Tống Zong Zi - Chương 8: Người trong nhóm sinh viên Việt
Chiếc nắp hộp sắt rít lên một tiếng khô khốc khi chú Lâm dùng lực kéo nó ra. Một làn bụi mỏng, mang theo mùi giấy bản mục nát và vị mặn chát của muối ẩm,…
Nội dung chương
Chiếc nắp hộp sắt rít lên một tiếng khô khốc khi chú Lâm dùng lực kéo nó ra. Một làn bụi mỏng, mang theo mùi giấy bản mục nát và vị mặn chát của muối ẩm, bốc lên giữa căn phòng lưu trữ chật hẹp. Chú Lâm ho khẽ, dùng bàn tay thô ráp gạt bớt những mảnh giấy vụn bám trên mép hộp.
Bên trong chiếc hộp sắt hoen rỉ là những tập hồ sơ được buộc lại bằng dây chỉ đỏ. Mỗi tập hồ sơ đại diện cho một sự vụ tâm linh mà ngôi miếu này từng đứng ra xử lý. Trên lớp giấy bọc ngoài của tập tài liệu nằm trên cùng, những nét chữ viết bằng mực tàu đã ngả sang màu nâu xỉn, ghi rõ một dòng chữ Hán: Kỷ Hợi niên, cửu nguyệt thất nhật, tống sát pháp sự.
Năm Kỷ Hợi, ngày bảy tháng chín, pháp sự tống sát.
Đó chính là ngày mùng bảy tháng chín của bảy năm trước. Ngày mà Mai qua đời.
Chú Lâm cẩn thận cởi nút thắt sợi chỉ đỏ đã mục. Chú đặt tập hồ sơ lên chiếc bàn gỗ đầy vết dao khắc phoi tre. Linh và A Han tiến lại gần. Hơi thở của họ như nghẹn lại trong cái lạnh ẩm của căn phòng không có ánh sáng tự nhiên.
Tờ giấy đầu tiên là tờ khai thông tin của người quá cố để trình lên các vị thần linh trong miếu trước khi làm lễ. Trên tờ giấy màu vàng nhạt, những thông tin của Mai hiện ra dưới ngòi bút lông run rẩy của người viết. Tên tiếng Trung của cô được phiên âm là Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1997, quê quán tại Nghệ An, Việt Nam. Nơi tử vong là căn phòng trọ tầng hai của nhà bà Thái.
Nhưng điều khiến Linh chú ý nhất không phải là những dòng chữ Hán đó, mà là phần cuối của tờ khai, nơi có chữ ký của những người chứng kiến và bảo lãnh. Ngoài chữ ký nguệch ngoạc của bà Thái, còn có hai chữ ký khác bằng chữ Quốc ngữ, được viết bằng bút bi xanh đã phai màu.
Trần Quốc Anh.
Nguyễn Minh Thư.
Bên cạnh hai cái tên đó là số hộ chiếu và một số điện thoại di động Đài Loan.
Chú Lâm chỉ tay vào hai cái tên tiếng Việt, giọng trầm xuống:
“Năm đó, khi con bé kia treo cổ, bà Thái sợ đến mức không dám vào phòng. Cảnh sát gọi điện cho trường đại học gần đây. Phía trường cử hai đứa sinh viên cùng hội đồng hương đến hỗ trợ nhận dạng và thu dọn đồ đạc. Hai đứa này chính là người đã ký vào giấy tờ để miếu làm lễ.”
Cô nhìn chằm chằm vào cái tên Trần Quốc Anh. Một cảm giác quen thuộc nhòe lạnh dội lên trong lòng cô. Cô lục tìm trong trí nhớ về những ngày đầu mới sang Chương Hóa. Trên các hội nhóm du học sinh Việt Nam tại miền Trung Đài Loan, cái tên Quốc Anh thường xuất hiện trong các bài viết hướng dẫn tìm việc làm thêm hoặc hỗ trợ thủ tục giấy tờ cho tân sinh viên.
A Han ghé sát mắt vào tờ giấy, khẽ hỏi chú Lâm bằng tiếng Đài:
“Chú Lâm, chú còn nhớ gì về hai người này không? Họ có thái độ thế nào khi làm lễ?”
Chú Lâm rít một hơi thuốc lá điện tử. Làn khói mỏng nhanh chóng tan vào khoảng tối trên trần nhà. Chú nheo mắt, ký ức bảy năm trước hiện về qua những nếp nhăn sâu trên trán.
“Nhớ chứ. Làm sao quên được. Hôm đó trời mưa tầm tã, gió bão thổi từ biển vào làm rung cả mái tôn của miếu. Hai đứa nhỏ người Việt đó đến cùng đại diện bên trường. Đứa con gái tên Thư thì khóc suốt, không dám nhìn vào căn phòng. Còn thằng con trai tên Anh thì mặt cắt không còn giọt máu, cứ đứng rúm ró ở góc hành lang.”
Chú Lâm dừng lại một chút, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ.
“Thầy Hứa lúc đó đã dặn rất kỹ, người ngoài không được tùy tiện tham gia vào đoàn tống sát. Nhưng vì họ là đồng hương của người chết, thầy cần họ đứng ở cửa phòng, gọi tên con bé để dẫn phần sát bám trong phòng nhập vào sợi dây. Rồi đưa đi. Không phải gọi hồn về để giữ lại, mà là để nó biết đường rời khỏi chỗ chết. Thế nhưng. Khi thầy Hứa vừa thắt nút sợi dây đầu tiên để chuẩn bị đưa xuống đường, thằng con trai kia đột nhiên hét lên một tiếng rồi bỏ chạy. Nó chạy thẳng xuống cầu thang, lao ra ngoài màn mưa bão.”
Linh rùng mình.
“Anh ta chạy trốn sao chú?”
“Đúng vậy.” Chú Lâm thở dài, ánh mắt lộ vẻ nghiêm nghị. “Nghi lễ tống sát kỵ nhất là hoảng loạn và đứt quãng. Khi thằng bé đó chạy đi, nó vô tình phá vỡ vòng bảo hộ âm dương mà thầy Hứa thiết lập ở chân cầu thang. Gió bão lúc đó thổi tung lá bùa trấn môn. Con bé Thư đứng lại một mình thì ngất xỉu. Pháp sự rối từ giây phút đó. Thầy Hứa phải cố gắng lắm mới đưa được sợi dây ra khỏi nhà trọ. Nhưng sát khí đã bị phân tán. Một phần bám theo đứa chạy trốn. Phần còn lại quay ngược vào phòng, vì vật cần tống đi không được đưa ra biển trọn vẹn.”
Cô cảm thấy sống lưng mình lạnh toát. Cô nhìn xuống dòng số điện thoại của Trần Quốc Anh trên tờ giấy. Số điện thoại mười chữ số bắt đầu bằng 0987. Cô nhanh chóng lấy điện thoại ra, nhập dãy số đó vào thanh tìm kiếm của ứng dụng Line.
Màn hình xoay tròn một lúc rồi hiện ra một tài khoản có ảnh đại diện là hình một người đàn ông trẻ tuổi đứng trước ga tàu Chương Hóa. Anh ta mặc áo khoác đen, gương mặt hốc hác, ánh mắt sắc sảo. Tên tài khoản hiển thị là “Alex Chen (Quốc Anh)”.
Dòng trạng thái được cập nhật từ ba ngày trước:
“Có những món nợ, trốn thế nào cũng không thoát.”
Linh đưa màn hình cho A Han xem. A Han nhíu mày.
“Anh ta vẫn còn ở Đài Loan. Bảy năm rồi mà vẫn dùng tài khoản này sao?”
“Có vẻ anh ta đã tốt nghiệp và ở lại đi làm,” Linh nói, giọng cô run lên vì hồi hộp. “Hoặc là anh ta không thể rời đi.”
Chú Lâm nhìn hai người rồi nói thêm:
“Sau đêm đó, con bé Thư lập tức làm thủ tục bảo lưu rồi bay về Việt Nam ngay trong tuần. Còn thằng Anh thì nghe nói bị ốm nặng một trận, nằm viện mất nửa tháng ở bệnh viện Chương Hóa. Từ đó về sau, không ai thấy nó xuất hiện ở khu vực Lộc Cảng này nữa. Nhưng sát khí của người treo cổ một khi đã bám vào ai thì kẻ đó khó mà sống yên ổn.”
Linh cảm ơn chú Lâm rồi cùng A Han bước ra khỏi căn phòng lưu trữ. Cơn mưa bên ngoài vẫn chưa dứt, những hạt mưa đập vào mái hiên miếu tạo nên âm thanh lộp bộp, đều đặn như tiếng gõ mõ.
Họ ngồi xuống băng ghế đá dưới bóng một cây đa cổ thụ trong sân miếu. Khói nhang từ chính điện bay ra, bảng lảng trong làn mưa bụi. Linh mở điện thoại, ngón tay ngập ngừng đặt trên nút gửi lời mời kết bạn với tài khoản của Trần Quốc Anh.
“Linh, cậu chắc chắn muốn liên lạc với người này chứ?” A Han hỏi, giọng đầy lo lắng. “Nếu anh ta là người đã phá vỡ nghi lễ năm đó, sát khí trên người anh ta có thể còn nặng hơn cả cậu.”
“Tớ không còn lựa chọn nào khác.” Linh nhìn thẳng vào mắt A Han. “Mảnh dây thừng vẫn còn ở trong phòng tớ. Tiếng gọi đó ngày càng rõ hơn. Nếu không tìm ra lý do tại sao Mai chết và điều gì đã thực sự xảy ra trong nhóm sinh viên Việt Nam năm đó, tớ sẽ là người tiếp theo phải bước lên chiếc ghế gỗ kia.”
Cô nhấn nút gửi tin nhắn.
*Chào anh, em là Linh, du học sinh mới sang. Em hiện đang thuê lại căn phòng cũ của chị Mai ở Chương Hóa. Em cần hỏi anh một số chuyện về sự việc bảy năm trước.*
Tin nhắn gửi đi. Linh không hy vọng sẽ nhận được câu trả lời ngay lập tức. Cô tựa lưng vào thành ghế đá, nhìn những giọt nước mưa chảy tràn trên mặt sân lát đá xanh.
Nỗi cô đơn xứ người là một thứ cảm giác rất kỳ lạ. Nó không đến dồn dập, mà thấm dần vào da thịt như cái lạnh của cơn mưa miền Trung Đài Loan. Linh nhớ nhà. Cô nhớ tiếng còi xe ồn ã ở Hà Nội, nhớ quán trà đá vỉa hè, nhớ giọng nói ấm áp của mẹ mỗi khi gọi cô xuống ăn cơm. Ở nơi đất khách quê người này, mỗi khi đêm xuống, căn phòng trọ của cô chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa và tiếng bước chân lẻ loi của chính mình.
Mai chắc chắn cũng đã từng trải qua những cảm giác này. Một cô gái trẻ, một mình nơi xứ lạ, xung quanh là những người bất đồng ngôn ngữ, áp lực học tập và cơm áo gạo tiền đè nặng lên vai. Khi nỗi cô đơn bị kéo dài đến kiệt sức, chỉ cần một tiếng gọi giả mạo vang lên trong đêm, người ta cũng có thể buông xuôi.
Điện thoại trong tay Linh đột ngột rung lên.
Một tin nhắn trả lời từ Trần Quốc Anh. Chỉ vỏn vẹn vài chữ:
*Đừng tìm hiểu nữa. Rời khỏi căn phòng đó ngay lập tức nếu còn muốn sống.*
Linh lập tức gõ phím trả lời:
*Em đã nhìn thấy đoàn tống sát. Em nghe thấy tiếng gọi bằng tiếng Việt rồi. Em không chạy thoát được nữa. Anh biết điều gì đúng không?*
Phía bên kia im lặng rất lâu. Trạng thái hiển thị đối phương đang nhập tin nhắn rồi lại biến mất, lặp đi lặp lại nhiều lần. Cuối cùng, một địa chỉ được gửi đến:
*Chiều nay, năm giờ. Quán trà sữa đối diện ga tàu Viên Lâm. Đi một mình thôi.*
Linh ngẩng đầu nhìn A Han.
“Anh ta hẹn tớ ở Viên Lâm. Nói tớ đi một mình.”
“Không được.” A Han phản đối ngay. “Viên Lâm cách đây khá xa. Người này lại có liên quan đến nghi lễ thất bại, cậu đi một mình quá nguy hiểm.”
“Nhưng nếu tớ đi cùng cậu, anh ta sẽ không xuất hiện,” Linh giải thích. “Anh ta đang sợ hãi. Tớ cảm nhận được điều đó qua tin nhắn. Tớ là người Việt, anh ta sẽ dễ mở lòng hơn. Cậu có thể đi cùng tớ đến Viên Lâm, nhưng hãy đợi ở ngoài quán.”
A Han im lặng một lúc rồi gật đầu đồng ý. Cậu biết tính Linh một khi đã quyết định thì khó lòng lay chuyển.
Bốn giờ chiều, Linh và A Han bắt chuyến xe buýt đi từ Lộc Cảng hướng về phía ga tàu Viên Lâm. Trời chiều tối nhanh hơn thường lệ vì mây giông phủ dày. Qua cửa kính xe buýt nhòe nước mưa, những cánh đồng lúa của Chương Hóa lướt qua như những vệt màu xanh xám ảm đạm. Những ngôi miếu nhỏ thờ Thổ Địa dựng bên đường thỉnh thoảng lại hiện ra, ánh đèn dầu đỏ lòm le lói trong bóng tối nhập nhoạng.
Khi họ đến quán trà sữa đối diện ga Viên Lâm, đồng hồ vừa điểm năm giờ. Quán khá vắng khách do thời tiết xấu. Ánh đèn neon vàng trong quán tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp, nhưng lại làm những chiếc bàn trống càng thêm hiu quạnh.
Linh bước vào quán một mình, chọn chiếc bàn sát cửa kính nhìn ra đường ray xe lửa phía đối diện. A Han ngồi ở một quán cà phê nhỏ cách đó vài căn nhà, mắt không rời khỏi lối vào của quán trà sữa.
Năm giờ mười lăm phút.
Cửa quán mở ra, tiếng chuông gió treo trên cửa vang lên lách cách. Một người đàn ông bước vào. Anh ta mặc áo khoác gió màu đen, đội mũ lưỡi trai sụp xuống trán. Gương mặt gầy gộc, hai má hóp sâu, làn da xám xịt thiếu sức sống. Đôi mắt anh ta không ngừng đảo quanh, cảnh giác với mọi chuyển động xung quanh.
Đó là Trần Quốc Anh.
Anh ta nhìn thấy Linh, bước nhanh đến bàn và ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Anh ta không gọi đồ uống, chỉ đặt hai bàn tay đan chặt vào nhau lên mặt bàn. Linh nhận thấy các ngón tay của anh ta run rẩy liên hồi, móng tay bị cắn nham nhở.
“Em là Linh?” Quốc Anh hỏi bằng tiếng Việt, giọng khàn đặc và nhỏ đến mức Linh phải rướn người lên mới nghe rõ.
“Vâng, em chào anh,” Linh trả lời, cố giữ giọng bình tĩnh. “Cảm ơn anh đã chịu gặp em.”
Quốc Anh không đáp lời chào của cô. Anh ta nhìn chằm chằm vào khuôn mặt Linh, ánh mắt dừng lại ở quầng thâm dưới mắt cô.
“Em ở căn phòng đó được bao lâu rồi?” anh ta hỏi.
“Hơn một tuần ạ.”
“Đã nghe thấy tiếng kéo ghế chưa?”
Linh khựng lại, rồi gật đầu nhẹ.
Quốc Anh cười lạnh một tiếng, âm thanh nghe như lá khô bị giẫm nát.
“Thế thì em sắp hết thời gian rồi. Mai năm đó cũng nghe thấy tiếng kéo ghế trước khi chết đúng một tuần. Ban đầu là tiếng kéo ghế, sau đó là tiếng móng tay cào vào gỗ dưới gầm giường, và cuối cùng là tiếng mẹ gọi.”
Anh ta đưa tay lên vuốt mặt, hơi thở trở nên gấp gáp.
“Bọn anh đã hại chết nó. Cả nhóm bọn anh đã hại chết nó.”
Linh cảm nhận được một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Cô hỏi nhỏ:
“Tại sao anh lại nói thế? Năm đó đã xảy ra chuyện gì?”
Quốc Anh nhìn ra ngoài cửa kính. Một đoàn tàu hỏa vừa hú còi chạy qua ga, âm thanh kim loại va chạm chát chúa làm rung chuyển cả cửa kính quán trà sữa. Dưới ánh đèn đường vừa bật sáng, gương mặt anh ta hiện lên vẻ đau đớn tột cùng.
“Năm đó, bọn anh có một nhóm năm người chơi thân với nhau. Đều là du học sinh vừa học vừa làm. Cuộc sống bên này cực khổ lắm, em biết mà. Bọn anh phải làm việc mười hai tiếng một ngày trong các công xưởng cơ khí ở Chương Hóa, đồng lương thì bị chủ thầu cắt xén. Mai là đứa yếu nhất trong nhóm. Nó không chịu nổi áp lực công việc, lại hay nhớ nhà.”
Anh ta dừng lại, nuốt nước bọt một cách khó khăn.
“Khoảng một tháng trước khi mất, Mai bắt đầu nói với bọn anh là cô ấy nghe thấy tiếng ai đó gọi tên mình bằng tiếng Việt vào nửa đêm. Cô ấy nói tiếng gọi phát ra từ phía cửa sổ phòng trọ. Nhưng bọn anh lúc đó mệt mỏi quá rồi. Ai cũng lo thân mình chưa xong. Bọn anh nghĩ nó bị hoang tưởng do làm việc quá sức. Thậm chí...”
Quốc Anh nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má hóp.
“Thằng Nam trong nhóm còn nói nó giả vờ để trốn việc, để bọn anh phải gánh thêm ca làm của nó. Bọn anh bắt đầu cô lập nó. Bọn anh không nghe điện thoại của nó, không đi ăn chung với nó nữa. Đêm trước ngày nó chết, nó gọi điện cho anh rất nhiều lần. Nó khóc, nói là tiếng gọi ngoài cửa sổ đã dịch chuyển vào trong phòng rồi. Nó cầu xin anh đến ngủ cùng hoặc cho nó sang phòng anh lánh tạm.”
“Và anh đã từ chối?” Linh nghẹn ngào hỏi.
“Anh đã tắt máy,” Quốc Anh nói, giọng run bần bật. “Anh nghĩ nó lại giở trò. Sáng hôm sau, khi bà Thái gọi điện báo tin, anh chạy đến thì thấy cảnh sát đang khiêng xác nó ra ngoài. Tay nó vẫn nắm chặt chiếc điện thoại. Cuộc gọi cuối cùng là gọi cho anh, lúc ba giờ sáng.”
Không gian trong quán trà sữa lạnh hẳn đi. Linh nhìn người đàn ông trước mặt, thấy ở anh ta một nỗi ân hận sâu hoắm đang gặm nhấm linh hồn từng ngày. Sự thờ ơ của những người đồng hương, sự lạnh lùng của cuộc sống mưu sinh đã đẩy Mai vào góc tối cô độc, tạo điều kiện cho luồng sát khí kia xâm nhập và dẫn dụ cô đến cái chết.
“Còn đêm tống sát thì sao?” Linh hỏi tiếp. “Tại sao anh lại chạy trốn?”
Quốc Anh mở mắt ra. Ánh mắt anh ta hiện rõ sự kinh hoàng, như thể đang nhìn thấy lại cảnh tượng đêm đó.
“Đêm đó, khi thầy Hứa làm lễ, anh đứng ở cửa phòng để gọi tên Mai theo hướng dẫn. Khi thầy Hứa nâng cuộn dây thừng lên, anh nhìn vào khoảng trống sau cánh cửa tủ quần áo của Mai. Anh thấy... anh thấy không phải chỉ có một sợi dây.”
Anh ta run rẩy chỉ tay vào cổ mình.
“Anh thấy có một bóng người đang đứng trong tủ. Bóng người đó không có mặt, chỉ có một cái thòng lọng quấn quanh cổ. Và từ trong tủ, một giọng nói vang lên. Không phải giọng của Mai. Đó là giọng của mẹ anh ở quê nhà. Giọng mẹ anh gọi rõ mồn một: *Quốc Anh ơi, về ăn cơm con.*”
Quốc Anh thở dốc, hai tay ôm lấy đầu.
“Anh sợ quá. Anh biết mẹ anh đang ở Việt Nam, làm sao có thể ở trong cái tủ đó được. Anh nhận ra thứ đó chẳng phải là Mai. Nó là thứ sát khí đã giết chết Mai. Và giờ nó đang dùng giọng mẹ anh để gọi anh. Anh hoảng loạn chạy trốn. Khi anh chạy ra ngoài đường, anh đã quay đầu lại nhìn. Anh thấy cái bóng đó đứng ở cửa sổ tầng hai, vẫy tay với anh.”
Anh ta ngước lên nhìn Linh, giọng nói trở nên khẩn thiết:
“Linh ơi, thứ đó đã ghi nhớ anh. Suốt bảy năm qua, anh không đêm nào ngủ ngon. Anh phải chuyển nhà liên tục, không dám ở lại Chương Hóa. Nhưng mỗi khi trời mưa bão, anh vẫn nghe thấy tiếng chổi tre quét đường sàn sạt bên ngoài phòng trọ của mình. Nó đang tìm anh để hoàn thành sợi dây thừng bị khuyết.”
Linh im lặng. Cô hiểu ra mọi chuyện. Sát khí không chỉ bám vào căn phòng, mà đã bám vào cả những người liên quan đến nghi lễ thất bại năm đó. Sợi dây thừng bị khuyết chính là sợi dây liên kết tâm linh giữa Mai, Quốc Anh và căn phòng trọ của bà Thái.
Đúng lúc đó, điện thoại của Linh đặt trên bàn đột ngột sáng màn hình.
Một thông báo tin nhắn mới từ một số lạ.
Không có nội dung tin nhắn, chỉ có một tệp âm thanh được gửi đến. Tên tệp âm thanh là: *0709_giadinh.wav*.
Cô nhìn Quốc Anh, rồi nhìn màn hình điện thoại. Ngón tay cô run run chạm vào tệp âm thanh.
Tiếng rè rè của sóng điện thoại bị nhiễu vang lên từ loa ngoài. Sau đó là tiếng gió rít mạnh, tiếng mưa đập vào cửa kính. Rồi một giọng nói tiếng Việt vang lên, rất rõ ràng, nhưng âm điệu bị kéo dài một cách bất thường, méo mó:
“Quốc Anh ơi... cứu tao...”
Đó là giọng của Mai.
Nhưng ngay sau đó, giọng nói chuyển tông đột ngột, trở thành giọng của một người phụ nữ trung niên miền Trung, trầm ấm và quen thuộc:
“Quốc Anh ơi... mẹ mua áo mới cho con rồi này...”
Quốc Anh nghe thấy giọng nói đó thì toàn thân cứng đờ. Anh ta trợn tròn mắt nhìn vào chiếc điện thoại của Linh. Đôi môi mấp máy nhưng không phát ra tiếng.
“Mẹ...” anh ta thì thầm.
Cùng lúc đó, ánh đèn tuýp trong quán trà sữa chớp tắt liên tục. Tiếng chuông gió treo ngoài cửa bắt đầu rung lên dữ dội dù cửa kính đang đóng chặt. Một mùi bùn đất ẩm ướt và mùi vải mục thoáng chốc lan khắp gian phòng.
Linh nhìn ra ngoài cửa kính.
Dưới ánh đèn đường vàng vọt của ga tàu Viên Lâm, trong màn mưa đục ngầu, cô thấy một bóng người mặc áo khoác đen đang đứng im lìm bên kia đường ray. Bóng người đó không có mặt, chỉ có một sợi dây thừng dài lòng thòng từ trên cổ rủ xuống đất, kéo lê trên mặt đường nhựa ướt sũng.
Tiếng còi tàu hỏa từ xa lại rú lên một hồi dài, chát chúa và u uất.