Bạch Gia Y Quán - Chương 12: Sư Phụ Khác Lạ Trong Đêm

Mảnh giấy xuyến chỉ cọ vào lớp vải gai thô nơi ngực áo tôi, ráp và buốt lạnh. Từng nét mực son ghi bốn chữ "Mượn thân thế mạng" cùng mốc giờ Thân chiều…

Nội dung chương

Mảnh giấy xuyến chỉ cọ vào lớp vải gai thô nơi ngực áo tôi, ráp và buốt lạnh. Từng nét mực son ghi bốn chữ "Mượn thân thế mạng" cùng mốc giờ Thân chiều ngày mười sáu tháng Bảy vẫn in hằn trong đáy mắt, kéo theo cơn rùng mình chạy dọc sống lưng.

Tôi hít sâu một hơi, cố đè nén tiếng đập thình thịch nơi lồng ngực, dùng tay áo lau vội mồ hôi rịn trên trán rồi bước vội ra gian tiền sảnh.

Trời chiều phố Hàng Bông oi nồng đến ngột ngạt. Khói bụi từ những chuyến tàu điện leng keng chạy dọc bờ hồ vọng lại, quyện với mùi dầu hỏa khét lẹt của mấy ngọn đèn bão vừa châm ngoài phố. Trước thềm đá xanh của Bạch Gia Y Quán, một chiếc xe kéo tay bằng gỗ sơn đen bóng đậu lệch sang một bên, hai càng xe chúc xuống đất, bánh sắt dính bết bùn đất đỏ quạch của mạn ngược trôi về.

Dưới bậc tam cấp, một người đàn ông nằm co quắp trên chiếc chõng tre kê tạm.

Gã trạc chừng ngoài ba mươi tuổi, thân hình gầy rộc trơ xương sườn, trên người vận manh áo cộc vá chằng vá đụp ướt đẫm mồ hôi hôi hám. Đôi bàn chân gã nứt nẻ, móng chân cái bật máu đóng vảy đen sì, hai bắp chân chằng chịt những vết sẹo lồi do đỉa cắn và gai rừng cào xước. Gã đang run bần bật, hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những âm thanh khô khốc như tiếng hai thanh tre gõ vào nhau giữa mùa đông rét mướt, dù ngoài trời lúc này oi ả hệt một lò than.

Bạch lão y đứng bên cạnh chõng tre, bàn tay gầy guộc nắm chặt đầu cây gậy trúc. Gương mặt khắc khổ của sư phụ chìm trong bóng chiều nhập nhoạng, đôi mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào tấm lưng gầy gò của kẻ khốn cùng, bất động như một pho tượng đá rêu phong.

"Đứng ngây ra đó làm gì?" Tiếng sư phụ gắt nhẹ, khàn đặc và khô khốc. "Mau xuống đỡ người vào trong."

Tôi giật thót, vội bước xuống bậc tam cấp, cúi người nắm lấy cổ tay người phu xe.

Làn da gã nóng rực như than hồng, nhưng thớ thịt bên dưới lại co giật từng chập một cách mất kiểm soát. Tôi đặt ngón tay trỏ và ngón giữa lên rãnh mạch thái uyên bên cổ tay gã. Mạch đập nhanh và nông, hỗn loạn vô trật tự, lúc chìm lúc nổi tựa sợi dây cước bị kéo căng sắp đứt. Tôi lật nhẹ mí mắt gã lên kiểm tra. Kết mạc mắt xung huyết đỏ lựng, đồng tử hơi giãn, khóe miệng sùi ra bọt trắng lẫn dịch mật vàng nhạt.

"Sốt cao kịch phát, mạch hồng đại nhưng vô lực, kèm theo mê sảng co giật." Tôi buột miệng nói theo thói quen chẩn trị học được từ sách y khoa Tây học mượn từ thư viện trường Y Hà Nội. "Đây là chứng sốt rét ác tính thể não. Chắc chắn gã vừa đi phu kéo xe từ vùng rừng thiêng nước độc Vĩnh Yên hoặc Phú Thọ về kinh kỳ. Ngoại tà xâm nhập kinh thiếu dương, uất nhiệt hóa hỏa bức huyết vọng hành."

Tôi ngẩng lên nhìn Bạch lão y, giọng khẩn thiết:

"Thưa sư phụ, nhiệt độ cơ thể gã lúc này đã vượt quá ngưỡng an toàn của tạng phủ. Ta cần phải hạ nhiệt khẩn cấp bằng nước đá chườm trán và nách, đồng thời dùng ký ninh dạng muối tiêm bắp hoặc tán bột hòa nước ấm đổ vào cuống họng. Nếu chậm trễ, nhiệt độc sẽ thiêu đốt tủy não, làm vỡ mạch máu bên trong mà chết."

Tôi toan đứng dậy chạy vào tủ kính gian tây y để tìm lọ bột ký ninh mười gam mà tuần trước tôi vừa mua lại từ một dược sĩ người Pháp ở phố Tràng Tiền. Với loại sốt rét rừng ngã nước ác liệt này, ký ninh kết hợp với bài thuốc sắc thanh nhiệt lương huyết của Đông y là phương thức duy nhất có thể giật lại mạng sống cho người bệnh trong vòng vài canh giờ.

Nhưng một bàn tay khô khốc bỗng chộp lấy cổ tay tôi.

Lực ngón tay của Bạch lão y mạnh đến mức làm các khớp xương của tôi đau nhói. Đôi mắt già nua của ông nhìn xoáy vào mặt tôi, ánh mắt lạnh lẽo không hề gợn lên một chút hơi ấm của người hành nghề y cứu tế.

"Tây dược chỉ là thứ gọt vỏ ngoài da, không chạm tới gốc rễ của hàn nhiệt giao tranh," sư phụ gằn từng tiếng, giọng nói trầm thấp nhưng đầy uy lực ép ngược tôi lại. "Mạch tượng của kẻ này đã nghịch loạn đến cực điểm, lục phủ ngũ tạng bị âm tà quấn chặt, dùng ký ninh chỉ tổ làm đông kết hàn khí trong kinh lạc, đẩy nhanh cái chết."

"Nhưng nhiệt độ gã đang quá cao..." Tôi cố gắng biện bạch, cảm giác lạnh toát sau lưng càng lúc càng rõ rệt.

"Ta là thầy hay con là thầy?" Bạch lão y ngắt lời tôi một cách dứt khoát, không cho phép có thêm bất kỳ sự phản kháng nào. "Khí huyết kẻ này đã suy kiệt, chỉ có thể dùng Thập Tam Châm đả thông kỳ kinh bát mạch, trục xuất độc tà từ trong xương tủy ra ngoài mới mong giữ được một tia tàn tức."

Tôi nhìn vào gương mặt đanh lại của ông, chợt nhớ đến mảnh giấy xuyến chỉ giấu trong túi áo.

*Ngày mười sáu tháng Bảy. Đinh Dậu niên, Thân thời.* *Mượn thân thế mạng: Bệnh nhân tha hương, không thân thích...*

Bây giờ chính là giờ Thân. Trời đất bắt đầu chuyển sang màu vàng vọt của buổi hoàng hôn rằm tháng Bảy vừa tan. Và trước mắt tôi là một kẻ phu xe vô danh, một người tha hương không chốn dung thân, không một người thân thích đi cùng. Mọi chi tiết trùng khớp đến mức làm cuống họng tôi nghẹn ứ, từng tế bào trong cơ thể tôi gào thét báo động về một cái bẫy đã được giăng sẵn một cách tàn nhẫn.

Một người phu xe khác trạc tuổi trung niên, người đã giúp đẩy chiếc xe kéo đến đây, lấm lét bước lại gần bậc thềm. Bác ta chắp hai tay trước ngực, giọng nói run rẩy đầy e sợ:

"Bẩm... bẩm cụ lang. Cháu với chú này chỉ là bạn cùng bến xe bên bến Nứa. Chiều nay thấy chú ấy ôm ngực ngã gục bên bệ đá, sốt mê man không biết trời đất gì nữa. Nghe tiếng cụ lang Bạch Gia Y Quán có lòng bồ tát hay phát thuốc làm phúc cho kẻ nghèo hèn, cháu mới liều mạng kéo chú ấy sang đây... Khốn nỗi, chúng cháu là dân lao động dưới thuyền lên kéo xe thuê, trong túi chẳng có lấy một đồng trinh dắt lưng..."

Bác phu xe vừa nói vừa cúi gập người, vẻ mặt khắc khổ hiện rõ nỗi tự ti và tuyệt vọng cùng cực của tầng lớp bần hàn dưới đáy xã hội thuộc địa.

Bạch lão y khẽ buông tay tôi ra, vuốt chòm râu bạc, cất giọng ôn tồn và đầy vẻ xót thương nhân thế:

"Nhà bác cứ yên tâm. Người bước chân vào cửa Bạch Gia Y Quán, dù là quan lớn hay kẻ áo tơi nón lá, ta đều coi như sinh mệnh trong trời đất. Kẻ này bệnh tình nguy kịch, nếu chuyển sang nhà thương thí của Tây thì chỉ có nước chờ chết dọc đường. Bác cứ để người lại đây, tiền khám, tiền thuốc, tiền châm cứu ta xin miễn toàn bộ. Tối nay ta sẽ tự mình châm cứu trừ tà khai khiếu cho chú ấy."

Bác phu xe nghe vậy thì mắt sáng lên, mừng rỡ sụp xuống vái lạy lia lịa trên nền đá:

"Đội ơn cụ lang! Cụ thật là bồ tát tái thế, cứu sống kẻ bần hàn đội ơn cụ ngàn đời!"

"Được rồi, mau về đi kẻo trời tối, đường sá cấm giới nghiêm ngặt," sư phụ phất tay nhẹ nhàng, giọng điệu từ hòa đến mức nếu tôi không đọc được mảnh giấy chết chóc kia, có lẽ tôi cũng đã quỳ xuống tôn sùng ông như một bậc thánh nhân giáng trần.

Bác phu xe ríu rít cảm tạ rồi quay người dắt chiếc xe kéo chạy vội ra hướng phố Hàng Nón, bóng chiếc xe khuất dần sau rặng liễu rủ bên bờ mương.

Cánh cửa gỗ lim phía trước y quán khép lại một nửa, ngăn cách ánh mắt tò mò của mấy người hàng xóm buôn bán quanh phố Hàng Bông. Gian tiền sảnh chỉ còn lại ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn dầu lạc trên bàn bắt mạch.

"Học Đạo, mang cáng lại đây," sư phụ ra lệnh, giọng điệu từ bi lúc nãy lập tức biến mất, thay vào đó là sự lạnh lùng khô khốc thường ngày. "Đưa người vào phòng châm cứu cổ phía sau."

Tôi khựng lại một nhịp:

"Thưa sư phụ, phòng châm cứu ngoài này thoáng khí hơn, lại đầy đủ bồn rửa và đèn măng-sông. Phòng cổ ẩm thấp, nhiều năm nay người chỉ dùng để chứa đồ tế lễ và bộ kim đồng truyền đời..."

"Ta bảo đưa vào phòng cổ!" Bạch lão y trừng mắt nhìn tôi, giọng nói rít qua kẽ răng mang theo uy áp nặng nề. "Căn phòng đó phong bế khí tuyệt hảo, không để tà phong bên ngoài xâm nhập vào cơ thể bệnh nhân khi ta hành châm. Con học năm năm rồi mà những quy tắc dưỡng khí cơ bản này cũng quên sạch hay sao?"

Tôi cắn chặt môi dưới, vị tanh ngọt của máu ứa ra nơi đầu lưỡi kéo tôi về với thực tại nghiệt ngã. Tôi không thể cãi lời ông lúc này. Bất kỳ sự phản kháng công khai nào cũng có thể khiến ông nghi ngờ rằng tôi đã phát hiện ra bí mật kinh hoàng ở hoa viên phía sau.

Tôi chạy vào góc nhà lấy chiếc cáng bằng vải bạt cũ, cùng sư phụ khiêng người phu xe vô danh lên cáng. Người gã nhẹ bẫng, dường như chỉ còn một bộ xương bọc lấy lớp da sạm đen vì nắng gió. Hơi thở gã phả ra nóng rực, đứt quãng từng cơn khò khè như ống bễ rách.

Chúng tôi khiêng chiếc cáng qua dãy hành lang lát gạch đỏ u ám, đi qua khoảng sân giếng trời nơi mùi đất ẩm nồng nặc bốc lên sau trận mưa đêm qua. Đi ngang qua cánh cửa sắt dẫn ra vườn dược thảo phía sau, tôi nghe thấy một tiếng thở dài trầm đục, kèm theo tiếng xào xạc của lớp lá khô bị nghiến nát dưới sức nặng của một khối thịt khổng lồ.

Bạch Tiên đang nằm bên trong bức tường đá đó, gặm nhấm nỗi đau đớn cùng cực từ mũi kim đồng mà sư phụ đã cắm ngập vào sọ não nó đêm qua.

Chúng tôi dừng lại trước cửa phòng châm cứu cổ.

Căn phòng này nằm nép mình ở góc sâu nhất của y quán, ba mặt giáp tường đá ong dày cộp, không hề có cửa sổ trổ ra ngoài. Cánh cửa gỗ lim đen sì đóng chặt quanh năm, then cài bằng sắt hoen gỉ kêu lên một tiếng *ken két* chói tai khi Bạch lão y đẩy cửa bước vào.

Một luồng không khí lạnh ngắt, đặc quánh mùi trầm hương cũ kỹ và mùi xạ hương nồng nặc ùa ra tạt thẳng vào mặt tôi. Giữa phòng kê một chiếc giường bằng đá hoa cương đen bóng, bốn góc giường có khắc bốn hình đầu thú phù điêu đã mòn nhẵn dấu vết thời gian.

Chúng tôi đặt người phu xe lên mặt đá lạnh buốt. Sự va chạm nhiệt độ đột ngột làm gã co giật dữ dội hơn, hai tay cào cấu trong vô thức vào lớp đệm cói rách nát trải trên giường.

"Đi ra ngoài," Bạch lão y xoay người lại, chắn ngang lối vào duy nhất của căn phòng.

Tôi đứng chôn chân bên bậu cửa gỗ, hai mắt dán chặt vào gương mặt tím tái của người phu xe:

"Sư phụ, để con ở lại đỡ người, giúp người đốt ngải cứu và hơ kim..."

"Không cần," giọng ông dứt khoát như chặt sắt chém đinh. "Thập Tam Châm trục tà lần này cực kỳ hung hiểm, tâm trí con chưa đủ định lực, tà khí phát tán ra sẽ làm tổn hại đến kinh mạch của con. Ra ngoài quầy ghi chép bệnh án cho đầy đủ, bốc sẵn ba thang thuốc độc hoạt ký sinh thang để chuẩn bị hồi dương cứu nghịch sau khi ta châm xong."

Nói dứt lời, Bạch lão y không đợi tôi kịp phản ứng, đưa tay đóng sầm cánh cửa gỗ lim nặng trịch lại.

*Cạch!*

Tiếng then sắt bên trong rơi xuống chốt chặt. Tiếp đó là âm thanh xích sắt quấn quanh tay nắm cửa kêu lách cách.

Ông ta đã tự khóa chặt mình cùng kẻ bần hàn kia bên trong một nấm mồ đá kín mít.

Tôi đứng trơ trọi giữa hành lang tranh tối tranh sáng, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo chẽn thô ráp. Mồ hôi lạnh túa ra khắp sống lưng làm mảnh giấy xuyến chỉ dán chặt vào da thịt tôi buốt nhói.

Trục xuất tà khí sao? Hay là đem thứ tà khí kinh tởm từ mười ba chiếc gai nhím đọa lạc kia truyền thẳng vào lục phủ ngũ tạng của kẻ khốn cùng không nơi nương tựa này?

Tôi quay ngoắt người, rảo bước thật nhanh trở lại gian tiền sảnh. Không gian hiệu thuốc vắng lặng đến rợn người, chỉ có tiếng tích tắc đơn điệu của chiếc đồng hồ quả lắc Odo treo trên vách gỗ gụ và tiếng gió chiều thổi qua những chấn song cửa sổ kêu *vi vu* như tiếng ai oán than khóc.

Tôi tiến lại gần chiếc bàn gỗ lim nơi đặt cuốn sổ mạch án dày cộp bọc da bò. Đây là cuốn sổ lưu trữ danh tính, quê quán, triệu chứng và phương thang của tất cả những bệnh nhân từng bước chân vào Bạch Gia Y Quán suốt hơn ba mươi năm qua dưới thời Bạch lão y hành nghề. Mỗi dòng chữ trong này đều được ghi chép cẩn thận bằng mực tàu đen nhánh để đối chiếu với nhà chức trách bảo hộ khi có kiểm tra y tế định kỳ.

Bàn tay tôi run lẩy bẩy khi lật giở từng trang giấy bản ngả vàng.

Trang mở ra ngày mười lăm tháng Bảy: tiểu thư Trần Thị Đoan, mười tám tuổi, chứng trúng phong bạo nghịch, đã dùng Thập Tam Châm giải huyệt khai khiếu.

Và trang tiếp theo, ngày mười sáu tháng Bảy.

Mực tàu trên trang giấy vẫn còn mới, nét chữ khuyên tròn sắc sảo quen thuộc của sư phụ hiện rõ dưới ánh đèn dầu. Nhưng mục họ tên, tuổi tác, quê quán của bệnh nhân giờ Thân hoàn toàn bị bỏ trống. Một khoảng trắng toát lạnh lùng, trơ trọi giữa trang giấy.

Ở phần chẩn đoán bệnh trạng, chỉ có đúng bốn chữ viết bằng mực son đỏ quắt như máu đọng:

*Kẻ vô danh tính.*

Không tên. Không tuổi. Không nguồn gốc quê quán. Nếu người này chết đi ngay đêm nay, chính quyền bảo hộ hay cảnh binh bản xứ cũng chỉ xem như một cái xác phu xe vô thừa nhận trúng gió chết bên vệ đường, rồi vùi vùi dập dập ngoài bãi tha ma Phúc Xá bờ sông Hồng như hàng ngàn số phận bèo bọt khác trôi dạt về chốn kinh kỳ hoa lệ này.

Một sự sắp đặt hoàn hảo đến rùng rợn. Bạch lão y không chỉ tính toán thời gian mượn thân thế mạng, mà còn tính toán cả tính pháp lý để xóa sạch mọi dấu vết của nạn nhân trước sự dòm ngó của luật pháp người Pháp.

Cơn phẫn uất xen lẫn kinh hoàng bóp nghẹt lấy khí quản tôi.

Tôi bước nhanh về phía góc nhà, nơi đặt bức tượng đồng châm cứu nghìn năm mà sư phụ luôn coi là bảo vật gia truyền của dòng họ Bạch.

Bức tượng đồng cao bằng người thật, đúc bằng đồng đỏ hun khói đen nhánh, toàn thân chạm khắc tỉ mỉ ba trăm sáu mươi lăm huyệt đạo cùng đường đi của thập nhị chính kinh và kỳ kinh bát mạch. Tượng đồng này dùng để truyền dạy cho đệ tử các thế châm bí truyền, các lỗ huyệt được bịt kín bằng sáp ong, khi châm đúng huyệt đạo thì mũi kim mới xuyên qua được lớp sáp để chạm vào khoảng rỗng bên trong phát ra tiếng *coong* thanh tao.

Tôi nâng ngọn đèn dầu lạc lên ngang tầm mắt soi vào thân tượng đồng.

Ánh lửa vàng chập chờn chiếu rọi lên lớp da đồng trơn nhẵn.

Ngay trước ngực bức tượng đồng, tại vị trí của huyệt Cự Khuyết và huyệt Đản Trung, hai tử huyệt trọng yếu nằm trên đường nhâm mạch kiểm soát tâm khí và huyết hải của con người, xuất hiện một chấm tròn màu đỏ tươi.

Vết chu sa mới tinh, đỏ thẫm như một giọt máu tươi vừa rỏ xuống kim loại lạnh ngắt.

Tôi đưa ngón tay khẽ chạm vào chấm đỏ nơi huyệt Cự Khuyết. Bột chu sa pha dầu mè còn chưa kịp khô hẳn, dính chặt vào đầu ngón trỏ của tôi một vệt màu đỏ quạch tanh nồng.

Sư phụ đã đánh dấu sẵn tử huyệt từ trước khi người phu xe bước chân vào y quán.

Cự Khuyết là mộ huyệt của kinh thủ thiếu âm tâm. Đản Trung là huyệt hội của khí, nơi hội tụ tông khí của toàn thân. Nếu dùng kim thường đâm sâu vào hai huyệt này đã có thể gây ngừng tim tức khắc, huống hồ là dùng những chiếc gai nhím chứa đầy tà khí tím đen của một con dã thú đang phát cuồng.

Đây không phải là một ca cấp cứu chữa bệnh.

Đây là một buổi hành quyết được che đậy dưới danh nghĩa y đạo cứu người.

Bên ngoài trời đã sụp tối hoàn toàn. Đêm rằm tháng Bảy vừa trôi qua, để lại bầu trời đêm mười sáu đen đặc không một ánh sao, chỉ có những đám mây xám nặng trĩu sà thấp xuống những mái ngói rêu phong của phố Hàng Bông. Gió lạnh từ hướng sông Hồng thổi thốc vào khe cửa, mang theo hơi ẩm ướt át báo hiệu một cơn dông lớn sắp đổ ập xuống kinh thành.

Từ phía hành lang sâu hút dẫn vào phòng châm cứu cổ, một làn khói mỏng màu tím lờ nhờ bắt đầu len qua khe cửa gỗ lim, tỏa ra mùi tanh nồng của máu và mùi thối rữa ngai ngái của bùn lầy đáy giếng.

Tiếng rên rỉ yếu ớt của người phu xe bỗng im bặt, thay vào đó là tiếng kim loại cọ xát vào da thịt ghê rợn vọng ra qua bức tường đá ong dày cộp.

Tôi nhìn vệt chu sa đỏ quắt trên đầu ngón tay mình, rồi sờ vào mảnh giấy xuyến chỉ đang cộm lên nơi ngực áo.

Tôi không thể trơ mắt đứng nhìn một mạng người bị tước đoạt tàn bạo như thế này ngay dưới mái nhà mà tôi đã từng xem là thánh địa của lòng từ bi. Bằng mọi giá, tôi phải tận mắt nhìn thấy những gì đang diễn ra phía sau cánh cửa sắt khóa chặt kia.

Tôi thổi tắt ngọn đèn dầu lạc trên bàn, giấu bóng mình vào bóng tối đặc quánh của góc nhà, cởi bỏ đôi guốc mộc rồi bước từng bước không tiếng động về phía phòng châm cứu cổ.

Chương khác

Xem thêm