Âm Hôn - Chương 5: Nai-nai kể
Bà ngồi xe lăn ở góc chợ Bình Tây, đếm gà trống đen bằng tiếng Quảng Đông. Mái tôn khu A2 hắt nắng mỏng xuống vai áo bà ba xám. Mấy sợi tóc bạc bay trong…
Nội dung chương
Bà ngồi xe lăn ở góc chợ Bình Tây, đếm gà trống đen bằng tiếng Quảng Đông. Mái tôn khu A2 hắt nắng mỏng xuống vai áo bà ba xám. Mấy sợi tóc bạc bay trong hơi nóng từ lò than nướng thịt heo cách đó mười mét. Bà giơ ngón trỏ, lắc nhẹ từ trái sang phải: “m4 hai5”, con đó không được.
Mỹ Linh đứng sau xe lăn, tay nắm hai càng đẩy. Cô nhìn bà lựa gà như nhìn một người làm nghề cũ. Sáu giờ mười lăm sáng, cô đẩy bà từ nhà số 17 đường Triệu Quang Phục đi bộ hơn một cây số tới chợ. Họ qua ngã tư Lương Nhữ Học, nơi mùi nước tương kho từ quán hủ tiếu sáng bốc lên lẫn với mùi bánh bao hấp. Qua ngã ba Tản Đà, tiếng rao Quảng Đông từ quầy gà vịt bắt đầu át tiếng mặc cả tiếng Việt. Mùi sầu riêng mở từ quầy trái cây trộn với mùi cá khô từ mấy sạp đồ biển. Chợ Bình Tây buổi sáng đông người Hoa lẫn người Việt chen nhau trong các dãy quầy sắt xây từ thời Pháp. Bà dừng ở quầy gà nhà chú Bảy ngót mười phút.
Trước mặt bà, ba con gà trống đen đứng trong lồng tre. Mào chúng đỏ tươi, lông đen tuyền bóng dưới đèn neon treo trên thanh sắt. Chú Bảy, ngoài sáu mươi, mặc áo thun ba lỗ, tay đeo bao tay ni lông, kiên nhẫn chờ. Người chú đẫm mồ hôi, vệt muối trắng khô trên cổ áo. Mỗi lần bà chỉ ra một con, chú lại cúi người, chờ.
“Con này hai chân không đều.” Bà chỉ vào con thứ nhất, giọng tiếng Việt. Ngón tay bà run run chỉ xuống cẳng gà. “Chân trái thấp hơn. Lễ không được. Đổi con khác.” Chú Bảy chụp con thứ hai, túm cánh quặt ra sau. Con gà giãy nhẹ, mắt đen láy nhìn quanh. Bà chống tay lên thành xe lăn, cúi người tới trước. Bà xem kỹ chân, mào, mặt trong đùi tìm vết trắng. Ngón tay gầy chạm nhanh vào mào, mào thẳng, không bẻ. Bà ấn nhẹ vào ức gà, kiểm tra xương.
“Con này được. Một ký rưỡi?”
Chú Bảy xách cân lò xo, móc mỏ gà vào móc sắt. “Một ký năm. Một ký rưỡi đó cô Hoa. Cháu nhà cô phải không?”
“Cháu nội.” Bà không nhìn lại. “Mei-lihng a, trả tiền.”
Mỹ Linh rút bóp, hỏi giá, đưa tờ năm trăm mới. Chú Bảy cột chân gà bằng dây chuối, bỏ vào túi ni lông đen đưa cô. Túi ni lông căng tròn, con gà im thít bên trong, mắt vẫn chớp qua lớp nhựa. Mỹ Linh xách túi, móng tay cô bấu nhẹ vào quai túi. Cô có cảm giác như đang phụ bếp trong nhà hàng Quảng Đông cổ, của một người bà con xa mà cô chưa từng gặp.
Danh sách đồ lễ bà đọc không cần giấy. Hết quầy gà, bà dẫn cô qua dãy đồ khô mua bảy quả trứng vịt của chị bán trứng người Tiều. Trứng vỏ xanh nhạt, được chị bán hàng chọn từng quả, soi dưới bóng đèn dầu. Giọng bà chuyển sang tiếng Việt pha âm Quảng khi mặc cả. “Năm chục một quả, hồi trước ba chục. Lên giá dữ vậy.” Chị bán trứng cười, nói tiếng Việt lơ lớ: “Gà đẻ ít, cô ơi. Trứng mới, lòng đỏ to.” Bà gật, rồi bảo Mỹ Linh gói vào giấy báo.
Sang quầy đồ đất nung góc chợ, bà chỉ cái niêu đất đường kính ba mươi phân. Người bán là một ông già người Chợ Lớn, tay đầy vết chai. Bà cầm niêu lên, gõ nhẹ vào thành niêu, nghe tiếng kêu. “Niêu này nung già, không nứt. Đủ chôn gà.” Niêu có màu đất đỏ sẫm, trơn, không tráng men. Bà bảo Mỹ Linh gói trong bao ba mang về. Bao ba cũ, xơ ra từng sợi, Mỹ Linh phải ôm vào lòng khi bước.
Lá trầu già ba nắm mua của bà cụ ngồi bệt dưới đất. Bà cụ tóc bạc phơ búi cao, móm mém không răng, cười khi thấy bà Hoa. Bà cụ bán trầu ngước lên, đôi mắt đục màu mật ong, hỏi bằng tiếng Quảng: “léihng méih?” Bà Hoa gật nhẹ, đáp: “haih a, faai gwo sāang” - phải rồi, sắp qua đời. Bà cụ bán trầu im một lát rồi vỗ nhẹ vào mu bàn tay bà Hoa, không nói gì thêm. Mỹ Linh đứng bên cạnh, chỉ hiểu chữ “sāang” là sống, “gwo sāang” là qua đời. Bà nội nói về cái chết của mình như nói chuyện đi chợ. Tay bà vẫn nhặt từng lá trầu, kiểm tra mặt sau có đốm nâu không, rồi đưa cho cô cầm.
Tiệm vàng mã Sáu Lý trên đường Tự Trọng là điểm cuối. Mỹ Linh đẩy bà vào, chuông gió trên cửa kêu lách cách. Mùi giấy bồi và mực in ập ra dày như bức tường. Xấp giấy bo dùi đỏ thẫm xếp cao tới trần. Những bộ đồ mã treo trên dây kẽm rủ xuống như quần áo phơi. Ông chủ tiệm gầy, đeo kính trắng, đang ngồi sau quầy tính sổ. Bà gọi tên từng món bằng tiếng Quảng, giọng rõ ràng như lần đầu sau nhiều năm mới đặt lại. Một kiệu giấy cao sáu mươi phân. Hai người hầu giấy nam nữ, mặt vẽ mực đen, áo giấy vàng. Một căn nhà giấy ba gian mái ngói đỏ, cửa sổ có dán giấy bóng kính xanh. Tất cả đều bằng giấy bo dùi đỏ, loại cao cấp nhất, không pha giấy bồi thường. Ông chủ ghi vào sổ, mắt liếc Mỹ Linh một cái rồi thôi. Bà trả tiền mặt, rút từ phong bao đỏ cũ kỹ trong ba lô đan tre. Phong bao in chữ “Phúc” đã phai, mép giấy ố vàng từ năm 1972. Những tờ năm trăm mới tinh nằm cạnh tờ hai trăm cũ rích, trên mặt giấy in hình máy cày cũ. Mỹ Linh nhìn bàn tay bà run nhẹ khi đếm, thấy thời gian trong cái ba lô ấy đè lên nhau. Cô cất đồ mã vào túi lớn, cẩn thận như cất đồ dễ vỡ.
Mười giờ sáng, hai bà cháu về đến nhà. Nắng đứng bóng trên mái tôn, hơi nóng phả xuống gáy. Mỹ Linh lấy ghế gỗ thấp cho bà ngồi ngoài hiên. Gió từ hẻm Tản Đà thổi sang, mang theo mùi cống khô và mùi xà phòng từ tiệm giặt ủi cuối hẻm. Cô kê ghế cho bà ngay chỗ có bóng cây khế già, rồi vác mấy túi đồ vào bếp tầng trệt. Gà trống đen cô để trong thùng giấy đục lỗ, đặt cạnh chậu rửa. Con gà đứng yên, thỉnh thoảng gõ mỏ vào thành thùng. Trứng vịt xếp vào ngăn dưới tủ lạnh cũ kêu ro ro. Niêu đất đặt dưới chân cầu thang, nơi có vết nứt trên nền gạch bông. Lá trầu rửa sạch, cô để ráo trên rổ tre, từng lá xanh sẫm xếp chồng lên nhau. Cô pha ấm trà ô long bằng ấm đất nung quai mây, rót hai chén nhỏ, bưng ra hiên. Chén trà nóng, hơi bốc lên trong nắng trưa.
Bà cầm chén trà bằng hai tay, uống một ngụm nhỏ, đặt xuống đùi. Mười phút không nói gì. Mỹ Linh ngồi trên bậc thềm, tựa lưng vào tường gạch, cũng im lặng. Cô đã quen với những khoảng lặng của bà, bà tiết kiệm lời như tiết kiệm tiền. Tiếng xe máy ngoài đường vọng vào, tiếng ai đó rao bánh mì ở đầu hẻm. Bà không nhúc nhích, mắt dán vào khoảng trống trước mặt.
“Khang sinh ngày năm tháng Một năm 1951,” bà bắt đầu, mắt vẫn nhìn ra đường, giọng đều như đọc sách. “Cuối tháng Một dương, đầu tháng Mười Hai âm Canh Dần. Bà ba tuổi khi nó sinh. Bà nhớ rõ vì bà giận - bà đang là con út, có thêm em thì hết được cưng.” Mỹ Linh quay đầu nhìn bà. Lần đầu tiên trong đời cô nghe bà kể về Khang như một người thật, chứ không chỉ là cái tên trên bài vị. Cô ngồi im, không lấy điện thoại ghi chép, không hỏi chen ngang. Tay cô đặt trên đầu gối, ngón cái ấn nhẹ vào vải quần.
“Nó học trường Tinh Võ ở An Bình, đường Hải Thượng Lãn Ông, trường người Hoa dạy chữ Hán và tiếng Pháp. Học giỏi, không xuất sắc. Vẽ tay đẹp - bà còn giữ một bức nó vẽ năm lớp năm ở đáy tủ cẩm xà cừ. Con dơi đỏ trên giấy vàng, hồi Tết năm 1962.
Nó vẽ dơi vì chữ ‘bức’ trong ‘biên bức’ đồng âm với chữ ‘phúc’. Nó thích chơi chữ. ” Bà uống thêm ngụm trà, giọng nhịp chậm, tiếng Việt giọng Hoa pha Quảng. Âm cuối hay rơi xuống thấp rồi ngưng đột ngột. Bà không nhìn Mỹ Linh, mắt dán ra đường, nhưng thực ra đang nhìn về năm 1962.
“Lớp mười một năm 1967, ba nó mất việc. Ba nó là Trần Hữu Phúc, ông cố của con, làm thư ký cho hãng De Lattre của Pháp trên đường Đồng Khởi. Hãng đóng cửa tháng Mười năm đó, ông không có việc suốt năm tháng. Khang tự xin nghỉ học.
Nó nói với ba nó: ‘Con đi làm phụ tiệm cà phê, lương gửi cho Quyên đi nhà trẻ. ’ Lúc đó Quyên mới hai tuổi rưỡi. ” Bà chỉ tay về phía gác hai, nơi mẹ Quyên vẫn ngủ trưa. “Mẹ con lúc đó còn nhỏ xíu, hay khóc đêm, phải bế ra hẻm xem xe lam mới ngủ.
Khang cưng Quyên nhất nhà. ” Bà đặt chén trà xuống nền gạch bông, hai tay đan vào nhau trên đùi. Những đốt ngón tay gầy nổi lên thành từng cục nhỏ dưới da mỏng. Gió lại thổi, làm bay vài sợi tóc bạc của bà.
“Tiệm cà phê vợt Cheo Leo trên đường Nguyễn Thiện Thuật. Cách nhà sáu trăm mét. Chủ là ông Tám, người Tiều. Ngày đầu Khang tới xin việc, ông Tám nói: ‘Mày nhỏ quá, không khuân nổi bao cà phê. ’ Nó trả lời: ‘Con khuân cho ông một bao.
Ông thấy con khuân được thì nhận con. ’ Nó khuân bao cà phê bốn chục ký từ kho ra quầy. Xong đứng thở mười phút, mặt đỏ bừng. Ông Tám nhận nó, trả lương bốn trăm đồng một tháng. Đủ đóng tiền nhà trẻ cho Quyên, còn dư mua sữa bột.
” Mỹ Linh nghe, hình dung một thiếu niên mười sáu tuổi gầy, vai chưa rộng, mồ hôi ướt áo sơ mi cũ. Cô chưa từng thấy ảnh Khang, bà không treo ảnh người chết trong nhà, chỉ có bài vị. Nhưng cô tưởng tượng ra gương mặt giống bà nội thời trẻ, giống mẹ Quyên lúc nhỏ.
Một gương mặt có cằm nhọn, mắt sâu, lông mày rậm.
“Nó yêu con gái tiệm thuốc Bắc đối diện,” bà nói tiếp. Giọng không đổi, nhưng ngón cái bên trái siết nhẹ lên mu bàn tay phải. “Lý Thúy Vân. Con bé mười bảy tuổi, học trường nữ sinh Gia Long. Hai đứa yêu thầm, chưa hôn nhau lần nào.
Thời đó con trai con gái giữ kẽ lắm. ” Bà dừng, mắt chớp chậm. “Khang nói với bà: ‘Tốt nghiệp sẽ cưới Vân. ’ Nói một lần thôi, tháng Mười Hai năm 1967. Lúc nó đang phụ bà gói bánh ú tro, tay nó dính nhân đậu xanh. Nó cười, nói tiếp: ‘Em sẽ cưới Vân.
’ Bà không cười lại. Bà bảo: ‘Mày lo làm đi, đừng mơ. ’ Bà không biết đó là lần duy nhất nó nói với bà chuyện đó. ” Giọng bà vẫn đều, không run. Nhưng khoảng im lặng sau câu cuối dài hơn bình thường ba nhịp thở. Bà đưa chén trà lên môi, uống một ngụm, rồi đặt xuống.
Tay bà không run, nhưng chậm hơn trước. Mỹ Linh hỏi nhỏ: “Vân giờ ở đâu hả bà? ” “Bà nghe nói chết năm 2019 ở Đài Bắc. Gia đình ép cưới sang Đài Loan năm 1970, lấy một người buôn vải, không có con. Sống tới bảy mươi tuổi rồi mất.
” Bà ngừng, hít một hơi dài. Hơi thở có tiếng rít nhẹ trong lồng ngực. “Vân cũng không tìm bà. Sau khi Khang chết, hai người không nói chuyện về nó nữa. Chắc con bé sợ quá. ” “Sợ gì hả bà? ” Bà không trả lời. Mắt bà nhìn ra đường, nơi có một chiếc xe lam chạy qua, khói xăng trắng vấn vít sau đuôi xe.
Mỹ Linh thấy những ngón tay bà buông lỏng trên đầu gối, rồi siết lại. Mặt trời đã trưa đứng bóng, đổ bóng cây khế xuống ngay chỗ bà ngồi. Bà không nói thêm câu nào nữa. Chỉ có tiếng ve từ cây khế vang lên, đều và khô. Mỹ Linh ngồi yên trên bậc thềm, tay cô lạnh dù trời đang nắng, và cô hiểu rằng câu chuyện vừa rồi còn dài hơn những gì bà đã kể.