Tứ Thập Bát Địa - Chương 18: Đặt lệch nửa gang

Trăng non mảnh như sợi chỉ bạc treo lơ lửng trên ngọn tre đầu làng. Gió sông thổi từng cơn ngắn, lạnh buốt, cuốn theo mùi bùn non và mùi nước. Vĩnh bước…

Nội dung chương

Trăng non mảnh như sợi chỉ bạc treo lơ lửng trên ngọn tre đầu làng. Gió sông thổi từng cơn ngắn, lạnh buốt, cuốn theo mùi bùn non và mùi nước. Vĩnh bước qua cổng, tay xách xẻng, túi vải đựng la kinh đeo chéo vai. Trong túi áo, chiếc chuông đồng bà then để lại nằm im, thỉnh thoảng chạm vào lồng ngực qua lớp áo bông dày.

Anh đi xuống bến đò. Con đường đất dẫn ra sông mờ sương. Mấy ngọn đèn dầu trong làng đã tắt. Chỉ còn ánh trăng non đủ để thấy mặt đường ẩm ướt. Tới bến, anh gọi lão đò. Một lúc sau, có tiếng chân người lệt bệt trên ván thuyền.

Lão đò cầm đèn dầu bước ra. Lão nhìn Vĩnh, rồi nhìn lên trời. "Giờ Tý rồi. Ai lại đò giờ này?"

- "Cháu là Trần Vĩnh, cháu cụ Cố bên Đồng Cao. Chú Bá bảo chú ấy quen bác."

Lão đò nheo mắt. "À, thằng cháu cụ Cố. Chú Bá có dặn rồi, lên đi."

Vĩnh bước xuống thuyền. Lão đò chống sào, chiếc thuyền gỗ nhỏ từ từ tách bờ, len vào dòng nước đen. Tiếng nước vỗ vào mạn thuyền đều đều. Gió sông mạnh hơn giữa dòng, thổi táp vào mặt. Vĩnh ngồi ở mũi thuyền, tay giữ chặt túi la kinh.

Lão đò không hỏi gì thêm. Lão cứ thế chống sào, thở ra những làn khói trắng. Mặt sông loang loáng ánh trăng. Khoảng mười lăm phút sau, thuyền cập bến bên kia. Vĩnh trả tiền, lão đò đếm qua rồi nhét vào túi áo.

Lão hỏi: "Cháu về lúc nào?"

- "Khoảng một hai giờ nữa. Bác chờ được không ạ?"

- "Chú Bá trả công đêm rồi. Bác neo thuyền ở đây chờ."

Vĩnh gật đầu, trèo lên bờ. Con dốc nhỏ dẫn lên mặt đê ẩm ướt. Anh bước từng bước chắc chân, tay trái cầm xẻng chống xuống đất. Phía trước, những nóc nhà làng bên kia sông khuất sau lũy tre dày. Anh không vào làng. Anh rẽ xuống con đường đất dẫn ra phía sau vườn nhà bà cụ chín mươi tuổi.

Anh không bật đèn pin ngay. Chú Bá đã dặn, đi đêm ra huyệt thì mắt phải quen với bóng tối trước. Đèn sáng quá làm người sống dễ lộ, cũng làm những thứ bám quanh mộ biết có người tới. Vĩnh đứng dưới chân đê một lúc, để hơi lạnh thấm qua áo bông, để tai phân biệt tiếng gió với tiếng bước chân. Có tiếng chó sủa xa trong làng, tiếng nước vỗ vào mạn đò sau lưng, tiếng tre cọ nhau ở cuối vườn nhà bà Mùi. Không có tiếng người. Anh mở túi vải, sờ lại từng món: la kinh, kim đồng, bảy đồng tiền, tấm đá nén. Mọi thứ vẫn ở đúng chỗ. Chỉ khi chắc không có ai đi theo, anh mới cúi thấp người, men theo bờ rào dâm bụt vào khu vườn sau.

Trên mặt đất ẩm, dấu bốt cũ của kẻ đào vẫn còn vài vệt mờ. Vĩnh tránh không giẫm lên. Anh cần giữ lại chúng cho chú Bá xem nếu sáng mai khí vẫn lệch. Một dấu chân sai có thể làm cả phép đo lệch theo.

Khu vườn sau yên ắng. Bụi tre cuối vườn đen sẫm, ngọn tre cọ vào nhau kẽo kẹt. Ngôi mộ nằm khuất dưới gốc cây khế già. Ánh trăng le lói rọi lên mặt mộ đất sẫm màu. Vết đào mới của bọn người lạ đã được chú Bá lấp tạm, nhưng đất vẫn còn tơi, khác với lớp đất cứng xung quanh.

Vĩnh cắm xẻng xuống đất, tháo túi la kinh đặt lên cạnh mộ. Anh rút tấm đá nén Thanh Hóa trong túi vải ra. Tấm đá hình chữ nhật, dày chừng ba phân, nặng gần hai cân. Mặt đá sần sùi, lạnh ngắt. Chú Bá đã đưa nó cho anh chiều nay, nói đó là vật chuyên dùng để định lại hướng khí khi huyệt bị xô lệch.

Anh cúi xuống, bắt đầu đào. Lưỡi xẻng xắn vào lớp đất tơi. Mỗi nhát xẻng bổ xuống đều vang lên một tiếng phập khô. Đất dưới mộ ẩm, nhưng không nhão như hôm mưa. Vĩnh đào từng nhát đều tay, hơi thở biến thành khói trắng trước mặt. Mồ hôi bắt đầu túa ra trên trán, lưng áo bông ướt dần dù trời rét.

Đất dưới mộ không sâu. Chừng hơn nửa mét, lưỡi xẻng chạm vào một lớp cát đen. Đó là lớp than củi cụ Cố đã đặt cách đây bốn mươi ba năm để cách ẩm. Vĩnh dừng lại, lau mồ hôi trên trán bằng ống tay áo. Anh thở mạnh, hơi thở hổn hển trong không khí lạnh. Trăng non vẫn treo trên đầu, yên lặng soi xuống cái hố vuông vức vừa đào.

Anh cầm tấm đá nén lên. Đây là lúc quan trọng nhất. Tấm đá này phải được đặt sao cho mặt phẳng của nó vuông góc với hướng khí mới sẽ chảy về. Anh đặt tấm đá vào đáy hố, ngay vị trí dưới đầu mộ. Mặt đá hướng về phía Đông Nam, hướng gốc mà cụ Cố đã chọn năm 1984. Anh ấn mạnh, lèn đất cho chặt.

Rồi anh rút la kinh của dòng Trần ra khỏi túi. Anh đặt nó lên mặt đất cạnh miệng hố, mở nắp. Mặt đồng loáng dưới trăng. Kim la kinh bắt đầu di chuyển. Nó quay nửa vòng, rồi dừng lại.

Nhưng không chỉ Đông Nam.

Nó chỉ lệch về phía Nam chừng nửa gang tay, tính từ tâm la kinh.

Vĩnh nhíu mày. Anh nhấc tấm đá lên, dịch nhẹ sang bên phải một chút rồi đo lại. Kim vẫn chỉ lệch nửa gang tay so với hướng anh muốn, nhưng lần này nó nhích thêm một chút về phía Tây Nam. Anh lại dịch tấm đá. Lần này anh xoay mặt đá chếch đi vài độ. Kim la kinh chao đảo, rồi lại dừng ở vị trí cũ.

Anh ngồi xổm bên hố mộ, hai tay chống lên đầu gối. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống cổ, dù gió sông vẫn thổi. Anh biết la kinh không bao giờ sai. Những bậc thầy địa lý đời trước trong dòng Trần, mỗi lần đặt huyệt đều phải đo bằng la kinh này. Nó đã chỉ cho cụ Cố hướng chôn cha cụ Khang năm 1982. Nó đã chỉ cho cụ Cố hướng mộ cha anh ở bãi mộ đầu làng năm 1998. Nếu nó không chỉ Đông Nam, thì Đông Nam không còn đúng nữa.

Vĩnh hít một hơi dài. Bàn tay run lên vì rét và vì căng thẳng. Anh cầm lại tấm đá, tháo hẳn ra khỏi hố, rồi đặt xuống một vị trí mới, dịch về phía Tây hơn. Anh ấn mạnh, nén chặt. Tay anh chạm vào đất lạnh, lẫn vài hạt cát đen của lớp than củi. Anh mở la kinh lần thứ ba.

Kim quay hai vòng, rồi dừng lại. Lần này nó chỉ thẳng hướng Tây.

Kim không rung. Không dao động. Nó đứng yên như bị đóng đinh vào mặt đồng.

Vĩnh nhìn kim, rồi nhìn lên bầu trời đêm. Hướng Tây là hướng mặt trời lặn. Là hướng của sự kết thúc, của cõi âm, theo sách Tả Ao Bí Thư quyển hai. Hướng này chẳng phải hướng phát phúc. Nhưng nó là hướng duy nhất la kinh chấp nhận.

Anh nhớ lời chú Bá dặn trước khi đi: khi la kinh không nhận hướng cũ, đừng cố ép. Đất đã bị người khác động vào thì mạch khí cũng đổi tính. Cố đặt lại như cũ chỉ làm khí bật ngược, người sống hứng trước. Vĩnh nhìn vết đào tối om dưới chân mình. Nếu chọn hướng Tây, nhà bà Mùi có thể mất phần phát quan còn lại. Nhưng ông Huy sẽ qua cơn sốt, mộ cụ Đường sẽ thôi bị kéo ngược. Nghề này không cho anh một đáp án đẹp. Nó chỉ bắt anh chọn cái ít hại hơn.

Anh lau bùn trên cán xẻng, nhìn lại từng mép hố một lần nữa. Không được để lại dấu tay lạ, cũng không được làm bà cụ sáng mai nhận ra mộ vừa bị động thêm lần nữa.

Anh không còn lựa chọn nào khác. Anh lấp đất trở lại. Từng nhát xẻng đổ xuống, đất rơi lộp bộp. Anh nện chặt, cố gắng làm cho mặt mộ phẳng như cũ. Khi hố được lấp kín, anh lấy chân dậm nhẹ, rồi lấy xẻng gạt lại những cục đất nhỏ vương vãi quanh mộ.

Anh đứng thẳng lưng. Đồng hồ đeo tay chỉ mười hai giờ kém. Vẫn còn giờ Tý. Anh mở túi vải, lấy ra bó hương. Bốn mươi chín nén hương, cột bằng một sợi dây chuối khô. Anh rút từng nén cắm quanh mộ, cách đều nhau chừng một gang tay. Ngọn hương chưa đốt cắm nghiêng trên nền đất ẩm.

Anh lấy bật lửa trong túi quần. Ngọn lửa nhỏ bùng lên, soi rõ khuôn mặt ướt mồ hôi của anh. Anh châm từng nén hương, bắt đầu từ phía Đông, đi vòng theo chiều kim đồng hồ. Khói hương bốc lên, mùi trầm quen thuộc lan trong không khí lạnh. Bốn mươi chín đốm lửa nhỏ li ti rực sáng trong đêm, viền quanh ngôi mộ một vòng tròn lung linh.

Khói hương bay lên, nhưng không tạt về một hướng nào. Nó bốc thẳng lên trời, như thể không có gió. Vĩnh đứng bên ngoài vòng hương, nhìn những cột khói mảnh vươn cao, rồi tan vào bầu trời đen. Anh biết đó là dấu hiệu khí đã ổn định. Dòng khí không còn bị xô lệch. Nó đã chịu chảy theo hướng mới, hướng Tây.

Anh không biết hướng Tây sẽ mang lại điều gì cho con cháu bà cụ chín mươi tuổi. Có thể nó sẽ làm tắt dần đường quan lộ của người cháu trên huyện. Có thể nó sẽ khiến dòng họ này không còn phát phúc như trước. Nhưng ít nhất nó không còn dẫn khí ngược lên người sống. Ít nhất ông Huy nằm ở Hà Nội sẽ hồi phục.

Anh đứng đó cho tới khi nén hương đầu tiên tàn. Đốm lửa đỏ nhỏ dần, rồi vụt tắt, để lại một chấm cháy đen trên nền đất. Gió sông vẫn thổi, nhưng khói hương vẫn không tạt. Nó cứ bốc thẳng như một sợi chỉ trắng căng lên trời.

Khi nén hương cuối cùng cháy hết, anh cúi xuống nhặt la kinh lên. Anh lau mặt đồng bằng ống tay áo, rồi đóng nắp lại, cho vào túi vải. Anh cầm xẻng lên, bước ra khỏi vườn sau. Bụi tre vẫn đen sẫm, nhưng tiếng cọ vào nhau đã ngừng. Cây khế già đứng im, bóng đổ dài trên mặt đất.

Anh đi trở lại bến sông. Lão đò vẫn ngồi đợi, điếu thuốc lào đỏ lửa trong bóng tối. Lão không hỏi gì. Vĩnh bước xuống thuyền, ngồi ở mũi. Chiếc thuyền lại từ từ cắt nước trở về bờ bên kia.

Về tới bến làng Đồng Cao, trăng đã lặn nửa về phía tây. Vĩnh trả thêm ít tiền cho lão đò. Lão nhận, rồi chống thuyền đi khuất sau lùm cây. Anh đi bộ dọc con đường đất về nhà cụ Cố. Cả làng chìm trong bóng tối. Vài con chó sủa vu vơ ở đầu ngõ. Tiếng chó vang lên, rồi lịm đi.

Cổng nhà cụ Cố vẫn mở. Ánh đèn trong gian giữa đã tắt. Chú Bá đã đi ngủ. Vĩnh bước qua sân, tiếng chân dẫm lên gạch kêu lộc cộc. Anh dựa xẻng vào góc tường, bước vào nhà. Gian buồng anh nằm tối om. Anh cởi áo bông ra, mùi mồ hôi chua lẫn mùi đất và mùi khói hương xông lên nồng nặc. Anh không bật đèn. Anh chỉ kịp cởi giày, đặt la kinh lên bàn, rồi leo lên giường.

Đồng hồ trên tường điểm ba giờ. Anh nằm xuống, kéo chăn lên tới cằm. Cơ thể bắt đầu run lên. Lúc đầu là những cơn rét nhẹ, rồi dồn dập hơn. Hàm răng anh va vào nhau lập cập. Anh biết cơn sốt đang tới.

Nửa giờ sau, trán anh đã nóng ran. Mắt anh nhòe đi. Căn buồng tối om quay cuồng trong tầm nhìn. Anh cố giữ tỉnh táo, nhưng đầu óc cứ chao đảo như mặt sông lúc đò cập bến. Những hình ảnh chập chờn lướt qua: vòng khói hương bốc thẳng trên mộ, kim la kinh chỉ về hướng Tây, bàn tay bà then đặt chiếc chuông vào lòng bàn tay anh.

Anh thò tay vào túi áo bông vắt trên thành giường. Những ngón tay run rẩy chạm vào mặt đồng lạnh của chiếc chuông. Nó không kêu. Nó chỉ im lìm như đã im lìm suốt mấy tiếng qua. Nhưng anh vẫn nắm lấy nó, như thể nó là sợi dây cuối cùng nối anh với cõi thực.

Cơn sốt leo lên đỉnh. Anh không còn biết trời đất gì nữa. Anh chỉ biết mình đang chìm vào một giấc ngủ sâu, nơi không có huyệt mộ, không có khói hương, không có những luồng khí vô hình luồn lách dưới lòng đất.

Anh ngủ thiếp đi khi gà trong làng bắt đầu gáy sáng. Tiếng gáy vang lên đục, rồi lịm dần. Ngoài cửa sổ, trời hửng sáng một màu trắng đục. Một cơn gió lạnh lùa qua khe cửa, thổi bay vài hạt bụi trên mặt bàn. Nhưng không thổi tạt được những chiếc lá xoài khô nằm yên dưới nền gạch.

Trong gian buồng kế bên, chú Bá đã dậy. Chú nghe thấy tiếng thở hổn hển của Vĩnh, nhưng không bước sang. Chú ngồi bên điếu cày, châm lửa, nhìn làn khói thuốc bốc lên. Chú biết cháu mình đang trả cái giá đầu tiên. Chưa đến mức bằng mạng như cụ Cố năm bảy tám, cũng chưa đến mức bằng mạng như thằng Phong năm chín tám. Chỉ là ba ngày sốt. Nhưng chú biết đó mới là bắt đầu.

Ngày hôm sau, Vĩnh không dậy được.

Chương khác

Xem thêm