có người... có người lạ ở trong kho... Hắn đứng sau lưng tau từ lúc mô...

Trước khi Khánh kịp hỏi thêm, một giọng nói đàn ông trầm đục, mang âm hưởng cổ xưa và lạnh lẽo như hơi thở dưới đáy sông sâu cất lên sát ống nghe điện thoại:

- Điều đã tan thì không cần người đời chép lại.

Chương khác

Xem thêm