Bách Túc Cổ Thuật - Chương 15: Phối Hợp Ông Sáu Tía Nuôi Gà Nòi
Gió quất từng đợt nước buốt lạnh qua khe cửa chái nhà gian đông, nơi ông Sáu Tía ba trí làm chỗ nhốt đàn gà chiến cách ly. Nền gạch hoa cũ loang lổ những…
Nội dung chương
Gió quất từng đợt nước buốt lạnh qua khe cửa chái nhà gian đông, nơi ông Sáu Tía ba trí làm chỗ nhốt đàn gà chiến cách ly. Nền gạch hoa cũ loang lổ những vệt bùn đen đặc quánh do đế ủng cao su của tôi dẫm vào. Mùi tanh lợm của dịch ngải bách túc quyện với mùi lưu huỳnh từ tẩu thuốc lào của ông Sáu tạo nên một bầu không khí ngột ngạt đến khó thở.
Tôi đặt mảnh ván thôi dài ba mươi centimet lên mặt bàn gỗ nghiến xù xì. Dưới ánh sáng trắng gắt của chiếc đèn đội đầu chuyên dụng trong ngành pháp y, thớ gỗ lim lộ ra màu đen thẫm của gỗ ngâm bùn yếm khí hàng trăm năm. Từng thớ sợi co rút lại cứng như thanh sắt nguội, bên trên phủ một lớp màng hữu cơ nhầy nhụa được tạo thành từ dịch phân tiết của ấu trùng rết hòa lẫn đất sét gò mả.
"Khép chặt then cài cửa sổ lại đi bác Sáu," tôi mở hộp cứu thương dã chiến, lấy ra chai cồn y tế chín mươi độ, một hộp lưỡi dao mổ số mười một và gạc tiệt trùng. "Hơi ẩm ngoài trời đang tăng rất nhanh. Nếu để sương đêm lọt vào nhiều, độ ẩm tuyệt đối trong phòng vượt ngưỡng tám mươi phần trăm sẽ kích thích lớp bào tử còn sót trên mảnh gỗ."
Ông Sáu Tía lẳng lặng làm theo lời tôi dặn. Cánh tay gầy guộc chằng chịt vết sẹo móng gà run rẩy đẩy then cài bằng gỗ lim qua hai chiếc chốt sắt hoen gỉ. Ông quay lại bàn, nhìn chòng chọc vào mảnh ván gỗ với đôi mắt đục ngầu lo lắng.
"Tôi sống ở đất Phù Khê này ngót nghét bảy mươi năm," ông Sáu hạ giọng, tiếng rít qua kẽ răng run lên từng chặp. "Làng này nghề mộc truyền đời từ thời các cụ. Người ta đóng sập gụ, chạm tủ chè, đục hoành phi câu đối đều theo lối truyền thống của vùng Kinh Bắc. Hoa văn chỉ quanh quẩn tùng cúc trúc mai hoặc tứ linh long lân quy phụng. Chưa từng có ai chạm cái giống bách túc ma quái này lên gỗ bao giờ."
Tôi không đáp lời ông ngay mà tập trung vào công việc chuyên môn. Dùng kẹp y tế gắp bông gạc tẩm đẫm cồn chín mươi độ, tôi cẩn thận miết nhẹ lên bề mặt mảnh ván để làm mềm lớp màng sinh học bám chặt bên ngoài. Lớp nhầy đen gặp cồn lập tức sủi bọt trắng li ti, bốc lên mùi hăng nồng giống hệt amoniac hòa lẫn xác động vật thối rữa.
Bằng những đường rạch chuẩn xác của lưỡi dao mổ số mười một, tôi bóc tách từng mảng bùn đen khô cứng ra khỏi các khe rãnh chạm khắc. Dưới lớp mùn cưa và đất sét bị gạt phăng, những đường rãnh sâu hoắm dần hiện ra rõ nét đến từng chi tiết vi mô.
Mảnh gỗ này không được đục bằng chàng hay đục thép thông thường của thợ mộc đồng bằng. Các đường cắt hình chữ V cắm sâu vào thớ gỗ lim già theo những góc xiên rất hiểm hóc, đáy rãnh sắc ngọt, dứt khoát như được vạch ra bởi một công cụ bằng đá phiến hoặc răng nanh thú rừng. Bên trong những đường rãnh ấy, một lớp bột màu đỏ sẫm kết thành mảng cứng ngắc.
Tôi dùng đầu mũi dao cạo nhẹ một chút bột đỏ cho vào đĩa lồng thủy tinh, nhỏ một giọt axit axetic loãng mang theo để thử phản ứng. Mẫu thử sủi bọt khí không màu, dung dịch chuyển sang sắc nâu đen đặc trưng của sắt oxit kết hợp hemoglobin khô.
"Đây là chu sa nguyên chất pha lẫn máu động vật hoặc máu người," tôi ghi chép nhanh vào cuốn sổ bệnh án dã chiến. "Người khắc dùng huyết dịch làm chất dẫn để trám chu sa vào các đường rãnh, tạo thành một lớp bảo vệ chống ẩm tuyệt đối cho thớ gỗ bên trong. Mục đích là giữ cho trứng ký sinh trùng nằm sâu trong các nang rỗng của mạch gỗ không bị phân hủy qua thời gian."
Tôi dùng điện thoại vệ tinh chống nước kết nối với máy chủ lưu trữ dữ liệu của Trung tâm Pháp y Quốc gia, đồng thời mở tệp hồ sơ lưu trữ các chuyên đề về hủ tục vùng cao mà tôi từng thu thập được trong những chuyến công tác giám định pháp y tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Camera điện thoại quét qua bề mặt mảnh ván, thuật toán nhận dạng hình ảnh bắt đầu chạy đối sánh với kho dữ liệu văn tự cổ truyền miệng của các tộc người thiểu số.
Màn hình nhấp nháy liên tục, các biểu đồ sóng và dữ liệu đối chiếu nhảy múa trên nền xanh thẫm.
Trung tâm của mảnh ván là hình một con rết khổng lồ uốn lượn hình sin. Thân rết chia làm bốn mươi mốt đốt rõ rệt, mỗi đốt ứng với một cặp chân sắc nhọn chỉa ra hai bên như những lưỡi mác. Xung quanh thân con quái vật chân đốt là một chuỗi ký tự hình học góc cạnh, cấu tạo từ các nét gạch chéo kết hợp chấm tròn lõm sâu.
"Cậu tìm ra chữ gì rồi?" Ông Sáu Tía sốt ruột ghé sát mặt vào màn hình điện thoại, hơi thở nồng mùi thuốc lào phả ra từng đợt ngắt quãng.
"Đây là hệ thống ký hiệu phù chú của người Thượng vùng rừng giáp ranh Nam Tây Nguyên," tôi chỉ tay vào cụm ký tự góc trên bên phải mảnh gỗ, nơi có hình ba ngọn giáo cắm chéo qua một chiếc đầu lâu cách điệu. "Hệ thống lưu trữ pháp y ghi nhận loại ký hiệu này xuất hiện trong hai vụ án đầu độc bằng ngải độc dược tại Đắk Lắk vào những năm 1980. Chúng biểu thị cho một lời nguyền máu thuộc nhánh Bách Túc Đoạt Tủy."
Ông Sáu Tía sững sờ, hai bàn tay siết chặt lấy mép bàn nghiến khiến các khớp xương kêu răng rắc: "Rừng sâu Tây Nguyên? Làm sao một cỗ quan tài yểm thứ ngải man rợ tột cùng này lại nằm chôn vùi dưới gò mả làng Phù Khê chúng tôi suốt hàng trăm năm qua?"
"Không tới trăm năm đâu bác Sáu," tôi nhìn vào kết quả phân tích cấu trúc cellulose của mẫu gỗ trên màn hình. "Mức độ hóa thạch của thớ gỗ lim này cho thấy nó mới được chôn cất khoảng bảy mươi đến tám mươi năm, tức là vào khoảng những năm 1940 đến 1945 của thế kỷ trước."
Lời tôi vừa dứt, toàn thân ông Sáu Tía run rẩy dữ dội. Gương mặt nhăn nheo của ông lão cắt không còn giọt máu, sắc da tái mét chuyển sang màu xám xịt như người vừa bước ra từ nhà xác. Tẩu thuốc lào tuột khỏi ngón tay ông, rơi xuống nền gạch vỡ toang làm tàn đóm bay tung tóe trong bóng tối mờ ảo của gian phòng.
"Năm 1944..." Ông Sáu Tía thì thào, âm thanh nghẹn lại nơi cuống họng. "Năm đó... nạn đói tràn về đồng bằng Bắc Bộ. Làng Phù Khê chết đói la liệt khắp các ngõ ngách."
Tôi ngước mắt nhìn ông lão, linh cảm nghề nghiệp của một bác sĩ pháp y mách bảo tôi rằng một sự thật đen tối bị chôn vùi dưới lòng đất đang dần bước ra ánh sáng.
"Bác nhớ ra điều gì rồi sao?"
Ông Sáu bước giật lùi hai bước, tựa lưng vào cột nhà bằng gỗ xoan ngâm, đôi mắt đờ đẫn nhìn ra màn mưa mịt mùng ngoài sân: "Năm ấy tôi mới năm tuổi, nhưng những gì tận mắt chứng kiến thì cả đời này không thể nào quên. Lúc đó, cụ cố nội của thằng Toán và ông nội của thằng Thắng là hai tay thợ mộc khét tiếng nhất vùng. Họ dẫn đầu một nhóm trai tráng hơn mười người trong họ bỏ làng đi vào Nam làm phu đồn điền, phu xẻ gỗ cho các chủ đồn điền người Pháp ở mạn rừng rậm Tây Nguyên."
Tôi tiếp tục dùng dao mổ cạo sạch mảng bùn ở rìa dưới của mảnh ván. Ở vị trí đó, một hàng chữ Hán dạng giản thể của thợ thủ công lộ diện bên cạnh các biểu tượng phù chú Tây Nguyên: *Nguyễn tộc - Phù Khê chi cừu*.
"Họ Nguyễn xóm Đông làng Phù Khê," tôi đọc to từng chữ, giọng lạnh băng. "Đây không phải ngôi mộ vô chủ. Cỗ quan tài này được làm ra để nhắm thẳng vào tổ tiên của Toán, Thắng và Vĩnh."
"Trời ơi..." Ông Sáu Tía ôm lấy trán, giọng run lẩy bẩy kể tiếp. "Hai năm sau đó, tức là cuối năm 1945, chỉ có hai người sống sót trở về làng Phù Khê. Đó chính là cụ nội thằng Toán và ông nội thằng Thắng. Họ mang theo vô số vàng bạc, đồng bạc hoa xòe và những thanh gỗ mun, gỗ trắc quý hiếm chất đầy mấy cỗ xe bò. Họ dựng lên cơ ngơi xưởng mộc bề thế nhất xóm Đông, biến cả dòng họ thành những bậc cự phú nức tiếng thị xã Từ Sơn thời bấy giờ."
"Họ đã làm gì ở Tây Nguyên để có được số tài sản đó?" Tôi truy vấn, ánh mắt găm chặt vào những chi tiết rùng rợn đang hiện ra trên mảnh gỗ.
"Cụ nội tôi ngày trước là trưởng tộc, từng nghe hai người bọn họ uống rượu say rồi nói hớ trong một đêm giao thừa," ông Sáu nuốt nước bọt cái ực, lồng ngực phập phồng gấp gáp. "Bọn họ cấu kết với cai ngục người Pháp, dẫn quân lính đột kích vào một buôn làng hẻo lánh của người Thượng sâu trong dãy Chư Yang Sin để cướp bóc một kho báu cổ chôn giấu trong ngôi nhà mồ thiêng. Bọn họ thảm sát gần như toàn bộ dân làng, chỉ chừa lại một vài người già và trẻ con. Toàn bộ gỗ quý, tượng thiêng và của cải bị cướp sạch. Để diệt khẩu, bọn họ phóng hỏa thiêu rụi cả ngôi làng mồ."
Một bức tranh tội ác man rợ của quá khứ tái hiện nguyên vẹn qua lời kể của nhân chứng sống cuối cùng. Tôi nhìn lại mảnh ván thôi trên bàn. Những hình nhân trần truồng bị trói chặt tay chân khắc trên gỗ không phải biểu tượng trừu tượng, đó là ghi chép hiện thực về cuộc tàn sát đẫm máu năm ấy.
"Họ không ngờ rằng người sống sót của buôn làng đó là một thầy cúng nuôi ngải bách túc," tôi tiếp lời bằng phân tích lạnh lùng của một điều tra viên pháp y. "Người đó đã thu nhặt tro cốt của những nạn nhân bị giết hại, dùng chính loại gỗ lim khai thác từ mảnh đất tử địa đó để đóng thành một cỗ quan tài yểm ngải. Thay vì chôn thi thể, họ biến cỗ quan tài thành một lồng ấp sinh học khổng lồ chứa hàng triệu bào tử ngải rết cổ đại, sau đó vận chuyển ngược về đồng bằng Bắc Bộ, bí mật chôn sâu dưới gò mả giáp ranh đất xưởng mộc của họ Nguyễn làng Phù Khê."
"Họ chôn ở đó để làm gì khi mà cụ nội thằng Toán đã chết già từ lâu?" Ông Sáu Tía thắc mắc, gương mặt lộ rõ vẻ kinh hoàng tột độ.
"Đó là một cái bẫy phục thù di truyền được tính toán qua nhiều thế hệ," tôi giải thích, ngón tay chỉ vào các đường rãnh chu sa. "Bào tử bách túc trong điều kiện yếm khí sâu dưới lòng đất có thể rơi vào trạng thái ngừng trao đổi chất suốt hàng thế kỷ mà không hề chết. Kẻ yểm ngải biết rõ bản chất tham lam và thói quen nghề nghiệp của dòng họ thợ mộc này. Sớm muộn gì, con cháu đời sau của đám trộm mộ cũng sẽ lần mò ra các gò mả cổ ven làng để tìm gỗ quý xẻ ván thôi đóng đồ giả cổ kiếm lời."
Kế hoạch trả thù tàn độc kéo dài gần tám thập kỷ cuối cùng đã kích hoạt thành công. Nhóm thợ trẻ thế hệ thứ ba gồm Toán, Thắng và Vĩnh đã tự tay đào cỗ quan tài yểm ngải lên, đưa những lưỡi cưa máy xẻ dọc các thớ gỗ độc, phát tán hàng ngàn ấu trùng ngủ đông vào không khí.
Đặc biệt hơn, những chiếc máy lạnh công suất cao trong xưởng mộc hiện đại đã vô tình tạo ra môi trường nhiệt độ thấp và độ ẩm ngưng tụ hoàn hảo, mô phỏng đúng điều kiện khí hậu ẩm ướt của các hang động đá vôi Tây Nguyên. Ấu trùng bách túc gặp hơi ẩm máy lạnh lập tức thức tỉnh, chui qua đường hô hấp và lỗ chân lông của nhóm thợ, ký sinh dọc theo tủy gai và bắt đầu chu kỳ tha hóa cơ thể vật chủ.
Căn phòng bỗng chìm vào một khoảng lặng nặng nề. Tiếng mưa rào bên ngoài càng lúc càng dữ dội, nước mưa dội xuống mái tôn kêu lên những tiếng đôm đốp chát chúa.
Bỗng nhiên, một luồng nhiệt bất thường bốc lên từ mặt bàn gỗ nghiến.
Tôi cúi sát xuống nhìn. Mảnh ván thôi vừa được tẩy sạch cồn bắt đầu có những biến đổi dị thường dưới tác động của độ ẩm không khí đang tăng vọt trong đêm mưa dầm.
Từ các đường rãnh chữ Hán và phù chú Tây Nguyên, lớp bột chu sa màu đỏ sẫm bắt đầu tan chảy, biến thành thứ dịch nhầy màu đỏ tươi như máu sống ứa ra từ thớ gỗ. Chất dịch này không chảy tràn xuống bàn mà sủi bọt lụp bụp, bốc lên một làn khói trắng mỏng có mùi tanh nồng đặc quặc.
Những lỗ mọt li ti trên bề mặt thớ gỗ lim giãn nở với tốc độ mắt thường có thể nhìn thấy được. Từng đầu râu đen nhánh, dài mảnh như sợi tóc của ấu trùng rết bắt đầu ngoe nguẩy thò ra khỏi các thớ gỗ, cựa quậy điên cuồng trong không khí ẩm.
"Bác Sáu, lùi lại ngay!" Tôi hét lên, tay với lấy chai cồn chín mươi độ định dội thẳng lên mặt gỗ để thiêu hủy.
Nhưng một tiếng sấm rền vang kinh thiên động địa bỗng xé toạc bầu trời đêm Từ Sơn. Ánh chớp xanh lè chớp giật liên hồi qua khe cửa liếp, rọi sáng bừng gian chái nhà tối tăm.
Cùng với tiếng sấm nổ ngang tai, từ phía xưởng mộc xóm Đông cách đó không đầy hai trăm mét, một chuỗi âm thanh rùng rợn đồng loạt vang lên.
Đó là những tiếng gầm gừ the thé hòa lẫn tiếng rít đanh thép của loài chân đốt, phát ra từ nhiều cuống họng con người cùng một lúc. Âm thanh ấy không còn đơn lẻ như lúc Toán và Thắng trườn dưới rãnh cống ban nãy, mà là một dàn hợp xướng quái dị của hàng chục cá thể đang bị ngải bách túc thao túng toàn phần.
Từ chiếc lồng tre ở góc nhà, ba con chiến kê của ông Sáu Tía bỗng đồng loạt đập cánh điên cuồng. Con gà mặt quỷ ngoẹo đầu sang một bên, con mắt lác đảo tròn quanh hốc mắt rồi dán chặt vào khe cửa chính. Tiếng gáy của nó không còn đanh gọn mà gắt gỏng, rát rúa như tiếng kim loại cọ xát vào đá mài.
"Không phải ba đứa..." Giọng ông Sáu Tía lạc đi hoàn toàn giữa tiếng mưa gió gào thét. "Cậu Khoa ơi... tiếng rít đó... vang lên từ khắp các dãy nhà trong xóm Đông!"
Tôi lao tới khe cửa sổ, gạt nhẹ chốt nhìn qua khe liếp ra ngoài con ngõ đất dẫn vào xóm thợ mộc.
Dưới ánh chớp nhấp nháy liên hồi của trận mưa rào nửa đêm, một cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt tôi khiến máu trong toàn bộ cơ thể dường như đông cứng lại.
Độ ẩm cực hạn của cơn mưa rào đêm nay đã kích hoạt đồng loạt toàn bộ ấu trùng ngải rết đang ngủ đông trong cơ thể tất cả những người thợ mộc từng tiếp xúc với lô gỗ quan tài xẻ trộm. Không chỉ có Toán, Thắng và Vĩnh.
Dọc theo con ngõ lầy lội ngập ngụa bùn đen, năm sáu bóng người khác đang bò trườn ra từ các khung cửa sổ và cổng xưởng mộc. Cơ thể họ trần truồng, lấm lem bùn đất và vụn mùn cưa đen. Cột sống của tất cả những người đó đều cong oằn ra phía sau thành một hình vòng cung dị dạng, lớp da lưng nứt toác để lộ những dải bầm tím sẫm đang nhấp nhô phập phồng.
Từng cặp chân ngải chitin đen bóng dài gần gang tay mọc tua tủa dọc hai bên lườn của họ, cào cấu xuống nền đường bê tông ken két. Họ không đi bằng hai chân, mà phối hợp giữa tứ chi và hàng chục chiếc chân ngải phụ trợ để trườn nhanh thoăn thoắt trên mặt đất như một bầy rết khổng lồ đang săn mồi trong đêm tối.
Ánh mắt của toàn bộ đám thợ mộc bị tha hóa đều trừng trừng, đồng tử giãn to cực đại và phát ra một thứ ánh sáng lân tinh màu xanh lục lờ đờ.
Và tất cả những sinh vật dị dạng ấy, theo một trật tự bầy đàn vô hình do mối thù trăm năm dẫn dắt, đang đồng loạt hướng đầu về phía gian nhà chái của ông Sáu Tía. Tiếng cào móng vào vách tường, tiếng khớp xương vặn xoắn tanh tách cùng tiếng rít the thé xé lòng bắt đầu bao vây lấy ngôi nhà từ bốn phương tám hướng giữa cơn mưa như trút nước.