Bách Túc Cổ Thuật - Chương 5: Xưởng Mộc Cào Da
Mùi tanh nồng bốc lên từ vạt áo bám đầy dịch nhầy đen kịt khiến từng nhịp thở của tôi trở nên buốt rát. Dưới lòng mương cạn ngập ngụa bùn đất, nước mưa…
Nội dung chương
Mùi tanh nồng bốc lên từ vạt áo bám đầy dịch nhầy đen kịt khiến từng nhịp thở của tôi trở nên buốt rát. Dưới lòng mương cạn ngập ngụa bùn đất, nước mưa xối thẳng vào mặt, kéo theo mùi rêu nhớt và rác mục của rìa làng Phù Khê. Tôi chống tay gượng đứng dậy, cặp cứu thương vẫn ghì chặt bên sườn. Phía sau lưng, tiếng nện cửa tôn cùng những tiếng cào cấu điên loạn từ xưởng mộc của Quyết đã bị tiếng sấm rền át đi, chỉ để lại chuỗi âm thanh lách tách của trận mưa dầm không dứt.
Tiếng rúc khô khốc kia lại cất lên một lần nữa.
Nó phát ra từ một cọc tre cắm nghiêng bên bờ dậu của ngôi nhà ngói năm gian phía bên kia đường liên thôn. Ánh sáng vàng vọt từ cây đèn bão treo lơ lửng dưới mái hiên hắt qua màn nước, soi rõ bóng một con gà nòi to lớn khác thường. Bộ lông của nó mang màu đỏ thẫm pha đen cháy, trụi trần ở phần ức và cổ, lộ ra lớp da sần sùi cộm lên như da cóc. Hai chân nó vàng xỉn, đóng vảy dày cộm, cựa dài uốn cong vút nhọn hoắt như hai lưỡi câu thép bấm chặt vào thân cọc.
Cái đầu con chim chọi hơi nghiêng, hướng thẳng về phía tôi. Mặt nó nhăn nheo, gồ ghề những u thịt đỏ bầm, tạo thành một diện mạo méo mó dữ dằn. Đáng sợ nhất là đôi mắt của nó. Tròng mắt bên trái lệch hẳn về phía mỏ, trong khi tròng bên phải trợn ngược lên đỉnh đầu, quắc lên những tia sáng đỏ quạch. Con gà mắt lác mặt quỷ đó chĩa thẳng chiếc mỏ khoằm về phía vạt áo dính dịch đen của tôi, yết hầu giật phập phồng, phát ra tiếng rít the thé tựa như tiếng kim loại mài xuống đá tảng.
Xung quanh nó, trên suốt bờ dậu tre dài hơn chục mét, năm sáu con gà nòi khác cũng đồng loạt vỗ cánh phành phạch. Lông cổ chúng dựng ngược lên, mào cờ rung bần bật. Chúng không hề kêu quang quác tháo chạy như giống gia cầm thông thường, mà tất cả đều hạ thấp trọng tâm, hướng đôi mắt lồi hung dữ về phía luồng khí tức ẩm tanh toát ra từ người tôi.
Tôi lùi lại nửa bước, đặt tay lên cán chiếc kéo phẫu thuật trong túi áo khoác. Thần kinh tôi căng ra như dây đàn. Đôi mắt lác của con vật toát lên sự hung bạo bản năng của một loài săn mồi chuyên biệt, sẵn sàng bổ nhào xuống bất cứ chuyển động sơ hở nào.
Cánh cửa gỗ bức bàn của gian nhà chính kẹt mở. Một bóng người cao gầy bước ra hiên, tay cầm theo cây gậy tre đực tiện nhẵn bóng và một chiếc nón mê rách mép.
"Thằng Ô! Nằm xuống!"
Tiếng quát trầm đục nhưng chứa đầy uy lực xé toang tiếng mưa. Con gà nòi mặt quỷ lập tức khựng lại, chiếc mỏ khoằm ngậm chặt, nhưng đôi mắt lệch quỷ dị vẫn dán chặt vào tôi, từng thớ thịt trên ức nó căng cứng.
Chủ nhân của giọng nói là một ông lão ngoài bảy mươi tuổi, thân hình quắt lại nhưng đôi vai rộng và thẳng tắp. Ông mặc chiếc áo cánh màu nâu gụ cài khuy vải đã bạc phếch, quần xắn quá gối để lộ đôi bắp chân gân guốc chằng chịt. Khuôn mặt ông khắc khổ, chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày, nhưng ánh mắt sáng quắc dưới đôi lông mày rậm bạc trắng.
Ông cụ giơ cao chiếc đèn bão, bước chậm rãi qua khoảng sân gạch rêu phong tiến về phía bờ dậu. Khi cách tôi khoảng bốn bước chân, ông dừng lại. Ngọn đèn leo lét soi rõ bộ quần áo sũng nước và chiếc cặp da dính đầy bùn đất của tôi, rồi dừng lại ở những vệt dịch nhờn màu đen sẫm đang bốc khói mỏng li ti trên ống tay áo.
Cánh mũi ông cụ khẽ phập phồng. Đôi mày rậm lập tức nhíu chặt lại thành một búi gút sâu hoắm.
"Mùi tử khí ván thôi," ông lão cất giọng lạnh tanh, bàn tay siết chặt lấy thân gậy tre. "Lại còn dính cả dịch nhầy bách túc. Cậu vừa chui từ cái lò mổ người của thằng Quyết ra đúng không?"
Tôi khựng lại. Một ông lão ở góc làng hẻo lánh này lại có thể nhận diện thứ dịch độc đó chỉ bằng một cú hít ngửi giữa trời mưa dầm gió bấc.
"Tôi là Nguyễn Minh Khoa, bác sĩ pháp y thuộc Trung tâm Pháp y Quốc gia," tôi hạ chiếc kéo phẫu thuật xuống, cố giữ giọng bình tĩnh qua lớp khẩu trang ẩm ướt. "Xưởng mộc của anh Quyết đang xảy ra một thảm họa y tế nghiêm trọng. Bốn thợ mộc đã bị nhiễm một loại ấu trùng ký sinh cực độc từ thân gỗ cổ thụ, họ rơi vào trạng thái kích động bạo lực và mất kiểm soát hành vi. Tôi cần liên hệ với chính quyền và cơ quan y tế dự phòng để lập tức cách ly khu vực đó."
"Bác sĩ?" Ông cụ nhếch mép cười nhạt, nụ cười khô khốc không mang chút ấm áp nào. "Mấy cái ống tiêm với thuốc bột của các anh không chặn nổi thứ này đâu. Đưa bọn lính tráng hay y tá vào đó lúc này chỉ tổ nướng thêm mạng người cho lũ quái thai dưới đất."
"Thưa cụ, đây là ký sinh trùng đường máu và tủy sống giai đoạn phát tán, không phải chuyện hoang đường," tôi giải thích bằng góc nhìn chuyên môn. "Ấu trùng xâm nhập qua niêm mạc hô hấp và các vết thương hở do mạt cưa bắn vào, sau đó di chuyển dọc theo hệ thần kinh vận động ngoại biên, tiết ra độc tố peptide phá hủy tế bào tủy sống, gây co thắt cơ và hoang tưởng kích động. Nếu không can thiệp bằng huyết thanh và thuốc kháng ký sinh liều cao, độc tố sẽ làm họ suy tủy toàn phần rồi tử vong."
"Tủy sống? Peptide?" Ông cụ bước thêm một bước sát lại mép bờ dậu, ánh mắt nhìn thẳng vào đồng tử của tôi. "Tôi sống ở đất Phù Khê này bảy mươi hai năm, từ đời ông nội tôi truyền lại cách cản ngải giữ làng. Tôi tên Sáu Tía. Thứ cậu vừa thấy trong xưởng cưa không phải bệnh dịch thông thường. Đó là ngải rết bách túc được nuôi bằng máu người chết từ gò mả cổ."
Tôi định lên tiếng phản bác luận điểm tà thuật duy tâm đó, nhưng một tiếng rúc rỉa ma quái đột ngột vang lên ngay dưới chân tôi.
Tiếng động không phát ra từ xưởng mộc đằng xa, mà đến từ dòng nước chảy xiết dưới lòng mương cạn.
Một mảnh gỗ mục dài chừng hai gang tay, sứt sẹo và đen đúa, đang bập bềnh trôi dạt theo dòng nước lũ rồi mắc kẹt lại giữa một búi rễ tre chìa ra từ bờ đất. Đó chính là một mảnh ván thôi bị vỡ vụn văng ra từ xưởng xẻ của Quyết khi tôi phá vòng vây tháo chạy, bị dòng nước mưa cuốn theo rãnh thoát nước chảy thẳng ra đây.
Từ bề mặt xốp rỗng của khúc gỗ mục, những sợi khói mỏng màu tím sẫm bắt đầu bốc lên nghi ngút giữa không khí ẩm lạnh. Mùi tanh lợm của máu ươn và đất ẩm nồng nặc bốc thẳng vào mũi tôi.
Con gà nòi mặt quỷ trên cọc tre rướn thẳng cổ. Đôi mắt lác của nó trợn trừng, chiếc mào cờ rung lên bần bật. Nó đập cánh bay vút qua bờ dậu tre, đáp xuống mặt đất lầy lội chỉ cách tôi chưa đầy một mét. Cú tiếp đất nặng trịch khiến bùn văng tung tóe lên ống quần tôi.
Sau lưng nó, ba con gà nòi khác cũng đồng loạt lao xuống bờ mương. Đàn gà hung hãn không hề để tâm đến sự hiện diện của tôi hay ông Sáu Tía, mục tiêu duy nhất của chúng là khúc gỗ mục đang tỏa khói dưới rãnh nước.
"Đứng lùi lại!" Ông Sáu Tía gằn giọng, vung gậy tre chắn ngang trước ngực tôi.
Tôi nín thở quan sát. Con gà mặt quỷ bước những bước giật cục, hai chiếc cựa thép cày sâu vào lớp bùn nhão. Khi đến sát khúc gỗ mục, nó đột ngột giáng một cú mổ trời giáng bằng chiếc mỏ khoằm cứng như đá.
*Cốp!*
Khúc gỗ mục nát toác ra một mảng lớn. Bên trong các thớ gỗ sũng nước không hề có lõi vân thông thường, mà đan bện chằng chịt hàng trăm lỗ rỗng hình ống tròn, hệt như một tổ ong khổng lồ bị chôn vùi dưới bùn lầy.
Từ trong các lỗ hổng đó, hàng chục sinh vật màu đen sì bắt đầu trồi ra.
Chúng dài chừng nửa ngón tay trỏ, toàn thân bóng nhẫy dịch nhờn nhớp nháp. Từng đốt thân đen ánh lên dưới ánh đèn bão, mỗi đốt mọc ra một cặp chân ngo ngoe sắc nhọn. Hai chiếc kìm phía trước đầu của chúng to bất thường, liên tục cắp vào không khí tạo ra những tiếng tanh tách ghê rợn. Hàng chục con ấu trùng rết bách túc bò túa ra khỏi thớ gỗ, hướng thẳng về phía hơi ấm trên chân con gà nòi.
Một cơn rùng mình lạnh toát chạy dọc sống lưng tôi. Những sinh vật này hoàn toàn trùng khớp với cấu trúc trứng và phôi thai dị dạng mà tôi đã soi dưới kính hiển vi điện tử tại phòng xét nghiệm pháp y sáng nay. Chúng thực sự đang sống, đang sinh sôi bên trong những tấm ván quan tài cổ mục rữa.
Con gà mặt quỷ không hề lùi bước. Nó phát ra một tiếng rúc đanh thép từ sâu trong lồng ngực, rồi chiếc mỏ sắt mổ xuống như một mũi khoan máy.
Nó mổ liên hồi, chuẩn xác gắp từng con ấu trùng rết đang bò lổm ngổm trên mặt bùn. Thay vì nuốt chửng ngay, con gà nòi dùng chiếc mỏ kẹp chặt ngang thân ấu trùng, lắc mạnh đầu sang hai bên để xé toạc lớp vỏ kitin non nớt của lũ côn trùng độc, giũ sạch thứ dịch đen nhầy nhụa xuống dòng nước mương. Đàn gà phía sau lập tức xông vào xâu xé phần xác gỗ mục còn lại, dùng những chiếc móng vuốt sắc nhọn cào bới tung tóe các thớ gỗ để lôi ra từng bọc trứng màu xám tro nằm sâu bên trong.
Thứ dịch độc đen ngòm bắn cả lên ức và cổ của con gà nòi mặt quỷ, nhưng lớp da cóc dày cộm của nó dường như hoàn toàn miễn nhiễm trước độc tố. Ngược lại, đôi mắt lệch của con chim chọi càng quắc lên vẻ hưng phấn tàn bạo, chiếc lưỡi gai ráp nuốt trọn từng mẩu thịt rết béo ngậy.
Chưa đầy ba phút sau, khúc gỗ ván thôi đã bị đàn gà băm nát thành từng mảnh dăm vụn. Hàng trăm ấu trùng rết vừa chớm nở đã bị tiêu diệt sạch sẽ, trôi dạt theo dòng nước lũ màu phù sa.
Con gà mặt quỷ quệt chiếc mỏ dính đầy máu đen vào một thân tre bên bờ, đôi mắt lác từ từ quay lại nhìn tôi, ngực thở phập phồng đầy đe dọa.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo bên trong chiếc áo mưa mỏng. Cảnh tượng vừa diễn ra trước mắt hoàn toàn nằm ngoài mọi quy chuẩn sinh học thông thường. Một loài côn trùng cổ đại có nọc độc phá hủy hệ thần kinh người chỉ trong vài giờ, lại là con mồi ưa thích của một giống gà chọi bản địa mang dị tật bẩm sinh.
"Thế nào, bác sĩ?" Ông Sáu Tía hạ cây gậy tre xuống, bước tới bên cạnh tôi, ánh mắt lạnh lùng nhìn xuống đống vụn gỗ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. "Thuốc tây của cậu có mổ nát được ổ ngải rết nhanh bằng mỏ của thằng Ô nhà tôi không?"
Tôi cố nén sự chấn động tột độ trong lồng ngực để tìm lại giọng nói của một nhà khoa học:
"Hệ thống miễn dịch của giống gà này... tại sao chúng có thể kháng lại độc tố neurotoxin nồng độ cao như vậy? Loại dịch nhầy đó có khả năng làm hoại tử mô cơ và gây co giật toàn thân ở người chỉ sau vài phút tiếp xúc."
"Bởi vì tổ tiên của giống gà mắt lác này sinh ra là để ăn thịt ngải rết," ông Sáu Tía nói, giọng chùng xuống trầm mặc giữa tiếng mưa rả rích. "Năm mươi năm trước, khi người ta phá gò Đồng Dọc ven sông Cầu để mở đường, người ta cũng đào trúng ba cỗ ván thôi bằng gỗ dổi ngâm nghìn năm. Hồi đó, cả một đội dân công mười hai người đều bị rết chui vào tủy sống, chết trong tư thế bò trườn dưới đất, cào da rách thịt hệt như mấy thằng thợ bên xưởng mộc kia. Chỉ có giống gà nòi mặt quỷ nuôi bằng thóc ngâm nước vôi của dòng họ tôi mới dám mổ chết lũ bách túc quái thai đó."
Ông lão quay sang, nhìn thẳng vào chiếc hộp kim loại đựng mẫu bệnh phẩm mà tôi đang nắm chặt trong tay.
"Cậu cầm thứ gì trong đó?"
"Mẫu sinh thiết da và tủy của một nạn nhân đã chết sáng nay tại Hà Nội," tôi đáp thành thật, mở nắp ngoài của chiếc hộp chuyên dụng để lộ ống nghiệm chứa mạt cưa ván thôi và mẫu dịch phôi thai. "Tên anh ta là Trịnh Vạn Thắng, người đã mua tấm phản gỗ đầu tiên do xưởng Huy Quyết cưa xẻ. Khi tôi mổ tử thi, toàn bộ tủy sống của anh ta đã bị rỗng hoàn toàn, chỉ còn lại hàng ngàn nang ấu trùng đang ngủ đông. Cả đời làm pháp y của tôi chưa từng chứng kiến sự tàn phá sinh học nào khủng khiếp đến thế."
Ông Sáu Tía cúi đầu nhìn ống nghiệm thủy tinh qua ánh đèn bão. Khi nhìn thấy những hạt li ti màu xám tro lơ lửng trong dung dịch formol, đồng tử của ông co rút lại.
"Đúng là nó rồi," ông lẩm bẩm, giọng nói run lên một thoáng căm hận hiếm hoi. "Trứng bách túc gặp hơi lạnh và ẩm mới bắt đầu cựa quậy. Thằng Quyết mang thứ gỗ tà này về xưởng cưa đĩa, mạt gỗ bay khắp không gian kín, chẳng khác nào gieo mầm chết vào cuống phổi của thợ thuyền. Bốn thằng thợ đó... lúc cậu rời đi, chúng nó đã bắt đầu trườn bò dưới đất chưa?"
"Họ đã gãy trục cột sống, nằm rạp dưới gầm ván thôi và bắt đầu thèm ăn thịt sống," tôi siết chặt tay, nhớ lại ánh mắt đỏ ngầu và hàm răng dính máu của gã thợ tiện. "Đó là phản xạ vận động bất thường do ký sinh trùng chiếm quyền kiểm soát hạch thần kinh tủy sống. Nếu không ngăn chặn, chúng sẽ cắn xé bất cứ thứ gì chuyển động xung quanh để lấy protein nuôi ấu trùng bên trong cơ thể."
"Bọn nó không còn là người nữa đâu," ông Sáu Tía lắc đầu, ánh mắt đanh lại như thép nguội. "Đến nửa đêm nay, khi khí lạnh mùa mưa thấm sâu vào xương tủy, lũ rết con sẽ đồng loạt cắn thủng cột sống của bọn nó để chui ra ngoài. Nếu để cả ổ ngải bách túc hàng vạn con tràn ra khỏi cái xưởng tôn đó, làng Phù Khê này sẽ biến thành bãi tha ma trước khi trời sáng."
Gió rít qua rặng tre bên đường, mang theo hơi lạnh buốt giá đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ vào đợt mưa dầm tháng Bảy. Lời cảnh báo của ông Sáu Tía không còn là những câu chuyện tâm linh hoang đường nữa; từng chi tiết ông mô tả đều trùng khớp đến mức rợn người với chu kỳ phát triển của ký sinh trùng mà tôi ghi nhận trong hồ sơ giải phẫu.
Khoa học pháp y cho tôi biết mức độ hủy hoại cơ thể của sinh vật này, nhưng tri thức dân gian nửa thế kỷ của ông lão nuôi gà nòi mới nắm giữ câu trả lời về cách tiêu diệt tận gốc nguồn cơn của thảm họa.
"Tôi có xe bán tải đỗ ở đầu ngõ ngoài đường lớn," tôi nhìn ông Sáu Tía, ánh mắt kiên định đối diện với đôi mắt già nua từng trải. "Trong xe có trang bị bảo hộ sinh học cấp ba, đèn cực tím công suất lớn và hóa chất khử trùng clo nồng độ cao. Nhưng để tiếp cận được nguồn lây nhiễm trong xưởng cưa và khống chế bốn bệnh nhân đang phát điên, tôi cần sự trợ giúp của cụ."
Ông Sáu Tía nhìn tôi hồi lâu, rồi liếc nhìn đàn gà nòi đang đứng quanh bờ dậu, lông ức của chúng ướt đẫm nước mưa nhưng đôi mắt đỏ quạnh vẫn tràn trề sát khí.
"Thằng Ô và ba con gà chiến của tôi sẽ đi cùng," ông cụ gằn giọng, nâng cây gậy tre đực lên ngang vai. "Bác sĩ mang đồ mổ xẻ của cậu theo. Chúng ta phải quay lại cái xưởng tôn đó trước nửa đêm. Phải đốt sạch ổ ngải rết mẹ nằm sâu dưới lòng đất trước khi nó nuốt trọn cả bốn mạng người kia."
Một tia chớp trắng lóa xé toạc bầu trời đêm Từ Sơn, rọi sáng thân hình con gà nòi mặt quỷ đang giương cao chiếc mỏ khoằm dính máu đen trên cọc tre đầu ngõ. Tiếng rúc rỉa khô khốc lại vang lên, sắc lẹm xé toang màn mưa dầm buốt giá.