Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 1: Bát Diện Khí Hung - Chương 15: Chìa Khóa Mộng Gỗ
Tiếng động cơ chiếc Maybach gầm nhẹ rồi chìm dần vào màn mưa rả rích phía cổng ngoài. Dinh thự họ Trần lại rơi vào sự câm lặng quen thuộc của một lăng…
Nội dung chương
Tiếng động cơ chiếc Maybach gầm nhẹ rồi chìm dần vào màn mưa rả rích phía cổng ngoài. Dinh thự họ Trần lại rơi vào sự câm lặng quen thuộc của một lăng tẩm thu nhỏ giữa lòng Chợ Lớn.
Tôi đứng im nơi khúc quanh hành lang tầng hai, lưng áp chặt vào gờ tường đá hoa cương mát lạnh. Bóng tối bao phủ lấy không gian, chỉ có chút ánh sáng vàng đục từ ngọn đèn đường ngoài phố rọi qua khung cửa sổ vòm kiểu Pháp, in những vệt dài loang lổ lên sàn gỗ. Khang đã bỏ về phòng từ mười phút trước. Tiếng đóng cửa dằn dỗi của nó vẫn còn dư âm trong sự tĩnh mịch, nhưng sự hả hê độc địa trong ánh mắt nó thì bám chặt vào tâm can tôi.
Tôi cúi xuống nhìn bàn tay trái của mình. Dưới bóng tối mờ ảo, những đường vân sẫm màu đã bò lan qua khuỷu tay, thít chặt lấy từng thớ thịt. Cảm giác đau rát ban đầu chuyển thành một khối nặng trịch, tê dại. Các khớp ngón tay co duỗi phát ra tiếng lạo xạo khe khẽ, khô khốc hệt như hai thanh củi cọ sát vào nhau. Nhựa sống trong huyết quản tôi đang đặc quánh lại, phảng phất mùi dầu gỗ sưa hăng nồng mà chỉ khứu giác của tôi mới ngửi thấy rõ rệt.
Cha tôi đã đi tiếp phái đoàn đối tác ngoại giao. Lịch trình này kéo dài đến tận rạng sáng mai. Tôi chỉ có vài giờ đồng hồ ngắn ngủi trước khi bình minh ló rạng và bản hợp đồng chuyển nhượng khu đất Hoàng Phát được đặt lên bàn làm việc.
Tôi cất bước, nhấc từng bàn chân trần nhẹ nhàng trên nền gỗ lim lót sàn. Là một người học kiến trúc và thẩm định công trình cổ, tôi hiểu rõ kết cấu của ngôi biệt thự này. Từng thanh đà, từng tấm ván đều được xử lý chống ẩm bằng kỹ thuật ép nhiệt từ thời thuộc địa, nhưng ở những vị trí tiếp giáp giữa dầm chịu lực và tường bao, sự giãn nở nhiệt vẫn có thể tạo ra tiếng cọt kẹt phản bội. Tôi chọn đúng các điểm tim dầm để đặt trọng tâm, tiến thẳng về phía cuối hành lang.
Cánh cửa thư phòng của Trần Thế Hùng hiện ra trước mắt. Đó là một cánh cửa đôi bằng gỗ gõ đỏ dày bốn phân, chạm nổi họa tiết "tùng hạc diên niên" sắc sảo nhưng u ám.
Tôi vươn tay phải nắm lấy quả đấm cửa bằng đồng thau chạm rỗng. Khóa cơ khí bên ngoài đã được mở sẵn. Cha tôi không bao giờ dùng những ổ khóa số hay thiết bị quét vân tay hiện đại cho căn phòng này. Ông coi thường công nghệ phương Tây, bởi đối với một bậc thầy Lỗ Ban, những thứ vi mạch điện tử quá đỗi mỏng manh trước sự vận hành của phong thủy và mộc thuật.
"Két..."
Bản lề đồng cổ điển được tra dầu kỹ lưỡng chỉ phát ra một tiếng rên rỉ cực nhỏ khi cánh cửa mở hé. Tôi lách người vào trong, nhẹ tay khép cánh cửa lại cho đến khi chốt khóa khớp vào ổ nghe một tiếng "cách" khô gọn.
Không khí bên trong thư phòng đặc quánh mùi sáp ong, mùi giấy dó ẩm mốc và hương trầm xông phòng đã tắt từ lâu. Căn phòng rộng gần tám mươi mét vuông, trần nhà cao vút với những xà ngang bằng gỗ sao đen để trần. Ba mặt tường được bao bọc bởi những dãy tủ sách gỗ gụ thế kỷ 19 cao chạm trần, chứa đầy những thư tịch cổ, bản vẽ quy hoạch Sài Gòn từ thời Pháp thuộc và những cuốn sổ trích lục địa chính qua nhiều thời kỳ.
Chiếc bàn làm việc bằng gỗ trắc đen bóng ngự trị ở trung tâm, bề mặt phẳng lặng như mặt nước hồ đêm. Tôi không bận tâm đến những tập hồ sơ nằm ngay ngắn trên bàn. Thứ tôi tìm kiếm nằm sâu hơn nhiều.
Lời nói của Khang vẳng lại bên tai: "Chiếc ghế hành quyết dưới hầm sâu mười hai mét."
Lối dẫn xuống tầng hầm thứ ba không thể nằm ở những nơi thông thường như nhà kho hay khu vực kỹ thuật của dinh thự. Với một kẻ đa nghi và tôn sùng tà thuật như Trần Thế Hùng, cửa vào mật thất bắt buộc phải nằm ngay dưới tầm mắt của ông ta, trong không gian mà ông ta kiểm soát từng hơi thở mỗi ngày.
Tôi rút từ túi áo ra chiếc đèn pin chuyên dụng dùng cho thẩm định đồ cổ, bật nấc sáng thấp nhất. Ánh sáng vàng quét chậm rãi qua từng góc phòng. Tôi bắt đầu từ hệ thống tủ sách áp tường phía sau bàn làm việc.
Dãy tủ này chia làm bảy khoang lớn, đóng từ gỗ gụ mật dày dặn, nước vân đã ngả sang màu nâu đen sau hơn một thế kỷ. Mỗi khoang tủ đều chứa hàng trăm cuốn sách bìa da dày cộp. Tôi lướt ngón tay qua từng gáy sách, kiểm tra độ bám bụi và lực phản hồi. Nếu có cơ cấu trục xoay cơ học thông thường gắn sau gáy sách giả, bụi bẩn xung quanh sẽ có vết trượt vệt tròn. Nhưng tất cả đều tĩnh lặng, lớp bụi mịn bám đều đặn trên từng mép bìa.
Không có chốt gạt cơ khí hiện đại. Không có ổ khóa kim loại ngầm.
Tôi lùi lại hai bước, ngẩng đầu nhìn lên các cột gỗ ốp tường chia cắt các khoang tủ sách. Bốn cây cột gụ vuông vức, mỗi cạnh rộng hai mươi lăm phân, chạy thẳng từ sàn lên đỡ lấy dầm trần. Trên thân cột chạm khắc chìm các dải hoa văn chữ Vạn xen lẫn họa tiết mây lửa đời Nguyễn.
Tôi tiến lại gần cây cột nằm ở vị trí góc tây bắc của thư phòng - phương Càn, phương vị đại diện cho chủ nhân, cho người đứng đầu gia tộc theo bát quái đồ.
Bàn tay phải của tôi áp lên mặt gỗ gụ lạnh ngắt. Tôi bắt đầu gõ nhẹ bằng các đốt ngón tay, lắng nghe âm vang phản hồi từ bên trong.
"Cốc... cốc... cốc..."
Tiếng đục và đặc. Thân cột hoàn toàn là gỗ thịt nguyên khối. Tôi tiếp tục gõ dần xuống phía dưới, cách mặt sàn khoảng một mét hai, đúng tầm tay với của một người trưởng thành khi ngồi trên ghế tựa.
"Cộp."
Âm thanh phát ra đột ngột thay đổi. Tiếng vang thanh hơn, có độ rỗng rất nhỏ ẩn sâu sau lớp vỏ gỗ dày.
Tôi ghé sát mắt vào bề mặt cột, đưa ánh đèn pin rọi nghiêng một góc bốn mươi lăm độ. Dưới ánh sáng xiên, những đường nứt chân chim li ti hiện rõ trên lớp sơn then cũ kỹ. Nhưng khi nhìn kỹ vào hoa văn chữ Vạn chạm chìm, tôi nhận thấy sự bất thường ở các mối ghép.
Một người thợ mộc thông thường sẽ đục hoa văn trực tiếp lên thân cột. Nhưng ở đoạn này, hoa văn chữ Vạn thực chất là các thanh gỗ nhỏ được ghép lại với nhau bằng kỹ thuật mộng ngàm tinh xảo đến mức mắt thường khó lòng phân biệt. Không hề có một giọt keo dán hay chiếc đinh sắt nào. Các đường ghép chỉ khít khao bằng một sợi tóc, thuận theo chiều co ngót tự nhiên của thớ gỗ qua cả trăm năm.
Đây là kỹ thuật mộng âm dương của phái Lỗ Ban.
Tôi đưa bàn tay trái đã mộc hóa chạm vào bề mặt hoa văn. Một cảm giác kỳ lạ chạy dọc từ đầu ngón tay cứng đờ truyền thẳng vào lồng ngực. Từng đường vân gỗ trên da tôi dường như đang rung lên nhè nhẹ, đồng điệu với nhịp thở của khối gỗ gụ cổ xưa. Cảm giác đau đớn nhức nhối tạm thời lùi xa, thay vào đó là một sự liên kết vô hình nhưng rõ rệt. Tôi có thể cảm nhận được cấu trúc rỗng bên trong cột gỗ, cảm nhận được vị trí của những then cài đang ngậm chặt lấy nhau.
Hệ thống mộng này gồm sáu thanh gỗ trượt, tượng trưng cho Lục Hào trong Kinh Dịch. Muốn mở được chốt ngầm, người thao tác phải đẩy các thanh mộng theo đúng thứ tự cung vị trên thước Lỗ Ban, chuyển từ cung Hung sang cung Cát.
Tôi nhẩm lại các cung độ Lỗ Ban trong đầu. Thước Lỗ Ban bốn mươi hai phẩy chín centimet dùng cho khối xây dựng và nội thất chia làm tám cung: Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bản. Trong đó, bốn cung Cát là Tài, Nghĩa, Quan, Bản; bốn cung Hung là Bệnh, Ly, Kiếp, Hại.
Cha tôi là bậc thầy Hắc Lỗ Ban, nhưng để giữ cho cơ quan ngầm không bị kẹt cứng bởi sự biến dạng của gỗ theo mùa, quy luật âm dương tương sinh vẫn là điều bắt buộc phải tuân thủ.
Thanh gỗ đầu tiên ở vị trí góc trên bên trái mang hình một đốt trúc cách điệu. Tôi dùng đầu ngón trỏ tay phải ấn nhẹ. Thanh gỗ không nhúc nhích. Tôi chuyển sang dùng ngón trỏ của bàn tay trái - ngón tay đã cứng đờ như một mẩu gỗ mun.
Một lực đẩy dứt khoát truyền qua đốt ngón tay mộc hóa.
"Tách."
Thanh gỗ trượt nhẹ vào trong đúng ba phân, dừng lại ở vị trí tương ứng với cung "Nghĩa". Một rãnh trượt bên trong thân cột vừa được giải phóng.
Thanh thứ hai nằm ở vị trí đối xứng góc dưới bên phải. Tôi áp ngón tay vào, đẩy ngược từ dưới lên trên. Lực ma sát của gỗ cổ thụ rất lớn, lớp sáp lâu ngày đóng cứng trong khe mộng khiến chốt gỗ kêu rít lên một tiếng nhỏ trước khi trượt khớp vào vị trí cung "Quan".
Trán tôi lấm tấm mồ hôi. Nhịp tim đập thình thịch trong lồng ngực, dội vào màng nhĩ từng hồi dồn dập. Mỗi chuyển động của các thanh mộng đều đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối tính bằng từng milimet. Nếu đẩy sai thứ tự hoặc ép lệch một cung Hung, chốt gỗ tự hủy bên trong sẽ gãy vụn, khóa chết toàn bộ cơ quan vĩnh viễn, hoặc tệ hơn là kích hoạt bẫy ngầm mà người xưa cài cắm.
Tôi hít một hơi sâu, nén chặt sự căng thẳng đang chực trào. Hai thanh tiếp theo nằm ở vị trí trung tâm, lồng vào nhau theo kiểu mộng mang cá - một thanh tượng trưng cho Dương, một thanh tượng trưng cho Âm.
Tôi dùng cả hai tay. Bàn tay phải bằng xương thịt giữ thanh Âm kéo sang mạn trái, bàn tay trái mộc hóa giữ thanh Dương đẩy sang mạn phải. Hai khối gỗ chuyển động đồng thời, cọ sát vào nhau tạo ra thứ âm thanh khô khốc của cơ khí cổ truyền.
"Khục... rắc..."
Một tiếng động cơ học vang lên sâu bên trong thân cột. Khối then cài trung tâm bằng gỗ lim đen cuối cùng đã rơi xuống rãnh thoát.
Cây cột gụ khẽ rung lên. Lớp bụi mịn từ trần nhà rơi lả tả xuống vai áo vest của tôi.
Ngay phía sau lưng tôi, dãy tủ sách bằng gỗ gụ thế kỷ 19 đột ngột chuyển động. Không phải xoay tròn như những cánh cửa bí mật trong phim ảnh phương Tây, mà toàn bộ mảng tường đá hoa cương dày nửa mét cùng khoang tủ sách thứ tư từ từ trượt lùi vào trong vách khoảng ba tấc, sau đó dịch chuyển sang bên phải trên những con lăn bằng đá ngầm dưới sàn.
Tiếng ma sát trầm đục của khối đá nặng hàng tấn trượt trên ray đá làm rung chuyển sàn nhà, nhưng tiếng động bị hấp thụ gần như hoàn toàn bởi lớp thảm len dày và những vách gỗ tiêu âm xung quanh.
Một khoảng tối đen ngòm hiện ra sau bức tường vừa tách mở.
Một luồng khí lạnh buốt xộc thẳng vào mặt tôi. Thứ mùi này đậm đặc gấp mười lần mùi bốc ra từ công trường tháp Hoàng Phát.
Lồng ngực tôi thắt lại. Vết thương vô hình ở giữa ngực nhói buốt như có hàng chục mũi kim đang đâm xuyên qua da thịt. Bàn tay trái của tôi run rẩy, các thớ thịt mộc hóa căng cứng lên, phản ứng dữ dội với luồng tử khí đang cuồn cuộn trào ra từ miệng hầm.
Tôi rọi đèn pin vào khoảng không vừa lộ ra.
Hiện ra trước mắt tôi là một cầu thang xoắn ốc bằng đá xám thô ráp, không hề có lan can bảo vệ, xoáy tít xuống bóng tối sâu thẳm không nhìn thấy đáy. Từng bậc đá ướt đẫm hơi sương, rêu phong đen sì bám chặt vào các góc cạnh trơn trượt. Không có bất kỳ bóng đèn điện nào được lắp đặt dọc theo lối đi này.
Con đường dẫn xuống tầng hầm sâu mười hai mét đang há miệng chờ đợi, tựa như một cái họng khổng lồ của một con quái vật ẩn mình dưới lòng thành phố.
Tôi nhìn đồng hồ đeo tay. Đã gần một giờ sáng. Thời gian của tôi đang vơi dần theo từng nhịp thở.
Tôi siết chặt chiếc đèn pin trong tay phải, cắn răng nuốt cơn đau buốt nơi lồng ngực, rồi dứt khoát bước một chân qua khe cửa đá, đặt xuống bậc thang đầu tiên của lối đi tối om.