Bạch Gia Y Quán - Chương 14: Học Đạo Lần Đầu Nghi Ngờ

Tiếng nước vỗ bì bõm trong chậu đồng kéo dài chừng một tuần nhang rồi dứt hẳn. Tôi nép mình sau hàng bao tải phục linh và thục địa xếp cao quá đầu người…

Nội dung chương

Tiếng nước vỗ bì bõm trong chậu đồng kéo dài chừng một tuần nhang rồi dứt hẳn.

Tôi nép mình sau hàng bao tải phục linh và thục địa xếp cao quá đầu người nơi khúc ngoặt hành lang, ngón tay bấu chặt vào mép cột gỗ lim lạnh buốt. Qua khe hở giữa hai kiện hàng bọc vải ba, tôi thấy bóng lưng còng của Bạch lão y in nghiêng trên vách vôi loang lổ. Ông chậm rãi vắt khô chiếc khăn vải thô, lau từng ngón tay gầy guộc đã nhăn nheo vì tuổi tác, đoạn với tay hạ ngọn đèn bão treo trên xà nhà xuống nấc sáng nhỏ nhất.

Tiếng then cài bằng sắt của phòng châm cứu vang lên một tiếng cạch đanh gọn. Bạch lão y kéo lê đôi guốc gỗ trên nền gạch Bát Tràng, tiếng bước chân nặng nề dần trôi về phía gian nhà chính rồi mất hút sau cánh rèm vải sáp phòng ngủ của ông. Sau một ca dụng công kéo dài suốt bốn canh giờ, chân khí của sư phụ đã hao hụt nặng nề, cơn buồn ngủ của tuổi già sẽ giữ chân ông trên sập gụ ít nhất cho đến khi tiếng còi tầm của nhà máy đèn Bờ Hồ hú gọi ca sáng.

Mưa dông bên ngoài bắt đầu dội xuống mái ngói âm dương của Bạch Gia Y Quán từng đợt ràn rạt. Nước mưa từ máng xối xối xả tràn qua sân trong, cuốn theo mùi phân nhím nồng ngái từ chuồng ngầm của Bạch Tiên bốc ngược lên, quấn lấy mùi thảo mộc ngâm tẩm lâu năm tạo thành thứ không khí ngột ngạt đến lợm giọng.

Tôi nín thở thêm một khắc, lắng nghe tiếng ngáy rền rĩ quen thuộc của sư phụ cất lên từ gian phòng phía đông. Khi chắc chắn ông đã chìm sâu vào giấc ngủ, tôi mới bước ra khỏi bóng tối.

Bàn chân trần của tôi chạm vào mặt gạch lạnh buốt. Tôi không thắp đèn, lần theo trí nhớ quen thuộc suốt năm năm ăn ở tại y quán này để tiến về phía phòng châm cứu cổ. Trong túi áo bà ba may bằng vải thô, tôi mang theo một ống nghe y khoa bằng gỗ mà thầy thuốc người Pháp ở dưỡng đường René Robin từng tặng cho tôi, cùng hai chiếc kim bạc thử độc dài năm tấc và một lưỡi dao trích rạch mủ bằng thép tây sáng loáng.

Là một người được tiếp xúc với y học phương Tây hiện đại nhưng đồng thời thụ đắc toàn bộ kinh nghiệm biện chứng đông y từ sư phụ, tôi không thể chấp nhận sự việc vừa diễn ra như một phép màu huyền bí giản đơn. Một con người bằng xương bằng thịt vừa trút hơi thở cuối cùng ngay trước mắt tôi. Nếu đây là một vụ mưu hại đoạt mạng, cơ thể nạn nhân nhất định phải lưu lại dấu vết sinh lý học. Chất độc, sự tắc nghẽn tuần hoàn, hay tác động cơ học thô bạo lên hệ thần kinh đều sẽ để lại di chứng trên cơ nhục và huyết quản.

Tôi rút từ cạp quần ra một thanh tre mỏng vót nhọn, luồn khéo léo qua khe cửa gỗ lim để gạt chiếc chốt sắt bên trong. Tiếng chốt rơi êm ru trên lớp giẻ vụn tôi đã kín đáo nhét sẵn từ chập tối. Cánh cửa nặng trịch hé mở một khoảng vừa đủ để một người lách qua.

Mùi tử khí và mùi khói ngải cứu ẩm mốc lập tức ùa ra xộc thẳng vào cánh mũi.

Tôi khép chặt cửa lại, cài then cẩn thận, đoạn lấy chiếc đèn dầu lạc loại nhỏ bằng đồng thau giấu dưới chân bàn châm cứu, châm lửa rồi chụp chiếc ống thông gió bằng sắt tây lên để gom luồng sáng thành một vệt tròn gom hẹp, tránh để ánh lửa hắt qua chấn song cửa sổ.

Trên tấm phản gỗ lim giữa phòng, tấm vải liệm bằng sợi gai thô màu trắng đắp trùm kín từ đầu đến chân người phu xe vô danh. Dáng hình bất động của cái xác nổi cộm dưới lớp vải xơ xác, cô độc và lạnh lẽo giữa gian phòng nồng nặc mùi lưu huỳnh.

Tôi hít một hơi sâu để trấn tĩnh nhịp tim đang đập thình thịch nơi lồng ngực, bước lại gần mép phản rồi quỳ một chân xuống. Đôi bàn tay tôi run rẩy khi ngón tay chạm vào mép vải liệm gai thô ráp.

Tôi từ từ lật tấm vải trắng ra.

Gương mặt của người phu xe hiện ra dưới quầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu. Đôi mắt trũng sâu đã được sư phụ vuốt kín mí, khóe miệng hơi trễ xuống để lộ hàm răng ố vàng khói thuốc lào. Da mặt ông ta phủ một màu xám tro nhợt nhạt, lạnh ngắt và căng cứng - biểu hiện bình thường của một tử thi bắt đầu bước vào giai đoạn co cứng sau khi tim ngừng đập chừng nửa giờ.

Nhưng điều khiến tôi lạnh gáy chính là sự biến mất hoàn toàn của những dấu hiệu kỳ quái mà tôi đã tận mắt chứng kiến cách đây chưa đầy một canh giờ.

Lúc chiếc gai nhím cắm sâu vào ngực, những đường gân máu màu tím đen bò lan như rễ cây cổ thụ chằng chịt khắp cổ, tràn lên tận gò má người đàn ông khốn khổ này. Thế nhưng lúc này, khi tôi đưa ngọn đèn lại gần sát lớp da cổ và ngực của ông ta, toàn bộ những vệt tím đen quái đản ấy đã biến mất không để lại một tì vết. Lớp da dưới cằm và quanh yết hầu chỉ mang sắc trắng bệch của người chết mất máu cục bộ, nhẵn nhụi, không một vết phù nề, không một nốt xuất huyết li ti dưới biểu bì.

Tôi vạch hẳn vạt áo tơi rách rưới của nạn nhân sang hai bên, để lộ toàn bộ lồng ngực gầy guộc trơ xương sườn.

Nơi huyệt Cự Khuyết và huyệt Đản Trung, hai vị trí mà sư phụ đã dùng hai chiếc gai nhím cắm sâu ngập lút thân gai, hiện ra hai dấu vết nhỏ đến mức nếu không dùng kính lúp soi kỹ thì không một viên cảnh binh hay pháp y người Pháp nào có thể phát hiện được. Đó chỉ là hai chấm tròn nhỏ bằng đầu mũi kim may vá, màu hồng nhạt, mép vết đâm phẳng lì, không hề có hiện tượng tụ máu bầm, cũng không hề tiết dịch hay mủ hoại tử.

Vết thương trên cơ thể người sống bao giờ cũng có phản ứng viêm, các mao mạch sẽ dồn máu về để phong tỏa tổn thương, tạo thành quầng đỏ hoặc bầm tím. Nhưng hai lỗ châm này giống như được châm vào một miếng sáp vô hồn, hoặc giả mọi phản ứng sống của mô tế bào tại vị trí đó đã bị dập tắt ngay trước khi máu kịp tràn ra.

Tôi áp chiếc ống nghe bằng gỗ tròn vào vùng trước tim của tử thi.

Khoang ngực hoàn toàn im lìm, không một tiếng róc rách của dịch thể, không một tiếng động cơ học nào sót lại. Điều này không có gì lạ đối với một người đã tắt thở. Nhưng khi tôi dùng ngón tay ấn chẩn theo các đường kinh lạc chạy qua lồng ngực, một cảm giác bất thường truyền thẳng qua đầu ngón tay khiến tôi giật thót.

Thành ngực bên ngoài hoàn toàn mềm nhũn theo độ mềm của xác chết mới, các xương sườn không hề gãy rứt. Nhưng ngay phía sau xương ức, tại vị trí quả tim nằm trong trung thất, lại tồn tại một khối rắn đanh và teo tóp kỳ dị.

Tôi không kìm được sự tò mò của một kẻ làm nghề y. Tôi rút chiếc kim bạc thử độc dài năm tấc ra khỏi bao da, hơ nhanh qua ngọn lửa đèn dầu để sát trùng theo thói quen, rồi nhẹ nhàng châm thẳng mũi kim qua khe liên sườn số bốn bên trái, xuyên sâu vào bao màng tim của tử thi.

Mũi kim đi vào dễ dàng qua lớp mỡ và cơ ngực, nhưng khi chạm đến khối cơ tim, cảm giác truyền lại ở chuôi kim không phải là sự đàn hồi của mô cơ chết, mà khô khốc, xơ cứng giống hệt như đâm mũi kim qua một bao tải đựng đầy tro tàn hoặc dăm gỗ mục.

Tôi cẩn thận rút chiếc kim bạc ra.

Dưới ánh đèn dầu, thân kim bạc sáng loáng không hề bị nhuộm đen. Điều đó chứng minh trong huyết dịch của nạn nhân không hề có thạch tín, chu sa, hay các loại độc chất kim loại nặng thường dùng trong các vụ đầu độc gia truyền. Nhưng khi tôi đưa đầu kim lên ngang mũi, một mùi tanh tưởi kỳ quặc xộc thẳng vào khứu giác.

Đó không phải mùi tanh của huyết tươi, mà là mùi tanh nồng của bùn lầy lâu năm pha lẫn mùi thịt sống bị đốt cháy âm ỉ bên trong nội tạng.

Để kiểm chứng nghi ngờ cuối cùng, tôi dùng lưỡi dao trích rạch một đường ngắn chừng nửa đốt ngón tay ngay tại hõm xương ức, nơi da mỏng nhất. Vết rạch mở ra một lớp mỡ màu vàng nhợt. Từ vết cắt, huyết dịch rỉ ra cực kỳ chậm chạp. Thứ máu đó quánh đặc, mang sắc nâu đen như nước cốt bồ kết nấu cháy, các hồng cầu dường như đã bị một nguồn năng lượng vô hình vắt kiệt toàn bộ nước và sinh khí, chỉ để lại một lớp cặn bã đông đặc không thể lưu thông.

Quả tim của người phu xe không hề ngừng đập vì trụy tim do lao lực quá độ, càng không phải trúng phong bạo nghịch như lời ghi chép trong sổ bệnh của sư phụ. Quả tim ấy đã bị thiêu đốt và teo quắt từ bên trong bởi một luồng tà lực cực mạnh. Sự sống bị hút cạn đến giọt tinh huyết cuối cùng, để lại một lớp vỏ bọc hoàn hảo bên ngoài nhằm đánh lừa bất kỳ cuộc khám nghiệm pháp y sơ sài nào của nhà chức trách bảo hộ.

Một vụ giết người không dấu vết. Một phương thức mượn xác thế mạng tinh vi vượt xa mọi hiểu biết về độc chất học và cơ chế giải phẫu bệnh của người Tây phương.

Tôi run rẩy lấy một miếng gạc tẩm cồn lau sạch vết rạch nhỏ, khéo léo dùng kim chỉ khâu thẩm mỹ khép kín miệng vết thương lại, rồi phủ tấm vải liệm gai trở lại che kín thân xác người phu xe. Đứng trước cái xác của một người lao động nghèo khổ vô danh vừa bị biến thành vật hiến tế, lòng tôi trào dâng một cảm giác phẫn uất tột cùng pha lẫn nỗi sợ hãi tê dại.

Tôi quay sang chiếc bàn con đặt ở góc phòng, nơi Bạch lão y dùng làm bàn để dụng cụ châm cứu và bốc các vị thuốc bí truyền.

Trên mặt bàn bằng gỗ hương, một chiếc tráp nhỏ bằng gỗ tử đàn đen nhánh nằm lặng lẽ cạnh nghiên mực Tàu đã cạn. Chiếc tráp này sư phụ không bao giờ cho phép tôi chạm vào, luôn mang theo bên mình hoặc cất trong tủ sắt khóa kín. Nhưng đêm nay, sau khi hoàn thành nghi thức tẩy gai đầy căng thẳng, ông đã để quên nó trên mặt bàn, chỉ gài then đồng bên ngoài mà chưa kịp khóa móc sắt.

Tôi bước lại gần chiếc bàn, tiếng gió rít qua khe cửa sổ như tiếng thở dài của những oan hồn vất vưởng ngoài bãi tha ma sông Hồng.

Bàn tay tôi run lên bần bật khi chạm vào chiếc then đồng lạnh ngắt. Tôi khẽ đẩy then sang một bên, nhấc nắp tráp gỗ tử đàn lên.

Bên trong tráp là một chiếc hộp gấm màu đỏ điều thêu hình vân mây bằng chỉ vàng ngũ sắc - phong cách chế tác đồ ngự dụng từ thời nhà Nguyễn. Tôi mở nắp hộp gấm.

Một luồng khí lạnh tanh lập tức phả vào mặt tôi.

Nằm gọn gàng trên lớp đệm nhung đỏ mềm mại là ba chiếc gai nhím dài gần một gang tay.

Tôi đứng chết trân, cổ họng nghẹn đắng lại không thốt nên lời.

Ba chiếc gai nhím thần nằm song song bên nhau, thân gai nhẵn bóng, trơn tru, phát ra thứ ánh sáng trắng ngà tinh khôi và thuần khiết giống như ngọc thạch thượng hạng vừa được vớt lên từ đáy suối ngọc. Không còn sót lại dù chỉ một chấm tím li ti, không còn một gợn khói đen hắc ám nào của tà khí hung hiểm từng khiến con nhím thần Bạch Tiên phát cuồng trong chuồng ngầm đêm qua.

Sự thanh tẩy đã đạt đến mức hoàn hảo tuyệt đối. Ba chiếc gai nhím vừa tước đoạt sinh mạng của người phu xe giờ đây mang vẻ đẹp thánh thiện, cao quý của một món pháp khí cứu nhân độ thế.

Nhưng khi tôi cúi sát mặt xuống lớp nhung đỏ để quan sát gốc gai, sự thật ghê tởm lập tức phơi bày.

Từ bên trong thân gai trắng ngà ấy, một luồng mùi vị tanh tưởi bốc lên nồng nặc. Đó là mùi huyết nhục con người tươi nguyên vừa bị hút cạn vào trong ruột gai rỗng, bị nén chặt dưới lớp vỏ sừng bóng bẩy. Màu trắng ngà tinh khiết bên ngoài chỉ là tấm bình phong giả tạo che giấu thứ bản chất ô uế, tàn bạo của một con thú đã nếm mùi máu người.

Tôi đưa ngón tay khẽ chạm vào thân gai. Chiếc gai nhím không hề lạnh như kim đồng hay kim bạc thông thường, mà ấm nóng một cách dị thường, một độ ấm âm ỉ giống hệt như thân nhiệt của một người sống đang hầm hập sốt. Nó như đang thở, đang nhịp nhàng tiêu hóa sinh mạng vừa bị cướp đoạt từ lồng ngực người phu xe nằm sau lưng tôi.

Từng lời dạy của sư phụ trong suốt năm năm qua bỗng dội về, vang vọng chói gắt giữa bốn bức tường đá ong lạnh lẽo.

*Y giả từ tâm. Thập Tam Châm giáng huyệt là để cướp người từ tay Diêm La, cứu người khỏi chỗ chết, chứ không phải để mưu cầu danh lợi hay hại mạng chúng sinh.*

Những lời vàng ngọc ấy giờ đây biến thành những lời dối trá kinh tởm nhất mà tôi từng được nghe. Năm năm trước, mẹ tôi thoát chết sau một trận bạo bệnh nhờ những mũi kim đồng của Bạch lão y. Lúc ấy, tôi đã quỳ sụp dưới chân ông, coi ông như một vị Bồ Tát tái thế, thề sẽ dốc trọn cuộc đời này phụng sự y đạo dưới mái nhà Bạch Gia Y Quán.

Nhưng có bao nhiêu mạng người vô danh như người phu xe này đã phải bỏ mạng dưới những chiếc gai nhím trắng ngà kia để đổi lấy danh tiếng "thần y tái thế" cho sư phụ? Có bao nhiêu xác chết không tên đã bị vùi dập ngoài bãi tha ma Phúc Xá để giữ cho con tà thú Bạch Tiên dưới vườn dược thảo không hóa điên mà tàn sát?

Mỗi lần một chiếc gai rụng xuống nhiễm đầy tà niệm, một mạng người nghèo khổ tha hương lại bị chọn làm vật tẩy uế. Một sinh mạng đổi lấy một chiếc gai sạch. Một chuỗi giết chóc vô tận được ngụy trang hoàn hảo dưới danh nghĩa cứu người trị bệnh.

Cơn phẫn nộ cùng cực bóp nghẹt lồng ngực tôi, biến thành nỗi cay đắng dâng trào lên khóe mắt. Tôi siết chặt nắm tay, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Lý trí của một kẻ tin vào khoa học và đạo đức của một người thầy thuốc mách bảo tôi rằng tôi không thể im lặng thêm một khắc nào nữa. Nếu tôi tiếp tục nhắm mắt làm ngơ, tôi không còn là một học trò học nghề y, mà đã chính thức trở thành kẻ đồng lõa với một tên sát nhân máu lạnh.

Tôi không đóng nắp chiếc hộp gấm lại. Tôi quay người, nhìn về phía thi thể người phu xe nằm trơ trọi dưới tấm vải liệm trắng, rồi nhìn về phía cánh cửa gỗ dẫn ra gian phòng ngủ của Bạch lão y.

Ngoài trời, cơn dông bắt đầu gầm lên dữ dội. Gió quất từng cơn điên cuồng vào rặng tre ngà sau vườn dược thảo, tạo nên những tiếng cọ xát ken két như tiếng mài nanh vuốt của loài dã thú trong bóng đêm.

Tôi hít một hơi thật sâu, rút chiếc gai nhím trắng ngà ở chính giữa hộp gấm cầm chặt trong lòng bàn tay, mũi gai nhọn hoắt đâm sâu vào da thịt làm rỉ ra một giọt máu đỏ tươi.

Cầm cây đèn dầu trên tay, tôi quay người bước thẳng ra khỏi phòng châm cứu, hướng về phía gian phòng của sư phụ, chuẩn bị cho cuộc đối chất không thể nào tránh khỏi.

Chương khác

Xem thêm