Bách Túc Cổ Thuật - Chương 7: Ván Thôi Ngâm Bùn Đen
Mưa dầm rả rích không dứt trên những mái ngói rêu phong của làng Phù Khê. Đôi ủng cao su bảo hộ của tôi lún sâu xuống mặt đường liên thôn nhão nhoẹt, nơi…
Nội dung chương
Mưa dầm rả rích không dứt trên những mái ngói rêu phong của làng Phù Khê. Đôi ủng cao su bảo hộ của tôi lún sâu xuống mặt đường liên thôn nhão nhoẹt, nơi đất sét đỏ quyện chặt với mạt cưa gỗ hương, gỗ trắc tạo thành một thứ bùn dẻo quánh, bốc mùi ngai ngái. Đồng hồ đeo tay điểm mười một giờ hai mươi phút đêm. Gió mùa đông bắc muộn thốc từng cơn buốt lạnh qua rặng tre ngả nghiêng bên bờ mương, cuốn theo thứ hơi ẩm nhớp nháp áp thẳng vào mặt.
Đi trước tôi ba bước, ông Sáu Tía cầm chiếc đèn bão bằng sắt tây đã hoen gỉ. Ánh lửa vàng vọt tù mù hắt bóng lưng còng của ông lão dài ngoẵng trên nền đất ướt. Theo sát gót chân ông là con gà nòi mặt quỷ, bộ lông đen tuyền ướt sũng ép chặt vào ức, chiếc mỏ khoằm dài màu chì hơi chúc xuống đất, từng bước đi thận trọng và im lìm.
Xưởng mộc Huy Quyết nằm lọt thỏm ở cuối con ngõ cụt rải đá dăm, bao quanh bởi những bức tường gạch không trát vữa cao quá đầu người. Đó là một khu nhà xưởng lợp mái tôn xi măng rộng chừng ba trăm mét vuông. Ban ngày, nơi này vốn gầm rú tiếng động cơ máy cưa, tiếng đục đẽo chát chúa của thợ tiện thợ khảm, nhưng giờ đây nó chìm nghỉm trong màn đêm đặc quánh. Một mùi hôi thối kỳ quặc xộc thẳng vào mũi tôi qua khe hở của chiếc khẩu trang y tế N95: mùi bùn đáy ao thối rữa lâu năm pha lẫn mùi rỉ sét kim loại và tử khí nồng nặc.
Cánh cửa cuốn bằng tôn của xưởng mộc bị kéo lệch một bên, để hở một khoảng trống vừa đủ cho một người cúi mình lách qua. Một sợi xích sắt to bản treo lủng lẳng bên then cửa, ổ khóa Việt Tiệp đã bị đập vỡ nát, vứt chỏng chơ trên vũng nước đọng. Huy Quyết đã phá khóa tháo chạy trong cơn hoảng loạn tột độ, bỏ mặc toàn bộ hiện trường sau lưng.
Tôi kéo chiếc ba lô dã chiến trên vai ra phía trước, kiểm tra lại bộ đèn pin phẫu thuật gắn trán và bật công tắc. Luồng ánh sáng trắng lạnh cắt đôi bóng tối dày đặc, rọi thẳng vào bậc thềm dẫn vào gian xưởng chính.
Ngay tại bậc cửa xi măng, một lớp mùn cưa dày gần hai đốt ngón tay phủ kín mặt đất. Thứ mùn cưa này không có màu vàng ươm của gỗ mít hay màu đỏ thẫm của gỗ hương thường thấy ở các xưởng mộc Từ Sơn. Toàn bộ lớp bột gỗ mịn đều mang một màu đen xám xịt như tro bếp ngâm nước cống, ẩm ướt, dính chặt lấy nhau thành từng mảng bết bát.
Tôi định bước chân qua ngưỡng cửa thì một tiếng động sắc nhọn vang lên ngay sát ống quần.
Con gà nòi mặt quỷ của ông Sáu Tía đột ngột khựng lại. Hai móng chân sau sắc nhọn của nó cào mạnh xuống nền đất nhão, găm chặt vào một rễ tre trồi lên mặt đường. Đôi cánh đen nhánh bung rộng ra hai bên, quạt mạnh vào không khí tạo nên những tiếng phành phạch khô khốc. Cổ nó rụt lại, lớp da mặt đỏ gay gắt thường ngày bỗng chuyển sang màu tái xám như gan gà luộc. Đôi mắt lồi với hai con ngươi lệch hẳn sang một bên dán chặt vào lớp mùn cưa đen trên bậc cửa, co giật liên hồi.
Nó phát ra từng tiếng khè khè đứt quãng từ sâu trong cuống họng, tuyệt đối không chịu tiến thêm nửa bước.
"Thằng Ô, vào!" Ông Sáu Tía gằn giọng, giật nhẹ sợi dây vải buộc lỏng ở chân con gà.
Con vật không nghe lời. Nó giãy giụa kịch liệt, đôi cánh đập liên hồi vào ống chân ông cụ, mỏ khoằm há to thở dốc. Toàn bộ lông vũ trên sống lưng dựng đứng lên như một túm gai nhọn. Dưới ánh đèn bão, tôi nhìn thấy những giọt nước mưa đọng trên chỏm lông đầu nó văng tung tóe khi cơ thể nó run rẩy từng chập. Bản năng sinh tồn của giống gia cầm săn mồi thượng hạng đang báo động một sự nguy hiểm vượt quá sức chịu đựng của hệ thần kinh loài vật.
"Nó ngửi thấy mùi đất chết," ông Sáu Tía dừng bước, hạ thấp chiếc đèn bão xuống ngang đầu gối, ánh mắt nheo lại đầy cảnh giác. "Giống gà này chuyên ăn rết sống, cắn nát đầu bọ cạp độc mà không sợ hãi. Nhưng lớp bụi trên thềm nhà kia... đối với nó là tử địa. Thần trí con vật biết rõ, nếu dẫm chân lên đám bột đen đó, nọc độc sẽ ngấm qua biểu bì móng mà xé rách tủy xương."
"Mùn cưa từ cỗ ván thôi," tôi nói, cúi người xuống quan sát kỹ mép thềm. "Lực bảo họ đã đưa cỗ quan tài lên bàn cưa xẻ đĩa lớn. Đám bột này chính là phần vỏ ngoài của thân gỗ mục bị lưỡi cưa nghiền nát."
Tôi rút trong túi cứu thương ra hai đôi bọc giày bằng nilon chuyên dụng, trùm kín từ bàn chân lên tận đầu gối, sau đó kéo chặt khóa zip của bộ áo quần bảo hộ sinh học cấp độ ba. Tôi đưa cho ông Sáu Tía một chiếc mặt nạ phòng độc có phin lọc than hoạt tính.
"Cụ đeo vào đi. Bất kể ngửi thấy mùi gì hay cảm thấy ngứa rát ở đâu, tuyệt đối không được tháo phin lọc. Hạt khí dung của thứ này có kích thước siêu nhỏ, chúng ta hít vào một hơi là kết thúc."
Ông lão im lặng nhận lấy chiếc mặt nạ, thuần thục tròng qua đầu rồi siết chặt dây đai cao su. Ông buộc chặt sợi dây chân của con gà nòi vào chiếc cọc sắt cắm ở bờ tường gạch ngoài sân, để mặc con vật đứng run rẩy dưới làn mưa lạnh, đôi mắt đỏ ngầu của nó vẫn trừng trừng nhìn vào bóng tối bên trong xưởng gỗ như nhìn vào miệng vực sâu không đáy.
Hai chúng tôi bước qua ngưỡng cửa dính đầy mùn cưa đen.
Âm thanh bước chân lạo xạo trên lớp bột gỗ mục vang vọng giữa gian xưởng rộng thênh thang. Không gian tĩnh mịch đến rợn người, chỉ có tiếng nước mưa dột từ mái tôn thủng rơi tong tỏng xuống những xấp gỗ tạp chất đống bên góc tường.
Chùm sáng từ đèn pin gắn trán của tôi quét qua từng góc xưởng. Trên sàn xi măng, hàng chục vệt trườn ngoằn ngoèo rộng chừng nửa mét in hằn trên lớp mùn cưa, kéo dài từ trung tâm xưởng về phía các gầm kệ gỗ và góc tối. Đó không phải là dấu chân người đi, mà là dấu vết cọ xát của những thân thể trần truồng nằm rạp bụng xuống sàn, uốn lượn để di chuyển. Rải rác trên các vệt trườn là những mảng da người bị cào rách dính máu đen, vài chiếc răng cửa lung lay gãy vụn và những sợi tóc bết bùn.
Những người thợ mộc phát điên đã trườn bò khắp mặt sàn này trước khi gục ngã hoặc bị Huy Quyết bỏ mặc.
Tôi tiến thẳng về phía bệ máy cưa bàn công nghiệp đặt ngay trung tâm gian nhà. Cỗ máy khổng lồ bằng gang đúc màu xanh rêu cũ kỹ, gắn động cơ ba pha công suất lớn. Trên bàn trượt bằng thép gỉ, một súc gỗ dài hơn hai mét, đường kính gần một mét đang nằm cố định bởi các ngàm kẹp cơ khí.
Một nửa súc gỗ đã bị lưỡi cưa đĩa xẻ dọc một đường sâu hoắm.
Tôi dừng lại cách bệ máy hai bước chân, hít một hơi sâu qua lớp phin lọc cao su. Trước mắt tôi chính là cỗ ván thôi, tấm gỗ quan tài cổ ngâm dưới lòng bùn đen sông Cầu hàng thế kỷ mà Lực đã kể lại trong cơn mê sảng.
Thớ gỗ bên ngoài mục nát, phủ đầy một lớp bùn khoáng hóa màu xám tro dày cộm, trông giống như lớp da của một loài bò sát khổng lồ chết khô. Nhưng tại vị trí đường cưa xẻ sâu vào tâm gỗ, màu sắc lại biến đổi kỳ dị. Phần lõi gỗ có màu đỏ bầm u tối hệt như miếng thịt trâu sấy khô lâu ngày, các đường vân gỗ xoắn vặn thành từng búi rối rắm, không hề tuân theo quy luật vòng năm sinh trưởng tự nhiên của thực vật.
Đặc biệt, xen kẽ giữa các thớ gỗ đỏ bầm là hàng vạn lỗ rỗng li ti có đường kính chỉ bằng đầu kim may, rỉ ra một chất dịch nhầy dẻo quánh màu vàng nhạt, bốc mùi xạ hương nồng nặc lấn át cả mùi ẩm mốc của xưởng cưa.
Lưỡi cưa đĩa bằng thép hợp kim đường kính tám mươi centimet vẫn còn kẹp chặt giữa khe nứt của thân gỗ. Trên bề mặt lưỡi cưa, kim loại đã bị mài mòn nham nhở, nhiều răng cưa bị mẻ gãy do va phải lớp bùn khoáng cứng như đá.
Bám chặt trên các răng cưa còn lại là một lớp cao su mạt cưa đen kịt, dẻo quánh lại do nhiệt ma sát cực lớn sinh ra khi lưỡi cưa quay hàng ngàn vòng mỗi phút.
Tôi tái hiện lại toàn bộ cảnh tượng kinh hoàng đã diễn ra trong căn xưởng kín mít này hai ngày trước. Nhóm thợ mộc gồm bốn người khỏe mạnh, đứng vây quanh bệ máy cưa. Động cơ điện gầm rú, kéo lưỡi cưa xé toạc lớp bùn đen và thớ gỗ mục. Ma sát sinh ra nhiệt lượng lên tới hàng trăm độ C tại điểm tiếp xúc. Lưỡi cưa không chỉ cắt gỗ, nó nghiền nát cấu trúc hữu cơ đã hóa thạch, bẻ gãy các khoang rỗng chứa đầy kén ngủ đông, biến chúng thành hàng triệu hạt bụi khí dung cực mịn phát tán vào không khí.
Trong không gian xưởng đóng kín để trốn tránh sự chú ý của chính quyền địa phương, đám bụi đen đó đã bay lơ lửng, lấp đầy mọi khoảng trống. Những người thợ cởi trần, mồ hôi nhễ nhại, lồng ngực phập phồng hít thở sâu từng nhịp khí nén đầy mạt độc. Bụi bám vào da thịt ướt đẫm mồ hôi của họ, chui qua lỗ chân lông nở to, len lỏi qua niêm mạc mắt, mũi và đi thẳng vào sâu trong phế quản.
"Thứ này không sinh ra để làm bàn ghế," ông Sáu Tía đứng bên cạnh tôi, giọng nói nghẹt lại sau lớp phin lọc than hoạt tính. "Gỗ dổi ngâm bùn nghìn năm dùng để chôn người chết theo thuật ếm xác của người xưa. Chúng ngâm xác cùng với ngải rết để giữ cho linh hồn người chết không siêu thoát, biến cỗ quan tài thành cái tổ nuôi bách túc. Thằng Quyết tham tiền, mang cưa máy ra xẻ xác quỷ."
"Chúng ta cần bằng chứng khoa học," tôi đáp, rút từ ba lô ra một hộp inox tiệt trùng.
Tôi dùng kẹp y tế chuyên dụng cẩn thận cạo từng mảng mạt cưa đen bám trên răng cưa hợp kim. Chất bột đen này ráp và dính, khi chạm vào mũi kẹp kim loại tạo ra cảm giác lạo xạo như cát mịn nhưng lại có độ đàn hồi kỳ lạ của chất sừng. Tôi chia mẫu vật vào ba ống nghiệm thủy tinh đáy nhọn, thêm vào mỗi ống năm mililit dung dịch muối sinh lý đẳng trương để cố định hình thái, sau đó đóng chặt nắp cao su.
Tiếp theo, tôi mở chiếc hộp xốp chống sốc, lấy ra chiếc kính hiển vi quang học dã chiến hai mắt, đặt ngay ngắn lên mặt bàn thao tác bằng gỗ ép của xưởng mộc.
Tôi gắn nguồn pin dự phòng, bật bóng đèn LED chiếu sáng nền của kính hiển vi. Ánh sáng trắng xuyên qua tụ quang, rọi thẳng lên mâm mang mẫu. Bằng thao tác chuẩn xác của một bác sĩ pháp y quen làm việc trong điều kiện hiện trường khắc nghiệt, tôi lấy một giọt dung dịch huyền phù chứa mạt cưa đen nhỏ lên phiến kính lam trần, nhẹ nhàng hạ lá kính đậy lamen xuống để tránh tạo bọt khí.
Tôi đưa mắt vào thị kính, tay phải xoay ốc vĩ cấp để tìm tiêu cự ở độ phóng đại bốn mươi lần, sau đó chuyển sang vật kính bốn trăm lần và tinh chỉnh bằng ốc vi cấp.
Trường nhìn của kính hiển vi sáng rõ.
Hệ thống thần kinh của tôi giật nảy lên một chấn động dữ dội. Bàn tay đang giữ ốc vi cấp khẽ run rẩy.
Trước mắt tôi hoàn toàn không phải là những mảnh vụn cellulose hình chữ nhật hay những bó sợi thực vật mục nát của gỗ dổi. Nằm dày đặc trên nền dịch kính trong suốt là hàng ngàn vật thể hình bầu dục đối xứng hoàn hảo, kích thước chỉ khoảng bốn mươi đến sáu mươi micromet.
Đó là những nang trứng ký sinh trùng.
Vỏ ngoài của mỗi quả trứng cấu tạo bằng chất chitin ba lớp dày cộp, màu nâu đen bóng bẩy, bề mặt khảm những đường vân nổi hình răng cưa đan chéo vào nhau như lớp vảy giáp xác. Cấu trúc vỏ dày kiên cố này giải thích vì sao chúng có thể tồn tại nguyên vẹn hàng thế kỷ dưới đáy bùn yếm khí sâu thẳm mà không hề bị vi khuẩn hay nấm hoại thư phân hủy.
Nhưng điều làm tôi lạnh toát sống lưng nằm ở bên trong lớp vỏ chitin đó.
Dưới tác động của nhiệt độ ma sát từ lưỡi cưa và độ ẩm của giọt nước muối sinh lý tôi vừa nhỏ vào, lớp vỏ ngoài của các nang trứng bắt đầu xuất hiện những vết nứt tế vi. Bên trong mỗi quả trứng, phôi thai của ấu trùng bách túc cổ đại đang nằm cuộn tròn theo hình xoắn ốc. Chúng không hề chết. Chúng chỉ đang ngủ đông.
Những đốt thân tí hon trong suốt lấp lánh dưới ánh đèn LED hiển vi. Dọc hai bên thân phôi, từng đôi chân dạng móc câu nhỏ xíu bắt đầu có những xung động co thắt đầu tiên. Răng kìm ở phần đầu phôi thai khẽ cựa quậy, hai móc độc cong vút như đầu kim khâu đang chầm chậm mở ra rồi khép lại một cách vô thức.
Hàng vạn, hàng triệu sinh vật cổ đại nguy hiểm đang đồng loạt thức tỉnh từ giấc ngủ nghìn năm.
"Thế nào rồi bác sĩ?" Ông Sáu Tía tiến lại gần, giọng trầm đục lo lắng.
Tôi rời mắt khỏi thị kính, hít một hơi dài để lấy lại bình tĩnh, nhưng lồng ngực nặng trĩu như bị đá đè. Đôi mắt tôi cay xè dù đã có kính bảo hộ che chắn.
"Lực và các thợ mộc không phải bị nhiễm trùng máu hay trúng độc khí than thông thường," tôi chỉ tay vào ống kính hiển vi. "Họ đã hít phải hàng triệu trứng rết ngủ đông này vào phổi. Phổi người có nhiệt độ ba mươi bảy độ C, độ ẩm một trăm phần trăm và lưu lượng máu dồi dào. Đó là môi trường ấp nở hoàn hảo nhất trên thế giới đối với loài bách túc này."
Tôi đứng thẳng dậy, nhìn quanh gian xưởng hoang tàn.
Lớp mạt cưa đen không chỉ nằm trên mặt đất hay lưỡi cưa máy. Chúng bám đầy trên các mạng nhện chăng góc xưởng, phủ một lớp bụi mịn trên những chiếc quạt thông gió công nghiệp gắn trên vách tôn, và bám vào cả những bộ quần áo bảo hộ lao động cáu bẩn treo trên đinh rỉ.
Khi quạt thông gió chạy, đám bụi độc này đã bị thổi thẳng ra ngoài không gian làng xóm qua các ô thoáng. Nhưng tệ hơn cả, những người thợ mộc sau giờ làm việc đã mặc nguyên quần áo dính đầy mạt cưa đen này để trở về nhà, tiếp xúc với vợ con, ngồi lên giường chiếu, tắm rửa trong các bể nước sinh hoạt chung.
"Toàn bộ thợ xẻ đã bị nhiễm ký sinh giai đoạn xâm lấn sâu," tôi siết chặt hai nắm đấm, móng tay bấm mạnh vào lòng bàn tay qua lớp găng cao su. "Ấu trùng sau khi nở trong phế quản sẽ tiết ra enzyme phá hủy thành mao mạch phổi, chui vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch để tìm đường di chuyển về tủy sống. Nơi đó có dịch não tủy giàu dinh dưỡng nhất để chúng hoàn thiện các đốt thân."
Đúng lúc đó, từ bên ngoài sân xưởng, một tiếng quạ kêu thất thanh xé toạc màn mưa đêm.
Tiếng quạt cánh kinh hoàng của con gà nòi mặt quỷ lại vang lên dồn dập, kèm theo những tiếng rít the thé điên cuồng. Âm thanh kéo lê dây xích sắt va loảng xoảng vào chân tường gạch.
Tôi và ông Sáu Tía lập tức quay người lao ra phía cửa xưởng.
Dưới ánh đèn bão leo lét cắm ở góc sân, con gà nòi đang lùi sát vào chân tường, toàn bộ lông cổ xù đứng như một chiếc quạt rách, mỏ chĩa thẳng về phía con ngõ dẫn ra trạm xá xã Phù Khê. Đôi mắt lệch của nó đỏ rực lên dưới ánh chớp vừa lóe qua chân trời.
Từ phía con ngõ tối tăm ngập bùn đất, trong tiếng mưa dầm ào ạt, vẳng lại những tiếng gào thét đứt quãng trộn lẫn với tiếng cào xé điên dại của móng tay người cày trên mặt đường nhựa. Đám thợ mộc bị cách ly ở trạm xá xã đã bắt đầu vỡ ổ.