Âm Hôn - Chương 6: Ngày 1 chuẩn bị
Thầy Hoàng đặt bốn trang giấy đỏ lên bàn gỗ phòng khách. Mực Tàu mới mài còn ướt, ánh đen bóng dưới ngọn đèn trần tầng trệt. Mùi mực hòa mùi gỗ tủ thuốc…
Nội dung chương
Thầy Hoàng đặt bốn trang giấy đỏ lên bàn gỗ phòng khách. Mực Tàu mới mài còn ướt, ánh đen bóng dưới ngọn đèn trần tầng trệt. Mùi mực hòa mùi gỗ tủ thuốc cũ, mùi nhang tàn từ bàn thờ Quan Công sau rèm the đỏ ngả nâu. Bảy giờ sáng thứ Bảy mười tám tháng Tư, nắng lọt qua ô cửa sắt cuốn, cắt dải sáng ngang trên nền gạch bông lục giác cũ.
Thầy mặc áo dài đen vải thô, kính lão gọng đồng dày. Thầy bước vào lúc sáu giờ mười, tay xách túi vải đen đựng bút lông, nghiên mực Tàu và cuốn sổ bìa nâu chép tay của cha thầy để lại từ năm 1972. Trang mở ghi "Bát tự Trần thị - 1972-1998" bằng bút sắt mực xanh đen đã phai. Thầy ngồi xuống ghế gỗ cạnh bàn, gỡ kính lau bằng vạt áo, rồi đeo lại thật chậm.
Bà nội ngồi ghế thấp cạnh thầy, áo bà ba đen, khăn nhung tím. Hai tay bà đặt trên đầu gối, những đốt ngón tay nổi trắng dưới lớp da mỏng. Bà không nói, chỉ gật chào và chỉ tay về phía Mỹ Linh ngồi đối diện bên kia bàn.
Mỹ Linh mặc áo thun trắng, quần jean, tóc cột đuôi ngựa thấp. Cô ngồi thẳng, hai tay đặt mép bàn. Cô dậy từ năm giờ rưỡi, tắm nước lạnh, không uống cà phê theo lời bà dặn. Da mặt cô còn hơi tái vì thiếu ngủ, mắt hơi khô nhưng cô không dụi.
"Cháu sinh năm Canh Thìn, tháng ba âm lịch, ngày bảy, giờ Ngọ." Thầy Hoàng vừa nói vừa viết chữ Hán lên trang giấy đỏ thứ nhất. Bút lông cũ đầu tưa nhẹ, tay thầy vững dù ngón trỏ và ngón cái đã chai vì sáu mươi năm cầm bút. Nét chữ dọc từ phải sang trái: 庚辰年, 己卯月, 初七日, 午時. "Ngày bảy tháng hai âm lịch. Dương lịch là mười hai tháng Ba năm hai nghìn."
Mỹ Linh gật. Cô không biết ngày sinh âm lịch của mình cho đến sáng nay khi bà đọc cho thầy qua điện thoại lúc sáu giờ. Mẹ Quyên không nhớ, ba Tài không để ý. Bà nội là người duy nhất còn giữ lịch âm trong đầu, như bà vẫn nhớ ngày giỗ của từng người trong họ Trần suốt mười năm ở Chợ Lớn.
"Giờ sinh chính xác?"
"Mười một giờ mười hai phút trưa. Mẹ cháu nói thế."
Thầy gật, viết thêm "11:42" dưới chân trang. Rồi thầy mở sổ bìa nâu, lật đến trang đánh dấu chỉ đỏ: "Trần Hữu Khang - sinh 5/1/1951 dương lịch - 28/11 Canh Dần - giờ Dần 3:15 sáng."
Thầy lấy bàn tính gỗ cũ từ túi vải, đặt cạnh giấy. Tay trái gảy hạt, tay phải ghi chép. Hạt gỗ kêu lách cách đều đặn. Mỹ Linh nhận ra đó là bàn tính tiệm thuốc Vạn An Đường - cô từng thấy nó trong ngăn kéo tủ gỗ đào, bà vẫn dùng tính tiền thuốc đến năm 2008. Mặt bàn tính bóng dầu, những hạt gỗ màu nâu sẫm đã mòn cạnh vì ngón tay cha thầy và thầy gảy suốt hơn nửa thế kỷ.
Mười tám phút im lặng trôi qua. Phòng khách chỉ có tiếng đồng hồ treo tường, tiếng xe máy ngoài hẻm Triệu Quang Phục, tiếng rao bánh mì đầu đường. Một con thằn lằn kêu tắc tắc trên tường gần trần. Bà nội không nhúc nhích, tay vẫn đặt trên đầu gối. Mỹ Linh thấy ngón cái bà ấn nhẹ vào mu bàn tay trái theo từng nhịp hạt gỗ.
Thầy Hoàng dừng tay, ngước lên nhìn Mỹ Linh. "Mệnh cháu là Thổ - Canh Thìn là Thổ. Mệnh Khang là Mộc - Canh Dần là Mộc." Thầy ngừng, gảy thêm một hạt. "Mộc khắc Thổ. Nhưng khắc nhẹ thôi. Có thể qua được lễ."
Bà nội thở ra một hơi dài. Lần đầu tiên từ sáng bà thở thành tiếng. Mỹ Linh không quay sang nhìn bà, nhưng cô nghe rõ tiếng thở ấy kéo qua kẽ răng rồi tắt sau vành khăn nhung tím.
"Có cần làm gì để chống xung không thầy?" Giọng bà là tiếng Việt giọng Hoa, âm cuối rơi xuống thấp như mọi khi bà nói chuyện người trong hội quán.
"Bùa hộ thân đơn. Bà có sẵn không?"
"Tủ cẩm. Ngăn thứ ba."
Bà đứng dậy, tay vịn thành ghế, bước lên cầu thang gỗ. Tiếng dép vải bện nhẹ trên từng bậc. Ba mươi hai bậc thang cũ kêu khe khẽ dưới sức nặng bảy mươi hai tuổi. Mỹ Linh ngồi yên với thầy Hoàng, nghe tiếng mở tủ cẩm xà cừ trên gác hai vọng xuống qua sàn gỗ. Cánh tủ mở ra có tiếng cọt kẹt của bản lề đồng đã lâu không tra dầu, rồi tiếng ngăn kéo nhỏ kéo ra, tiếng lục tìm trong lớp lụa và giấy cũ.
Năm phút sau bà xuống, cầm mảnh vải gấm vàng nhỏ bằng bàn tay trẻ con. Mép vải viền chỉ đỏ đã sờn, trên mặt thêu chữ "福" và "安", góc dưới thêu con dơi nhỏ màu nâu. Chỉ thêu không còn óng, nhưng từng mũi kim vẫn thẳng và đều. Bà đặt mảnh vải lên bàn cạnh bàn tính.
"Bà cố thêu năm 1955. Để hờ cho cháu dâu tương lai. Không ngờ thành bùa cho âm hôn."
Mỹ Linh nhìn mảnh vải. Năm 1955, bà cố của cô ngồi dưới ánh đèn dầu ở khu phố này, thêu từng chữ phúc, chữ an và con dơi biểu tượng ngũ phúc. Bà thêu để dành cho một đứa cháu dâu chưa biết mặt. Bà cố mất năm 1974, không kịp thấy cháu nội trai nào cưới vợ. Mảnh vải nằm trong tủ cẩm qua hai cuộc chiến, qua ba đời, qua ngày Khang chết. Giờ nó nằm trên bàn gỗ phòng khách tiệm thuốc cũ, sắp thành một lá bùa hộ thân.
Thầy Hoàng cầm mảnh vải xem dưới đèn. Thầy gật, đặt lên trang giấy đỏ thứ tư, vẽ một đạo phù bằng mực Tàu lên mặt vải: nét cong, nét thẳng, nét đứt, nét liền, một vòng tròn nhỏ ở giữa. Thầy vẽ bốn phút, tay không run dù nét mực rất mảnh. Mỗi nét là một lần bút đi qua bề mặt vải đã ngả màu, mực thấm vào sợi gấm như thấm vào da.
Xong, thầy đưa mảnh vải cho Mỹ Linh. "Đeo trong áo lót khi mặc áo cưới. Ngày hai mươi lăm tháng Tư. Không tháo ra cho đến lúc tháo khăn nửa đêm."
Mỹ Linh cất vào túi áo thun bên trái, sát ngực. Mảnh vải nhẹ nhưng cô thấy nặng - nó đã nằm trong tủ cẩm bảy mươi mốt năm, chờ một người mặc áo cưới.
Thầy Hoàng gấp bốn trang giấy đỏ lại thành một vuông nhỏ, đặt vào túi vải đen, đứng dậy. "Sáng nay xong phần bát tự. Chiều nay tôi quay lại dạy cháu cúi đầu." Thầy và bà cúi chào nhau. Nắng lên cao, hắt qua ô cửa cuốn thành mảng sáng vàng cam trên nền gạch bông. Những viên gạch lục giác cũ nứt nhẹ ở vài góc, bụi mịn đọng trong kẽ nứt.
Mười giờ, bà đưa Mỹ Linh mười một trang giấy đánh máy chữ Olivetti. Giấy trắng ngà đã hơi ố vàng ở mép, chữ đen nhòe vài chỗ vì ru-băng cũ. Trang đầu ghi: "Lễ cưới Trần thị Mei-lihng - Trần thị Yáuh Hōng. Ngày 3 tháng 9 âm Bính Ngọ (25/4/2026 dương lịch)." Bà soạn bản tiếng Việt cho cô, vì Mỹ Linh không đọc được chữ Hán phồn. Cô nhìn những chữ đều tăm tắp hàng thẳng lối, hình dung bà đã ngồi hàng giờ trước máy chữ Olivetti cũ kỹ đặt ở góc phòng tầng hai. Máy chữ ấy mua năm 1968, dùng để đánh nhãn thuốc và thư từ cho hội quán. Ru-băng mực đã thay ít nhất ba lần, bàn phím vài chữ cái mòn mất lớp mạ bạc, lò xo kêu cót két mỗi lần gõ. Bà gõ chậm từng chữ một, dùng hai ngón trỏ, thỉnh thoảng dừng để kéo cần xuống dòng.
Cô đọc bốn mươi phút tại bàn gỗ tầng trệt. Tờ một: lịch trình bảy ngày chuẩn bị, ghi chi tiết từng ngày. Ngày 1 xem bát tự và tập cúi đầu. Ngày 2 may áo cưới. Ngày 3 chuẩn bị kiệu. Ngày 4 làm lễ cắt tiết gà tại sân sau. Ngày 5 rước bài vị Khang từ nghĩa trang về. Ngày 6 chay tịnh. Ngày 7 cưới chính. Mỗi dòng có ô vuông nhỏ để đánh dấu khi hoàn thành. Tờ hai ghi ngày cưới chính: năm giờ sáng cắt tiết gà, sáu giờ mặc áo, bảy giờ ra kiệu, chín giờ bái lễ tại hội quán, mười hai giờ về nhà. Tờ ba và bốn ghi đường đi của kiệu. Từ nhà ra Triệu Quang Phục, vòng lên Hải Thượng Lãn Ông, qua Trần Hưng Đạo B, rẽ vào Tản Đà, rồi quay lại Triệu Quang Phục đến hội quán Tuệ Thành. Mỹ Linh đọc đến Tản Đà, mắt dừng một giây. Cô nhớ bà kể Khang chết ở hẻm Tản Đà. Nhưng bà không ghi đó là nơi Khang chết, bà chỉ ghi tên hẻm như một phần lộ trình, không chú thích gì thêm.
Tờ năm và sáu: thứ tự bái lễ - bái thiên địa, bái cao đường, giao bái. Bà ghi chú mực đỏ ở lề: "Giao bái: cô dâu cúi trước bài vị. Không có rượu giao bôi." Tờ bảy: tháo khăn nửa đêm - "tự tháo trong bóng tối, không gương, không đèn." Tờ tám, chín, mười liệt kê lễ vật cần chuẩn bị: gà trống tơ lông đỏ, xôi gấc, trầu cau, rượu trắng, bánh phu thê, nhang trầm, tiền mã, giấy vàng bạc. Mỗi món có số lượng và nơi mua ghi bên cạnh bằng bút mực xanh khác nét chữ đánh máy.
Tờ thứ mười một: dòng bà viết tay bằng bút mực xanh, nét chữ run hơn các trang đánh máy: "Cháu không cần khóc. Bà không khóc. Khang không cần cháu khóc. Khang cần cháu đi qua."
Mỹ Linh đọc xong, đặt tập giấy xuống. Cô không hỏi gì. Cô im lặng, ngón trỏ chạm vào dòng chữ "Khang cần cháu đi qua". Nét mực ấn mạnh dù run - đầu ngón tay cô cảm nhận được vết lằn nhẹ trên mặt giấy, nơi ngòi bút bà đã dừng lâu hơn khi viết chữ "đi qua". Cô không biết bà viết dòng này lúc nào, nhưng cô đoán là đêm, khi cả căn nhà chỉ còn tiếng đồng hồ và tiếng chuột chạy trên trần gác.
Hai giờ chiều thầy Hoàng quay lại, chỉ mang cây gậy tre nhỏ dài chừng sáu tấc, vót nhẵn một đầu. Thầy không thay đồ, vẫn áo dài đen buổi sáng nhưng đã tháo kính lão. Bà nội đem gương đồng từ phòng tầng hai xuống, dựng lên bàn, mặt gương quay về phía Mỹ Linh. Gương đồng cũ, mặt xỉn màu, không còn soi rõ mặt người, chỉ thấy lớp bóng mờ vàng sậm như mặt nước ao lặng. Vành đồng thau chạm rồng và mây đã mòn vì lau chùi qua ba thế hệ. Chân đế gương làm bằng gỗ mun, có ngăn kéo nhỏ đựng bột chà gương và khăn lụa cũ.
"Cháu đứng đây." Thầy chỉ vị trí cách gương một mét rưỡi, ngay chính giữa vệt sáng từ ô cửa cuốn. "Hai tay áp ngực. Ngón cái song song xương ức. Cúi ba mươi độ. Cúi từ thắt lưng, giữ hai giây, ngẩng lên. Mắt nhìn xuống - nhìn vào chân gương khi cúi, nhìn vào mắt mình trong gương khi ngẩng."
Bà nội đứng cạnh gương làm mẫu. Bà đứng thẳng, hai tay áp ngực, những ngón tay gầy xếp lên xương ức. Bà cúi xuống đúng ba mươi độ, lưng thẳng, đầu không gập. Giữ hai giây - Mỹ Linh đếm trong đầu: một, hai. Bà ngẩng lên, mắt nhìn thẳng vào gương. Động tác không run, không vội. Vành khăn nhung tím hơi xô nhẹ khi bà cúi, nhưng bà không chỉnh lại. Cô biết bà chưa từng làm động tác này trong đời - bà chưa từng cưới. Nhưng động tác của bà thuộc về bài tập bà đã luyện riêng, có thể bà đã tập một mình trước gương vào những đêm mất ngủ.
"Đó. Cháu làm theo." Thầy Hoàng giơ que chỉ về phía Mỹ Linh.
Mỹ Linh đứng vào vị trí. Cô đặt hai tay lên ngực, chỉnh ngón cái cho song song xương ức như lời thầy. Nhịp tim cô đập dưới lòng bàn tay. Cô cúi xuống, gồng lưng giữ ba mươi độ, mắt nhìn chân gương. Hai giây đầu trôi qua rất chậm. Cô thấy bóng mình trong lớp đồng mờ - một dáng trắng mờ trên nền tối vàng. Rồi cô ngẩng lên, mắt chạm mắt mình trong gương. Gương đồng cũ không phản chiếu đủ rõ để cô thấy biểu cảm của chính mình. Chỉ thấy hai hốc tối nơi mắt và vệt sáng nơi trán.
"Lưng phải thẳng hơn. Cháu cúi lại." Thầy gõ nhẹ que tre vào mép bàn.
Cô cúi lại. Lần này thầy đưa que tre chạm nhẹ vào lưng cô, ngay điểm giữa hai bả vai. "Đây. Giữ xương sống này. Đừng gồng vai." Cô chỉnh lại, giữ hai giây, ngẩng lên. Lần thứ ba, cô không còn đếm trong đầu nữa, để cơ thể tự nhớ nhịp. Mồ hôi tươm nhẹ ở thái dương dù phòng không nóng.
"Được. Làm thêm năm lần cho quen." Thầy thu que về, ngồi lại ghế gỗ cạnh bà nội.
Mỹ Linh cúi thêm năm lần trước gương đồng cũ. Mỗi lần cúi, cô nghe tiếng thở của bà nội sau lưng, đều đều như máy. Mỗi lần ngẩng lên, cô lại thấy bóng mình trong lớp vàng sậm. Lần thứ năm, cô giữ tư thế cúi hơi lâu hơn một chút, tự ý thêm nửa nhịp, rồi ngẩng lên. Thầy không nói gì. Bà cũng không. Chỉ có tiếng xe ba gác máy chạy qua đầu hẻm Triệu Quang Phục, tiếng ai đó quét sân bên nhà hàng xóm, và tiếng con thằn lằn lại tắc tắc trên tường.
Thầy Hoàng đứng dậy lúc ba giờ kém mười lăm. "Tốt. Mai học tư thế ngồi kiệu." Thầy nhận gói trà từ tay bà, cúi chào, rồi bước ra cửa. Nắng chiều qua ô cửa cuốn đã ngả vàng sậm, dải sáng rơi lên đúng chỗ Mỹ Linh vừa đứng. Bà nội đứng dậy, bưng gương đồng trở lên gác. Tiếng dép vải bện lại vang trên bậc thang gỗ, chậm hơn buổi sáng một nhịp. Mỹ Linh ở lại phòng khách, đứng trước ô cửa cuốn, nhìn nắng cuối ngày đổ dài trên nền gạch bông lục giác. Cô đưa tay chạm vào túi áo, nơi mảnh vải gấm vàng vẫn nằm nguyên, và tự hỏi ngày mai thầy sẽ dạy cô ngồi kiệu như thế nào.