Bách Túc Cổ Thuật - Chương 11: Vết Bầm Đỏ Đối Xứng Như Chân Rết
Cần gạt nước trên kính chắn gió xe tôi đập qua đập lại hết công suất, phát ra những tiếng ken két khô khốc giữa màn mưa trắng trời. Con đường liên xã dẫn…
Nội dung chương
Cần gạt nước trên kính chắn gió xe tôi đập qua đập lại hết công suất, phát ra những tiếng ken két khô khốc giữa màn mưa trắng trời.
Con đường liên xã dẫn vào làng nghề Phù Khê ngập ngụa trong thứ nước bùn màu gạch non, đặc quánh mạt cưa và dăm bào trôi nổi từ các xưởng mộc ven đường. Đèn pha xe rọi vào bóng đêm, chỉ thấy những mái tôn xưởng gỗ u ám nằm san sát, im lìm như những nấm mồ tập thể khổng lồ. Mùi ngai ngái của mùn cưa mục hòa lẫn với mùi ẩm mốc bốc lên từ lòng đất khiến không khí trong khoang lái trở nên ngột ngạt, dù tôi đã bật thông gió ngoài.
Tôi nhìn xuống đôi bàn tay mình đang siết chặt vô lăng. Các đầu ngón tay tôi vẫn còn đỏ rát vì cồn sát trùng, nhưng cảm giác trơn nhớt kinh tởm từ thứ dịch đen trong vết rạch lưng của Toán vẫn đọng lại trên từng đường vân da.
Lưỡi dao phẫu thuật bằng thép carbon số mười một - thứ vũ khí chuẩn xác nhất mà tôi tự hào suốt mười năm hành nghề - đã hoàn toàn bại trận. Khi mũi dao rạch vào mô liên kết để tách ấu trùng, hệ thần kinh của bệnh nhân lập tức sụp đổ. Những cái chân rết màu tím bầm đó không đơn thuần bám vào da thịt; chúng đã bện chặt vào các rễ thần kinh vận động, biến cơ thể vật chủ thành một phần sinh mạng của chúng. Cắt đứt chân rết cũng đồng nghĩa với việc thắt đứt tủy sống của con người.
Chiếc xe bán tải chồm qua một ổ gà ngập nước rồi phanh gấp trước cổng rào tre nhà ông Sáu Tía.
Khu trại gà nòi của ông lão bảy mươi hai tuổi nằm lọt thỏm giữa một vườn chuối rậm rạp, cách trạm y tế xã một đoạn mương dẫn nước. Dưới ánh đèn dầu leo lét hắt ra từ hiên nhà ngói ba gian, hàng chục chiếc bội úp gà bằng tre đan được che chắn sơ sài bằng bao tải dứa. Mưa xối xả đập xuống mặt lá chuối, phát ra những tràng âm thanh rền rĩ, nặng nề.
Tôi xách chiếc hộp kim loại bảo quản mẫu bệnh phẩm, đẩy cánh cổng tre bước vào.
Tiếng bước chân giẫm trên nền đất nhão nhoét của tôi lập tức đánh thức bầy gia cầm. Hàng chục con gà nòi trong các bội đồng loạt cử động, vỗ cánh phành phạch vào nan tre. Nhưng lạ lùng thay, chúng không hề cất tiếng gáy báo động. Những cổ họng của bầy gà chiến chỉ phát ra những tiếng gừ gừ trầm đục, nghẹn ứ nơi cuống họng, giống như một nỗi khiếp đảm tột cùng đang đè nặng lên bầy súc vật.
"Vào nhà đi, đừng đứng dưới luồng gió độc."
Giọng ông Sáu Tía vang lên từ bậu cửa. Ông lão ngồi xếp bằng trên một tấm phản gỗ gụ đã mòn vẹt bốn góc. Trên người ông khoác chiếc áo cánh màu nâu sồng đẫm mùi khói bếp, khuôn mặt già nua chằng chịt nếp nhăn như vỏ cây xà cừ cổ thụ.
Ngay cạnh chân ông lão, hai chiếc lồng sắt hình bán nguyệt được đan bằng dây kẽm gai dày đặc đang nhốt hai sinh vật dị thường.
Bên trái là một con gà nòi lông màu chuối khô, đôi chân chì khô đét, nổi vảy vuông vức như vảy rồng. Điểm quái dị nhất của nó nằm ở đôi mắt: tròng mắt bên phải hướng thẳng về phía trước, tròng mắt bên trái lại lộn ngược lên trên đỉnh đầu, đờ đẫn và đỏ quạch như một hạt đậu huyết. Đó là giống gà mắt lác trứ danh mà giới chơi gà chọi vùng Kinh Bắc thường truyền tai nhau, loài chim có khả năng nhìn thấu những chuyển động vi mô trong bóng tối.
Còn ở chiếc lồng bên phải, con vật bên trong khiến sống lưng tôi lạnh toát.
Đó là một con gà mặt quỷ đen tuyền từ đầu đến chân. Bộ lông đen bóng không một sợi tạp, cặp mỏ đen, móng vuốt đen, và toàn bộ lớp da mặt nhăn nheo, sần sùi từng cục u thịt màu tím sẫm, trông như gương mặt của một xác chết bị thiêu dở. Hai lỗ mũi của nó phập phồng liên tục, đôi mắt nhỏ ti hí đen nhánh nhìn chằm chằm vào chiếc hộp kim loại tôi đang cầm trên tay.
"Bác sĩ đem thứ dơ bẩn đó về đây rồi phải không?" Ông Sáu Tía không ngẩng đầu lên, tay cầm chiếc đóm nứa châm vào mồi thuốc lào.
Tiếng rít thuốc lào vang lên sòng sọc, kéo theo một làn khói trắng cay xè phả ra khoảng không gian ẩm ướt của gian nhà.
Tôi đặt chiếc hộp inox lên góc chiếc bàn con, kéo chiếc ghế đẩu ngồi đối diện với ông lão. "Bệnh nhân bắt đầu suy hô hấp, co giật toàn thân. Tôi đã rạch mở khoang cạnh sống của thằng Toán. Cấu trúc giải phẫu bên dưới lớp mỡ hoàn toàn biến dạng. Các nhánh chân của ấu trùng ăn sâu vào tủy sống ngực, hình thành mạng lưới liên kết với sợi trục thần kinh. Tôi buộc phải khâu đóng vết mổ. Nếu tiếp tục cắt bỏ cơ học, bệnh nhân sẽ ngừng tim ngay tại chỗ."
Ông Sáu Tía nhả một ngụm khói mỏng qua kẽ răng vàng ố, khẽ lắc đầu. "Tôi đã nói từ lúc chiều ở trạm xá rồi. Con dao mổ của cậu làm bằng sắt nguội phương Tây, nó chỉ cắt được thịt sống của người trần, không cắt được nghiệp chướng của người chết. Càng rạch, ngải càng ăn sâu. Mở cái hộp đó ra cho tôi xem."
Tôi mở chốt khóa kim loại. Nắp hộp bật lên với một tiếng cạch khô khốc.
Bên trong là một đĩa petri bằng thủy tinh chứa mẫu mô sinh thiết tôi lén cắt lấy từ một góc chân rết mọc ngoài rìa cơ lưng của Toán trước khi đóng chỉ. Miếng thịt bầm tím cỡ đầu ngón tay cái được ngâm trong dung dịch muối sinh lý bảo quản lạnh.
Nhưng thứ bên trong đĩa petri lúc này không còn nằm yên.
Dung dịch muối sinh lý đã chuyển sang màu đỏ đục nhờ nhờ. Từ rìa của miếng thịt hoại tử, một đoạn thân dài chừng hai đốt ngón tay, mỏng như sợi cước màu đỏ thẫm, đang uốn éo chậm chạp. Nó có những chiếc chân con tua tủa nhấp nhô dọc hai bên thân. Đầu của nó găm chặt vào thớ thịt người, hút lấy những giọt huyết tương cuối cùng để duy trì sự sống.
Vừa ngửi thấy mùi tanh bốc ra từ miệng đĩa petri, hai con gà chiến của ông Sáu Tía lập tức phản ứng cuồng loạn.
Con gà mắt lác vươn dài chiếc cổ trần trụi, con ngươi dị tật đảo tròn điên cuồng rồi khóa chặt vào sinh vật trong đĩa. Toàn bộ lông cổ của nó dựng đứng lên như một vành gai thép. Trong khi đó, con gà mặt quỷ phát ra một tiếng rít the thé, chói gắt qua kẽ mỏ. Nó đập mạnh đôi cánh đen nhánh vào vách sắt của chiếc lồng, mười móng vuốt cào rách toạc lớp gỗ lót đáy chuồng.
"Đưa chiếc đĩa lại gần đây," ông Sáu Tía trầm giọng ra lệnh, tay kéo chốt mở cửa lồng con gà mắt lác.
Tôi thận trọng dùng kẹp phẫu thuật nâng đĩa petri lên, đặt xuống nền đất nện ngay trước cửa lồng.
Xoẹt!
Một bóng đen phóng vọt ra nhanh như chớp giật. Con gà mắt lác lao thẳng tới chiếc đĩa thủy tinh. Chiếc mỏ nhọn hoắt bằng sừng đen của nó mổ xuống với tốc độ kinh hồn, chính xác tuyệt đối vào ngay đốt thân giữa của con ấu trùng đỏ quạch.
Choang!
Đĩa petri vỡ toang làm đôi dưới lực mổ của con gà chiến. Con ấu trùng bị chiếc mỏ kẹp chặt, quằn quại dữ dội, hai chiếc càng trước màu đen nhánh cào lia lịa vào lớp da sừng quanh mỏ gà. Một giọt dịch màu nâu đen từ thân con trùng bắn ra, rớt xuống nền đất nện.
Xèo... xèo...
Một luồng khói xám nhạt bốc lên cùng tiếng sôi xèo xèo ghê rợn. Đất nện ẩm ướt lập tức bị ăn mòn thành một lỗ thủng nhỏ cỡ hạt ngô, sủi bọt khí nồng nặc mùi lưu huỳnh và rễ cây thối rữa.
Con gà mắt lác không nuốt con mồi. Nó lắc mạnh đầu sang hai bên, quật nát thân con rết xuống nền đất rồi dùng hai móng vuốt sắc nhọn dẫm nát bấy phần đầu có chứa hai chiếc kìm độc. Đoạn thân đứt lìa của ấu trùng giãy giụa thêm vài giây rồi co quắp lại, chuyển dần từ màu đỏ thẫm sang màu xám xịt như tro tàn.
Con gà thở phì phò qua hai lỗ mũi, lùi lại ba bước, giũ mạnh bộ lông đầy cảnh giác.
Tôi đứng bật dậy, toàn bộ giác quan căng lên như dây đàn. Với tư cách là một bác sĩ giải phẫu bệnh học, tôi chưa từng chứng kiến bất kỳ loài ký sinh trùng nào sở hữu nọc dịch có tính acid mạnh đến mức ăn mòn khoáng chất trong đất ngay lập tức như vậy. Độc tố của các loài rết thông thường như Scolopendra subspinipes chỉ chứa serotonin, histamine và phospholipase A2 gây sưng nề, hoại tử mô mềm cục bộ, hoàn toàn không thể bốc khói hay sinh nhiệt khi tiếp xúc với không khí.
"Cậu thấy rồi chứ?" Ông Sáu Tía dùng que củi cời lại tàn thuốc trong điếu cày, mắt nhìn chăm chú vào vũng dịch đang bốc khói đen trên nền đất. "Sinh vật này không sinh ra từ tự nhiên. Không có con trùng nào ngoài tự nhiên mang thứ nọc độc ăn mòn xương cốt người sống như thế này cả."
"Đây là độc tố sinh học gì?" Tôi gặng hỏi, giọng run lên vì căng thẳng. "Mẫu gen của nó... cơ chế ký sinh của nó... hoàn toàn đi ngược lại mọi tài liệu ký sinh trùng học hiện đại."
"Bởi vì nó được nuôi bằng tà thuật," ông lão ngẩng mặt lên, đôi mắt mờ đục nhìn thẳng vào tôi qua màn khói bếp. "Nó là Bách Túc Cổ. Một loại ngải rết giữ mả của người Thượng trên vùng rừng sâu Tây Nguyên."
Tôi sững người. Hai chữ "Tây Nguyên" vang lên giữa căn nhà cổ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nghe xa lạ và phi lý đến nghẹt thở.
"Phù Khê là đất chạm khắc gỗ cổ đất Bắc," tôi nói, cố gắng kéo sợi dây logic thực tế lại. "Mấy cỗ ván thôi này được đám thợ mộc mò lên từ lòng bùn đầm lầy sông Cầu. Làm sao một thuật yểm từ cao nguyên miền Trung lại có mặt trong lòng đất Bắc Ninh?"
Ông Sáu Tía cười khẩy, nụ cười làm những nếp nhăn quanh khóe mắt xô lại như một mạng nhện chằng chịt.
"Cậu chỉ biết nhìn vào thớ gỗ dưới kính lúp, cậu không biết lịch sử đen tối của cái làng này một trăm năm trước," ông lão hạ thấp giọng, tiếng nói lẫn vào tiếng sấm ì ầm vọng lại từ phía chân trời xa. "Cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi, thời Pháp thuộc, đất này có một bang chủ phường buôn gỗ tên là Trần Bá Đạt. Lão Đạt gom tiền sang tận vùng cao nguyên Pleiku, Kon Tum để khai thác gỗ quý mang về Bắc bán cho quan lại triều đình và thương nhân Pháp. Cậu có biết lão làm giàu bằng cách nào nhanh nhất không?"
Tôi im lặng, chờ đợi lời giải thích.
"Lão không chỉ đốn gỗ rừng," ông Sáu Tía gằn từng tiếng. "Lão Đạt đào trộm mả cổ của các tù trưởng rơm, cướp đoạt tượng nhà mồ, xẻ trộm những cỗ quan tài bằng gỗ cà te, cẩm lai ngàn năm tuổi của các bộ tộc thiểu số mang về xuôi. Trong một chuyến cướp mả của một dòng họ thầy mo người Ba Na ở vùng rừng giáp ranh Chư Mom Ray, lão Đạt đã đào trúng một khu mộ đá cấm kỵ. Người trong bản nguyền rủa lão, nhưng lão cậy có súng đạn của lính khố xanh nên đã cướp đi cỗ quan tài độc mộc bằng gỗ trắc đen bóng bẩy của vị tù trưởng cổ đại."
Bàn tay tôi vô thức siết chặt mép bàn. "Và cỗ quan tài đó bị yểm Bách Túc Cổ?"
"Đúng vậy," ông Sáu Tía gật đầu, ánh mắt lộ rõ sự sợ hãi cổ xưa. "Thầy mo của bộ tộc đó đã dùng thuật Bách Túc Cổ để giữ mả. Họ bắt hàng vạn con rết rừng độc nhất, nhốt chung vào một cái chum đồng chôn dưới gốc cây pơ-mu trăm tuổi. Lũ rết cắn xé, ăn thịt lẫn nhau suốt bảy bảy bốn mươi chín ngày. Con rết sống sót cuối cùng là Trùng Chúa. Thầy mo lấy nọc của Trùng Chúa, hòa với máu người chết và nhựa cây độc, bôi kín toàn bộ bề mặt và các khe nứt của cỗ ván quan tài. Trứng của loài rết ngải này siêu nhỏ, được tinh dầu gỗ trắc ướp kín, rơi vào trạng thái ngủ đông vĩnh viễn trong điều kiện yếm khí."
"Một dạng bào tử ngủ đông," tôi buột miệng lẩm bẩm theo thuật ngữ bệnh học. "Giống như bào tử vi khuẩn than Clostridium botulinum, chúng có thể tồn tại hàng thế kỷ dưới bùn lầy nếu không có oxy và nhiệt độ thích hợp."
"Sau khi chở cỗ quan tài về tới đất Phù Khê, chưa kịp xẻ gỗ làm đồ thì cả nhà lão Đạt phát điên," ông Sáu Tía tiếp tục, giọng lạnh buốt như gió mưa tạt qua khe liếp. "Cả mười hai miệng ăn trong nhà lão Đạt bỗng nhiên thèm ăn thịt sống. Lưng bọn họ mọc lên những vệt bầm đen sì hình chân rết. Ban đêm, họ trườn bò dưới gầm giường, cào cấu da thịt đến lòi cả xương sống. Chỉ trong vòng nửa tháng, từng người một chết thảm trong trạng thái tủy sống bị cắn nát bấy từ bên trong. Dân làng khi đó kinh hãi quá, không ai dám giữ lại cỗ gỗ nguyền rủa ấy. Người ta đóng đinh cỗ quan tài lại, xích bằng xích sắt rồi dìm sâu xuống đáy bùn lầy đầm nước sông Cầu để phong ấn tà khí."
Lồng ngực tôi thắt lại khi các mảnh ghép dữ liệu bắt đầu khớp nối vào nhau một cách tàn nhẫn.
"Một trăm năm sau, nhóm thợ mộc của gã Thắng và thằng Toán mò được cỗ ván thôi đó dưới bùn," tôi nói, cảm giác buồn nôn trào lên cổ họng. "Bùn lầy sông Cầu đã giữ cho trứng rết không bị oxy hóa suốt một thế kỷ. Họ trục vớt lên, mang vào xưởng dùng cưa máy xẻ tung những thớ gỗ trắc ra. Bụi gỗ mang theo hàng triệu bào tử trứng rết phân tán vào không khí xưởng mộc."
"Và đám thợ mộc hít phải thứ bụi đó," ông Sáu Tía tiếp lời. "Chúng bám vào da thịt, bám vào phổi, đi vào đường máu của những kẻ chạm tay vào. Nhưng thứ kích hoạt chúng thức tỉnh không phải là nước mưa thông thường."
"Là môi trường máy lạnh," tôi ngắt lời ông cụ, giọng đanh lại. "Hơi lạnh nhân tạo từ điều hòa và máy tạo ẩm trong những ngôi nhà hiện đại. Khí hậu vùng rừng núi Tây Nguyên về đêm rất lạnh và ẩm ướt sương mù. Môi trường trong căn penthouse của Trần Hùng hay phòng kín xưởng mộc chính là điều kiện mô phỏng hoàn hảo vùng khí hậu nguyên thủy nơi loài ký sinh này sinh ra. Hơi lạnh kích thích ấu trùng phá vỡ lớp vỏ bọc tinh dầu gỗ, chui vào lỗ chân lông và các mao mạch thần kinh của vật chủ."
Con gà mặt quỷ trong chiếc lồng sắt lại phát ra một tiếng đập cánh phành phạch dữ dội. Lần này, chiếc mỏ đen của nó chúi thẳng xuống đất, phát ra những tiếng cục cục gấp gáp như đếm từng nhịp gõ của đồng hồ định mệnh.
Tôi quay sang nhìn ông Sáu Tía. "Bệnh nhân của tôi còn bao nhiêu thời gian?"
Ông lão không trả lời ngay. Ông với tay nhặt chiếc lông đuôi màu đen nhánh của con gà mặt quỷ bị rụng dưới sàn, đặt lên mặt bàn trước mặt tôi. Đầu chiếc lông gà đã bị tước làm ba phần nhọn hoắt.
"Hôm nay là ngày thứ tư kể từ khi xưởng mộc xẻ ván," ông Sáu Tía nhìn thẳng vào mắt tôi, từng chữ thốt ra như một bản án tử hình không thể kháng cáo. "Ba ngày. Cậu chỉ còn đúng ba ngày nữa thôi, bác sĩ Khoa."
Căn phòng ngập trong một khoảng lặng chết chóc, chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp liên hồi trên mái ngói rêu phong.
"Ba ngày nữa sẽ xảy ra chuyện gì?" Tôi hỏi, giọng khô khốc.
"Đêm rằm tháng bảy, đỉnh điểm của mùa mưa bất thường này," ông lão chỉ tay vào vết bầm đen sì trên đầu chiếc lông gà. "Đó là thời điểm chu kỳ sinh trưởng của Bách Túc Cổ hoàn tất. Ấu trùng ký sinh dưới da dọc sống lưng sẽ bước vào giai đoạn lột xác cuối cùng. Khi chúng hóa thành trùng trưởng thành, chúng sẽ không còn cần chất dinh dưỡng từ tủy sống nữa. Chúng sẽ cắn đứt toàn bộ hệ thần kinh trung ương, xé toang cột sống của vật chủ từ bên trong để bò ra ngoài tìm kiếm hơi ẩm."
Mô phỏng giải phẫu học hiện lên rõ mồn một trong tâm thức tôi: hàng trăm đốt xương sống bị bẻ gãy từ bên trong, màng cứng tủy gai rách toạc, các rễ thần kinh vận động bị cắn đứt vụn, lồng ngực và khoang bụng bị xuyên thủng bởi hàng vạn ấu trùng trưởng thành. Đó không phải là cái chết lâm sàng đơn thuần; đó là một vụ nổ hủy diệt toàn bộ cấu trúc cơ thể sinh học của con người.
Bốn người. Thằng Toán, thằng Thắng, thằng Vĩnh đang nằm co quắp ở phòng áp lực âm, và cả doanh nhân Trần Hùng trong căn phòng biệt lập. Hàng vạn sinh vật cổ đại đang ngấu nghiến từng milimet tế bào thần kinh của họ từng giây từng phút.
Tôi cúi nhìn đôi bàn tay mình một lần nữa. Y học hiện đại với máy thở, thuốc kháng sinh, huyết thanh giải độc và dao mổ vi phẫu đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa trước thứ ngải thuật tàn khốc kéo dài hàng thế kỷ này. Tôi không thể dùng phương pháp của người sống để giải quyết món nợ máu của kẻ chết.
"Có cách nào phá giải không?" Tôi hỏi, giọng dứt khoát, gạt bỏ mọi sự hoài nghi của một người làm khoa học sang một bên. "Nếu nó là tà thuật của người Ba Na Tây Nguyên, ắt phải có phương thức khắc chế. Ông biết cách cứu bọn họ, đúng không?"
Ông Sáu Tía thở dài một hơi thật nặng nhọc. Ông đứng dậy, bước đến bên góc nhà, nhấc tấm bạt rách phủ trên một chiếc hòm gỗ cũ kỹ phủ đầy bụi bặm.
Từ bên trong chiếc hòm, ông lão lấy ra một cuộn vải thổ cẩm ố vàng, mục nát ở các mép viền. Khi tấm vải được mở ra, bên trong lộ ra một nhánh rễ cây màu huyết dụ khô cong, dài chừng một gang tay, tỏa ra một mùi hăng nồng kỳ lạ, lấn át toàn bộ mùi tanh của máu và bùn đất trong phòng.
"Đây là rễ cây Huyết Ngải, thứ duy nhất mà cha tôi mang về được từ rừng Chư Mom Ray năm xưa," ông Sáu Tía đặt nhánh rễ cây khô khốc lên bàn, ngay cạnh đĩa petri vỡ nát. "Muốn kéo được con Trùng Chúa ra khỏi tủy sống mà không làm đứt dây thần kinh, phải dùng độc trị độc. Nhưng một mẩu rễ cây khô này chỉ đủ cầm cự cho một người trong ba ngày. Muốn cứu sống cả bốn mạng người kia, cậu phải tìm ra cội nguồn nơi cỗ quan tài đó bị đào lên."
Tôi nhìn nhánh rễ cây đỏ quạch như máu đông trên bàn. Một cảm giác lạnh lẽo tột cùng nhưng vô cùng tỉnh táo lan khắp các đầu dây thần kinh.
Cuộc chiến này không còn nằm trên bàn mổ vô trùng hay dưới kính hiển vi điện tử nữa. Lưỡi dao phẫu thuật của tôi đã gãy vụn ở Phù Khê. Để cứu lấy sự sống của những con người đang thối rữa từng giờ trong phòng bệnh cách ly, tôi buộc phải bước chân vào vùng tối tăm nhất của thứ cổ thuật ngàn năm nơi rừng thiêng Tây Nguyên.
Bên ngoài hiên, con gà mặt quỷ bỗng ngửa cổ lên trời, phát ra một tiếng rít man dại xé toạc màn mưa đêm giông bão. Đồng hồ điểm mười hai giờ đêm.
Ba ngày sinh tử chính thức bắt đầu.