Bạch Gia Y Quán - Chương 16: Bệnh Nhân Lạ Thứ Ba Không Trở Về

Cánh cửa ngách gian phòng ngủ của sư phụ đã gài then trong, bỏ lại tôi một mình giữa phòng châm cứu mờ tối. Ngọn đèn dầu trên chiếc đôn gụ lụn dần bấc,…

Nội dung chương

Cánh cửa ngách gian phòng ngủ của sư phụ đã gài then trong, bỏ lại tôi một mình giữa phòng châm cứu mờ tối. Ngọn đèn dầu trên chiếc đôn gụ lụn dần bấc, bốc lên từng sợi khói đen cay xè mắt. Trước mặt tôi, thi thể người phu xe vô danh nằm ngay đơ dưới tấm vải liệm trắng toát, hai bàn chân thâm tím thò ra ngoài mép phản lim, lạnh buốt như hai hòn đá ngâm nước lũ.

Lời đe dọa của Bạch lão y còn dội lại giữa bốn bức tường đá ong dày cộp: *Nếu phong ấn vỡ, người đầu tiên chết dưới móng vuốt của Bạch Tiên, chính là mẹ con ở bãi Phúc Xá.*

Mỗi câu chữ của ông như từng chiếc đinh gỉ đóng chặt vào màng nhĩ tôi. Năm năm trước, khi dịch sốt rét hoành hành khắp dải đất ven sông Hồng, mẹ tôi nằm liệt trên chiếc chõng tre ọp ẹp, hơi thở đứt quãng từng chặp, tính mạng chỉ tính bằng từng giờ. Khi ấy, chính bàn tay già nua của Bạch lão y đã châm cứu khai thông mười hai đường kinh lạc, bốc cho mẹ tôi từng thang thuốc quý mà không lấy nửa đồng bạc kẽm. Ông bế tôi vào hiệu thuốc phố Hàng Bông, chỉ dạy từng vị thuốc, từng đường kim, nuôi nấng tôi thành một người có nghề ngẩng cao đầu giữa đất Hà thành.

Cái ơn tái sinh mẫu thân ấy nặng hơn núi Thái Sơn, trói buộc tôi bằng chữ hiếu và nghĩa thầy trò ròng rã nửa thập kỷ.

Nhưng cái giá để đổi lấy sự tồn tại của y quán, đổi lấy cái danh "Bạch Gia Thần Y", lại là từng vũng máu đen ngòm dưới đáy hầm và những cái chết oan ức không tên như người đàn ông nằm kia. Tôi đứng nhìn bóng bàn tay mình run rẩy in trên vách đá. Nếu tôi bước chân ra bót Cửa Nam tố giác sư phụ với mật thám Pháp, phong ấn Bạch Tiên vỡ vụn, mẹ tôi cùng hàng ngàn sinh linh vô tội ở chốn kinh kỳ này sẽ biến thành mồi ngon cho tà thú cuồng loạn. Còn nếu tôi câm lặng, tôi chính là kẻ tòng phạm, ngày ngày nhìn sư phụ giết từng mạng người vô danh để gột rửa những chiếc gai nhiễm độc.

Đạo đức của một người hành nghề y bị xé toạc thành hai mảnh, mảnh nào cũng nhuốm đầy máu và sự hèn hạ.

Cơn gió bão bên ngoài rặng tre ngà quất ào ào qua khe cửa chớp, tạt những giọt nước mưa lạnh ngắt vào gáy tôi. Mùi ẩm mốc của thảo mộc khô lẫn với mùi tanh ngai ngái từ lòng đất bốc lên nồng nặc. Tôi siết chặt quai chiếc đèn bão bằng sắt tây, kéo thấp vạt áo the sũng nước mưa, quyết định không thể chôn chân trong sự do dự hèn nhát này. Tôi cần sự thật. Tôi phải biết suốt ba mươi năm qua, bàn tay Bạch lão y đã nhuốm máu của bao nhiêu người, và liệu lời ông nói về phong ấn kia là sự thật hay chỉ là một đòn tâm lý tàn độc dựng lên để bịt miệng đứa học trò.

Tôi nhón chân bước qua cửa ngách sau phòng châm cứu, đi men theo bờ tường phủ rêu dẫn ra vườn dược thảo.

Mưa đêm Hàng Bông trút xuống những tán lá tía tô đất và ngải diệp dập nát. Dưới chân tôi, lối đi lát gạch Bát Tràng trơn tuột, nước mưa ngập xăm xắp mắt cá chân. Phía cuối vườn, nơi có gốc mẫu đơn cổ thụ cằn cỗi che khuất cửa hầm ngầm của Bạch Tiên, mặt đất thỉnh thoảng lại run lên bần bật theo từng nhịp thở nặng nhọc của con thú dưới tầng sâu. Thứ mùi bùn tanh tưởi quyện với mùi xạ hương của loài nhím xộc thẳng vào mũi, khiến cổ họng tôi nhộn nhạo từng cơn buồn nôn.

Nhưng tôi không hướng về cửa hầm ngầm. Mục tiêu của tôi là gian chòi cất giữ dược liệu quý nằm nép mình bên góc tường hồi, sát vách nhà tang lễ cũ.

Nơi đó Bạch lão y luôn khóa ba tầng then sắt, chìa khóa luôn giắt chặt bên dải lưng quần. Cả đời làm đệ tử, tôi chỉ được phép đứng ngoài bưng bê thảo dược tươi vào sấy, tuyệt đối không được bước chân qua bậc cửa gỗ lim đóng đinh đồng. Bình thường, tôi tôn kính coi đó là nơi cất giữ bí phương gia truyền của dòng họ Bạch. Đêm nay, khi lớp mặt nạ thánh thiện bị bóc trần, nơi ấy chỉ còn là hang ổ chứa chấp những bí mật dơ bẩn nhất.

Tôi rút từ trong túi áo ra một thanh sắt dẹp dùng để nạo rễ cây ba kích. Đứng nép dưới mái hiên nhỏ giọt gian chòi, tôi nín thở, lắng tai nghe ngóng động tĩnh từ gian nhà chính. Tiếng ngáy mệt nhọc của Bạch lão y cách một khoảng sân rộng vẫn chìm nghỉm dưới tiếng sấm rền xa xa phía sông Hồng. Tôi tra đầu sắt vào ổ khóa đồng chữ U đã hoen rỉ men xanh, vận sức bấm mạnh chốt lẫy bên trong theo phương pháp mở khóa hàm ếch mà những gã phu bốc vác từng chỉ cho tôi ngày trước.

Một tiếng "tách" khô khốc vang lên giữa tiếng mưa rơi. Chiếc khóa đồng bung ra.

Tôi đẩy nhẹ cánh cửa gỗ, lách mình bước vào trong rồi khép chặt then cài phía sau.

Không gian bên trong tối om và ngột ngạt. Tôi vặn nhỏ bấc đèn bão xuống mức thấp nhất, chỉ để hé một tia sáng vàng vọt vừa đủ soi rõ dưới chân. Gian phòng sực nức mùi quế chi, xạ hương, lưu huỳnh và mùi nấm mốc lâu năm của những bồ thuốc xếp cao sát trần nhà. Hàng chục ngăn tủ con bằng gỗ hương đóng kín mít, bên ngoài dán những mẩu giấy trang kim ghi tên các loại dược liệu chí âm: ô đầu, mã tiền, huyết giác, thạch tín.

Ở giữa gian phòng là chiếc bàn viết bằng gỗ mun đen bóng, trên mặt bàn bày nghiên mực đá Đoan Khê đã cạn khô và một quản bút lông thỏ bạc màu. Tôi tiến lại gần chiếc bàn, bắt đầu rà soát từng hộc tủ. Hai ngăn kéo trên cùng chỉ chứa các bản chép tay về kinh mạch ngũ hành và những bức họa đồ Thập Tam Châm bằng mực tàu đã ố vàng. Không có gì bất thường.

Tôi ngồi thụp xuống gầm bàn, đưa tay gõ nhẹ vào từng thớ gỗ mun của phần bệ đỡ.

Đến góc bên phải, tiếng gõ phát ra thanh âm rỗng tuếch, khác hẳn sự đặc chắc của phần còn lại. Mắt tôi sáng lên. Tôi dùng đầu ngón tay miết dọc theo đường gờ chạm hoa văn mây cuộn, lập tức phát hiện một chiếc then ngầm bằng đồng thau nhỏ bằng hạt đậu đen nằm ẩn sau lớp chạm trổ. Tôi ấn mạnh chiếc then.

Một tấm ván gỗ trượt sang bên, để lộ ra một hộc bí mật sâu hun hút được lót vải dầu chống ẩm.

Bên trong hộc gỗ không có vàng bạc hay châu báu. Nằm trơ trọi ở đó là một cuốn sổ bọc bằng da cừu nâu sẫm, mép da đã sờn rách, nẹp góc bằng bốn miếng đồng chạm nổi hình đầu thú răng nanh nhọn hoắt. Bìa sổ không đề tên sách thuốc, chỉ có một vệt mực đỏ vẽ hình chiếc gai nhím cắm thẳng vào tim một hình nhân nhỏ bé.

Tay tôi run lên bần bật khi nhấc cuốn sổ da ra khỏi hộc tối. Lớp da cừu lạnh ngắt, trơn nhẫy như da rắn nước. Tôi đặt cuốn sổ lên mặt bàn, ghé sát chiếc đèn bão vào từng trang giấy dó ngả màu vàng đục.

Trang đầu tiên mở ra, đập vào mắt tôi là nét chữ sắc sảo nhưng run rẩy của chính Bạch lão y. Từng dòng chữ viết bằng mực tàu đen nhánh xen lẫn mực son đỏ chói, ghi lại niên biểu từ ba mươi năm trước, thời điểm ông chính thức tiếp quản Bạch Gia Y Quán từ tay thân phụ.

*Năm Đinh Mùi (1907), tháng Bảy. Cứu con trai Tuần phủ Hà Đông thoát chứng bạo tử oán hồn. Bạch Tiên rụng chiếc gai thứ nhất, sắc tím đen thấu tủy. Dùng một tên tù khổ sai ngoại thành mắc chứng phong điên thế mạng. Máu người tẩy uế bảy ngày bảy đêm, gai trở lại màu trắng ngà. Tên tù kiệt huyết mà chết.*

*Năm Canh Tuất (1910), tháng Giêng. Dịch đậu mùa bùng phát bến Phà Đen. Rút gai thứ hai cứu ái nữ tri huyện Thọ Xương. Tẩy gai bằng một người đàn bà góa không nơi nương tựa trúng độc nấm rừng. Người chết sau ba mũi châm.*

*Năm Quý Hợi (1923), tháng Mười một...*

Từng dòng, từng trang lật qua dưới ngón tay tôi như những bản án tử hình rợn người.

Một danh sách dài dằng dặc những cái tên vô danh, những thân phận hèn mọn nơi đáy cùng xã hội: phu bốc vác bến Long Biên, người bán rong chết đói ven chợ Cửa Nam, phu xe kéo không gia đình sốt rét ác tính ngã quỵ bên gốc đa Hàng Bút. Tất cả bọn họ, khi bước chân vào cửa ngõ Bạch Gia Y Quán trong cơn thập tử nhất sinh, đều tưởng rằng mình đã gặp được vị Bồ Tát sống cứu vớt cuộc đời khốn khổ.

Nhưng họ không hề biết, những chén thuốc bổ hồi sinh mà Bạch lão y ban cho chỉ là thứ mồi nhử nuôi dưỡng huyết khí của họ cho căng tràn, để rồi trong đêm tối, những chiếc gai nhím nhiễm đầy oán khí của Bạch Tiên sẽ cắm thẳng vào các đại huyệt của họ, hút cạn sinh lực và sinh mạng của họ nhằm thanh tẩy lớp độc tố cho linh thú.

Mỗi cái tên trong sổ đều có một dấu mực son đỏ chót đóng đè lên chữ "Hóa", biểu thị cho một sinh mạng đã bị chôn vùi không dấu vết dưới bãi tha ma Phúc Xá.

Tôi lật tiếp, lật tiếp, từng trang giấy dó dầy cộp kêu sột soạt giữa đêm khuya thanh vắng như tiếng rên xiết của hàng chục oan hồn vây quanh gian chòi. Sự kinh hoàng bóp nghẹt lồng ngực tôi. Tôi tự hỏi năm năm trước, khi mẹ tôi nằm hấp hối trên giường bệnh, nếu như lúc đó không có một kẻ tha phương nào khác tình cờ gục ngã trước cửa hiệu thuốc để làm vật thế mạng, liệu mẹ tôi có trở thành một dòng tên bị gạch đỏ trong cuốn sổ giết người này hay không?

Hay chính bản thân tôi, việc tôi được nhận làm đệ tử chân truyền, được dạy dỗ Thập Tam Châm, có thực sự là vì lòng trắc ẩn của sư phụ, hay chỉ vì ông cần một kẻ kế thừa mang ơn sâu nặng để tiếp tục cái guồng quay hút máu người này khi lồng ngực ông đã thối rữa vì độc phản phệ?

Đến những trang cuối cùng, nét mực son còn rất mới, mới đến mức dường như chỉ vừa ráo nước vài tuần trước.

Trang giấy ghi rõ:

*Năm Ất Hợi (1935), tháng Tám. Chiếc gai thứ mười hai nhiễm độc tột cùng sau vụ cứu viên thanh tra người Pháp trúng bùa ngải chốn thượng du. Oán khí ngút trời, Bạch Tiên phát cuồng suýt cắn đứt xích sắt. Cần gấp một mạng tráng niên khí huyết dồi dào.*

Bên dưới dòng chữ ấy là cái tên của người phu xe kéo nằm ngoài phòng châm cứu:

*Trần Văn Tuất, 28 tuổi, quê Nam Định, phu xe bến Cửa Nam. Đã tẩy uế thành công vào giờ Tý đêm qua. Gai thứ mười hai phục hồi bạch ngọc.*

Bên cạnh tên người phu xe là một dấu gạch chéo bằng mực đen đậm, lạnh lùng khép lại một kiếp người ngắn ngủi.

Mắt tôi cay xè, những dòng chữ nhòe đi sau làn nước mắt uất nghẹn. Tôi đưa tay chuẩn bị khép cuốn sổ lại để đem giấu đi làm bằng chứng đưa ra tòa án bảo hộ, nhưng ánh đèn bão bỗng rọi xuống dòng chữ cuối cùng nằm trơ trọi ở đầu trang tiếp theo.

Trang giấy trắng tinh mới tinh, chỉ có duy nhất một dòng mực son đỏ tươi, nét chữ còn sắc lẻm, mới được Bạch lão y viết thêm vào chập tối nay, trước khi tôi phát hiện ra ba chiếc gai nhím trong hộp gấm.

Dòng chữ ấy như một tia sét đánh thẳng vào đỉnh đầu tôi, làm toàn thân tôi chết lặng, máu trong huyết quản đông cứng lại:

*Dự trù: Tháng Tám, ngày mười sáu. Chiếc gai thứ mười ba đang rỉ máu đen, ấn phong lung lay tột độ. Vật tế định sẵn: Bác Tám Đinh, 54 tuổi, phu xe bến Chợ Hôm. Trúng phong hàn nhập lý, nội tạng suy kiệt nhưng tâm hỏa còn mạnh, thích hợp làm vật dẫn độc cho chiếc gai hộ mệnh cuối cùng.*

Tôi há hốc miệng, hơi thở nghẽn lại nơi cuống họng, không thể thốt ra thành tiếng.

Bác Tám Đinh.

Cái tên ấy đập vào mắt tôi như một vết chém rỉ máu. Làm sao tôi có thể quên được người đàn ông gầy gò, lưng còng rạp vì kéo xe ba gác suốt ba mươi năm qua trên những con phố lầy lội của Hà Nội? Mười năm trước, khi cha tôi qua đời vì bom đạn loạn lạc, mẹ dắt díu tôi từ ngoại thành dạt vào bãi Phúc Xá nương thân, chính bác Tám Đinh là người đã nhường nửa gian nhà lá dột nát cho hai mẹ con tôi tá túc qua những đêm đông cắt da cắt thịt.

Chính bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương gió của người đàn ông ấy đã từng nhét vào túi tôi từng củ khoai nướng nóng hổi, từng bát cháo hoa loãng mỗi khi mẹ tôi lên cơn sốt run rẩy. Những đồng tiền kẽm kiếm được từ những cuốc xe mồ hôi nước mắt ở bến Chợ Hôm, bác vẫn thường giấm giúi cho tôi mua giấy mực đi học chữ Tây.

Đối với tôi, bác Tám Đinh không chỉ là một người hàng xóm nghèo khổ, mà là ân nhân, là người thân ruột thịt duy nhất ngoài người mẹ già đang mòn mỏi ngóng trông tôi ở túp lều ven sông.

Sáng hôm qua, chính tôi là người đã bắt mạch cho bác Tám Đinh khi bác ho sù sụ dắt chiếc xe kéo ọp ẹp qua cửa hiệu Bạch Gia Y Quán. Khi ấy, tôi thấy mạch tượng của bác trầm trì, khí huyết ứ trệ do dầm mưa nhiều ngày, liền ngỏ ý bốc cho bác mấy thang thuốc tán hàn. Nhưng Bạch lão y từ trong buồng bước ra, liếc nhìn sắc mặt xám xịt của bác Tám Đinh, rồi bằng một giọng điệu từ bi vô lượng hiếm thấy, ông bảo bác hãy về nghỉ ngơi, hẹn đến tối mai trở lại y quán, đích thân ông sẽ dùng Thập Tam Châm trục hàn miễn phí cho bác.

Lúc đó, tôi còn ngây thơ cảm tạ sư phụ vì tấm lòng bồ tát thương xót kẻ nghèo hèn. Bác Tám Đinh còn rưng rưng nước mắt, cúi đầu lạy tạ Bạch lão y như lạy một vị thánh sống.

Hóa ra, tất cả chỉ là một cái bẫy chết người được giăng ra một cách tỉ mỉ và tàn nhẫn.

Sư phụ tôi không hề có ý định cứu bác. Ông chọn bác Tám Đinh làm con mồi tiếp theo chỉ vì bác là một kẻ cô độc, không vợ không con, cả đời vùi mặt trên chiếc xe kéo, một kẻ nếu có chết bờ chết bụi ngoài đường cũng chẳng có ai bận tâm tìm kiếm hay đòi công lý. Ông dùng sự tin tưởng tuyệt đối của tôi và bác để biến bác thành vật tế sống, hút cạn tà khí của chiếc gai thứ mười ba - chiếc gai nguy hiểm nhất, chiếc gai mang tính quyết định sự tồn vong của phong ấn Bạch Tiên.

Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng tôi, biến thành nỗi phẫn nộ bùng cháy dữ dội trong từng thớ thịt.

Chữ hiếu? Ơn cứu mạng mẹ già? Lời thề giữ gìn bí mật gia tộc họ Bạch?

Tất cả những thứ xiềng xích đạo đức giả tạo mà Bạch lão y tròng vào cổ tôi suốt năm năm qua bỗng chốc đứt phựt thành từng đoạn vụn. Những lời ngụy biện cao siêu về việc "hy sinh một kẻ cùng đinh để cứu vạn sinh linh" giờ đây trơ trẽn đến mức nực cười. Nếu để bảo vệ sự bình yên của đất kinh kỳ mà phải dẫm đạp lên mạng sống của người từng cứu đói mình, phải tận mắt nhìn ân nhân bị ghim những chiếc gai nhím quỷ quyệt vào tử huyệt mà chết trong đau đớn cùng cực, thì cái sự bình yên đó chỉ là một sự dối trá tanh tưởi, không đáng để tồn tại.

Tôi siết chặt hai bàn tay, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến bật máu, nhỏ từng giọt xuống mặt giấy dó loang lổ mực son.

Tôi không thể chạy đi báo mật thám. Bọn cảnh sát Pháp chỉ quan tâm đến việc trị an và thu thuế, chúng sẽ không bao giờ tin vào chuyện Bạch Tiên hay những chiếc gai nhím hút tà khí. Nếu chúng ập đến bắt Bạch lão y, phong ấn dưới vườn dược thảo không người trấn giữ sẽ lập tức nứt toác, thảm họa sẽ giáng xuống đầu tiên chính là mẹ tôi và những người nghèo khổ ở bãi Phúc Xá.

Tôi cũng không thể khuyên can sư phụ. Sự lạnh lùng tàn nhẫn trong ánh mắt ông đêm qua đã chứng minh rằng ông sẵn sàng bẻ gãy cổ bất cứ kẻ nào cản đường huyết thệ ba đời nhà họ Bạch.

Chỉ có một con đường duy nhất.

Tôi gấp cuốn sổ da cừu lại, cẩn thận nhét nó trở lại hộc bí mật dưới gầm bàn mun, đóng chốt ngầm và khép tấm ván gỗ lại y như cũ. Tôi lau sạch vệt máu của mình trên mặt bàn, vặn tắt bấc đèn bão, lách mình bước ra khỏi gian chòi dược liệu.

Mưa ngoài vườn vẫn xối xả rơi, gầm rú trên những rặng tre ngà. Tôi đứng trong màn mưa đen kịt, nhìn về phía gian phòng châm cứu cổ kính, nơi bộ kim đồng nghìn năm và chiếc hộp gấm chứa những mũi gai nhím đang nằm chờ đợi đêm mai.

Kế hoạch bắt đầu thành hình trong đầu tôi, rõ ràng và lạnh buốt như một mũi dao găm.

Tối mai, khi bác Tám Đinh bước vào cánh cửa Bạch Gia Y Quán, tôi sẽ là người đứng bên cạnh phụ tá cho sư phụ. Tôi sẽ dùng chính những ngón nghề châm cứu mà Bạch lão y đã truyền dạy suốt năm năm qua để đánh tráo chiếc gai nhím nhiễm độc bằng một chiếc kim bạc thông thường trước khi mũi châm oan nghiệt giáng xuống tử huyệt của ân nhân.

Một canh bạc đánh đổi bằng chính tính mạng của tôi, nhưng vết nứt đạo đức trong lòng tôi đã không còn cách nào hàn gắn lại được nữa. Tôi quay người bước nhanh qua màn mưa dầm, chuẩn bị cho đêm định mệnh sắp sửa bắt đầu.

Chương khác

Xem thêm