Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 1: Bát Diện Khí Hung - Chương 48: Hẻm Nhỏ Tây Đô
Tôi tắt đèn pha của chiếc xe bán tải khi bánh xe vừa lăn qua cây cầu sắt cũ kỹ bắc ngang dòng kênh đen kịt của quận Năm. Năm giờ mười lăm phút sáng, khu…
Nội dung chương
Tôi tắt đèn pha của chiếc xe bán tải khi bánh xe vừa lăn qua cây cầu sắt cũ kỹ bắc ngang dòng kênh đen kịt của quận Năm. Năm giờ mười lăm phút sáng, khu Chợ Lớn vẫn chưa thức giấc hẳn. Không khí ẩm ướt phả vào qua khe kính xe hạ thấp, mang theo mùi ngai ngái của rêu phong, rác mục và mùi dầu mỡ của những quầy hủ tiếu đêm chuẩn bị dọn dẹp.
Tôi tấp xe vào một khoảng đất trống nằm khuất sau bức tường loang lổ của một trạm biến áp bỏ hoang.
Rời khỏi buồng lái, tôi kéo chặt chiếc áo khoác gió sẫm màu lên sát cằm. Cánh tay trái buông thõng bên sườn, nặng trịch và cứng nhắc hệt một khúc củi tẩm sáp. Mỗi bước chân của tôi đều phải điều chỉnh trọng tâm sang bên phải để bù đắp cho sự mất cân bằng kỳ dị này. Dưới lớp vải dày, băng gạc trên ngực ép chặt vào vết nứt xương ức. Dù đã thay gạc mới trước khi rời tòa tháp, dịch sưa đỏ quánh đặc vẫn không ngừng rỉ ra, dinh dính và lạnh ngắt ở vùng da bụng.
Theo hồ sơ trích lục địa chính của tập đoàn Trần Thị, khu đất tranh chấp CL-097 nằm lọt thỏm trong vùng lõi của một cụm dân cư cổ xưa có tên Hẻm Tây Đô. Vùng này vốn là khu định cư của những thợ thủ công người Hoa và người Việt từ cuối thế kỷ mười chín, một quần thể kiến trúc pha trộn giữa nhà phố thương mại kiểu Phúc Kiến và biệt thự trệt thời Pháp thuộc. Nhưng trên bản đồ số công khai của thành phố, toàn bộ khu vực này chỉ được hiển thị bằng một khối màu xám đặc quánh, không có tên hẻm con, không có số nhà chi tiết.
Tôi bước vào miệng con hẻm đầu tiên.
Mặt đường hẹp đến mức hai chiếc xe máy đi ngược chiều cũng phải nghiêng ghi đông mới có thể lách qua. Hai bên tường gạch bám đầy địa y xanh xám, ẩm ướt rịn nước từ những đường ống dẫn nước thải cũ kỹ giăng chằng chịt như mạng nhện. Phía trên cao, các ban công bằng gỗ và sắt uốn của hai dãy chung cư đối diện vươn dài ra, che khuất gần như toàn bộ vòm trời buổi sớm. Bầu trời chỉ còn lại một vệt sáng mỏng manh, nhợt nhạt cắt ngang đỉnh đầu.
Một cảm giác ngột ngạt quen thuộc của đô thị ép chặt lấy lồng ngực tôi. Không gian ở đây chật chội, tù túng đến mức từng hơi thở cũng trở nên nặng nhọc.
Mùi hương bắt đầu thay đổi rõ rệt khi tôi đi sâu vào mười mấy mét. Mùi khói xăng xe ngoài trục đường lớn hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho vị ngai ngái, nồng hắc của hàng chục vị thuốc bắc từ những kho thảo dược nằm ẩn mình sau những cánh cửa gỗ đóng kín mít. Mùi thục địa ngọt gắt quyện cùng mùi quế chi cay nồng, rồi lại bị xộc lên bởi mùi gỗ ẩm mục của những giàn phơi quần áo bằng tre đã gãy vụn theo năm tháng.
Tôi dừng lại dưới một bóng đèn tròn vàng vọt, lấy chiếc điện thoại phụ ra khỏi túi quần. Tôi bật ứng dụng định vị vệ tinh chuyên dụng mà mình thường dùng để đo đạc trắc địa công trình.
Màn hình điện thoại sáng lên, nhưng chấm xanh định vị vị trí của tôi lập tức nhấp nháy điên cuồng. Vòng tròn hiển thị sai số dãn rộng ra từ vài mét lên đến cả trăm mét, rồi đột ngột văng tít ra giữa lòng sông Sài Gòn, cách đây gần bảy cây số.
Tôi cau mày, mở ứng dụng la bàn số tích hợp cảm biến từ trường.
Kim la bàn trên màn hình bắt đầu quay tròn như một cánh quạt mất kiểm soát. Nó giật cục từng hồi, chỉ về hướng Bắc một giây rồi lập tức đảo ngược về hướng Nam, sau đó đứng yên ở một góc chéo vô lý.
Thiết bị điện tử hoàn toàn mất phương hướng.
Tôi ngước mắt nhìn lên kết cấu của những ngôi nhà xung quanh.
Đây không phải là một sự cố vô tình do nhiễu sóng viễn thông. Các góc mái hiên bằng ngói âm dương của hai dãy nhà cổ không hề song song với nhau. Ngôi nhà bên trái nhô ra một tấc theo hướng Càn, ngôi nhà bên phải lại thụt vào nửa thước theo hướng Tốn. Những đường thoát nước trên sàn gạch tàu dưới chân tôi được lát nghiêng theo hình chữ chi uốn lượn, liên tục bẻ gãy phương vị của dòng khí tự nhiên.
Một ba cục phong thủy âm dương nghẽn mạch cực kỳ tinh vi.
Kẻ xây dựng nên cụm hẻm này cách đây hàng trăm năm đã cố tình sắp xếp các cấu kiện gỗ chịu lực, rãnh nước ngầm và độ vát của các bờ tường để tạo thành một mê cung vô hình. Long khí từ các mạch ngầm chảy vào đây sẽ bị các mộng gỗ và tường gạch phân tán, xoay chuyển liên tục, khiến bất kỳ luồng từ trường nào từ bên ngoài chiếu vào cũng bị bẻ cong và triệt tiêu sạch sẽ. Vệ tinh trên quỹ đạo hàng trăm cây số hoàn toàn bất lực trước những thủ pháp mộc đạo cổ xưa này.
Tôi cất điện thoại vào túi. Dựa vào công nghệ hiện đại ở nơi này là một sai lầm chết người.
Cơn đau nơi lồng ngực lại nhói lên. Vết nứt cựa quậy, dịch sưa tanh nồng trào ra làm rát bỏng phần da thịt còn cảm giác. Kỳ lạ thay, khi thiết bị điện tử tê liệt, thì cánh tay trái cứng đờ của tôi lại bắt đầu có phản ứng.
Các thớ cơ bằng gỗ lim bên trong bắp tay tôi rung lên nhè nhẹ. Một luồng nhiệt lạnh buốt chạy dọc theo các đường vân gỗ ẩn dưới lớp da chết, truyền thẳng lên bả vai rồi nối liền với vết thương nơi xương ức.
Cơ thể đã mộc hóa của tôi đang cộng hưởng với một thứ gì đó nằm sâu trong con hẻm.
Nơi nào có gỗ quý cổ thụ, nơi nào có mộc khí thuần khiết hoặc tà độc tích tụ, thân xác bị yếm bùa này sẽ tự động cảm nhận được. Sự giễu cợt cay đắng của số phận khiến tôi trở thành một chiếc la bàn sống cho chính thứ thuật pháp đang từng ngày tước đoạt mạng sống của mình.
Tôi nhấc chân, lần theo hướng mà cánh tay trái bị hút về.
Con hẻm rẽ thành ba nhánh nhỏ tối om. Nhánh bên trái dẫn sâu vào một khu tập thể cũ kỹ với những bức tường bong tróc lòi cả gạch đỏ, sực nức mùi dầu hỏa và thức ăn ôi thiu. Nhánh chính diện đâm thẳng vào một bức tường bình phong bằng đá phủ kín rêu xanh. Tôi chọn nhánh bên phải, nơi có một lối đi lát đá xanh hẹp chỉ vừa một người lách qua.
Không gian xung quanh càng lúc càng im ắng đến kỳ lạ. Tiếng ồn ào của thành phố hiện đại như bị một tấm màn vô hình chặn đứng lại phía sau lưng.
Dưới chân tôi, những phiến đá xanh nhẵn thín vì hàng thế kỷ người qua lại, trơn trượt bởi những lớp rêu mốc ẩm ướt. Cứ cách vài mét, một chiếc cột gỗ lim đỡ lấy góc mái đua của những căn nhà cổ lại hiện ra trong bóng mờ. Tôi đưa bàn tay phải chạm vào một thân cột. Gỗ lim đen bóng, rắn chắc như thép, trên thân cột có những vết khắc chữ Hán cổ đã mờ nhạt theo thời gian, nhưng mộng nối giữa cột và xà ngang vẫn khít khao đến mức một sợi tóc cũng không thể lọt qua.
Toàn bộ kết cấu chịu lực của những dãy nhà này đều dùng mộng gỗ, không có dấu vết của đinh ốc kim loại hiện đại.
Tôi đi qua một khúc quanh chữ U gắt gao. Cảm giác ngột ngạt của những bức tường bê tông cao ngút ngàn của các chung cư cũ xung quanh đè nặng xuống đỉnh đầu. Những ô cửa sổ chấn song gỗ đóng chặt, đen ngòm như những hốc mắt trống rỗng đang dõi theo từng bước đi khập khiễng của kẻ xâm nhập.
Gió sớm thổi qua khe hẹp giữa hai bức tường, mang theo một làn hương khác biệt.
Mùi ngai ngái của thuốc bắc và mùi ẩm mốc của rêu xanh lùi dần. Thay vào đó là một mùi thơm khô ráo, thanh khiết của vỏ dâu tằm phơi nắng, hòa lẫn với mùi ngòn ngọt, the mát của tinh dầu long não và gỗ sưa đỏ già cỗi. Mùi hương này không hề mang theo tử khí nồng nặc như trong căn hầm thứ ba của tập đoàn Trần Thị, mà nó mộc mạc, tĩnh lặng và sắc sảo.
Cánh tay trái của tôi giật mạnh một cái. Một cơn co rút ngắn ngủi chạy dọc từ ngón tay trỏ lên đến khuỷu tay.
Tôi dừng bước.
Giữa không gian tĩnh mịch của con hẻm cụt, một âm thanh đơn độc bắt đầu vang lên, phá vỡ sự im lìm của buổi sớm mai.
Cốc... cốc... cắc.
Tiếng gõ dứt khoát, đều đặn vang lên từ phía sau một khúc quanh có giàn hoa giấy rủ xuống thấp tè. Đó là tiếng búa gỗ gõ vào cán đục thép, âm thanh đanh gọn nện vào một khối gỗ cứng, tạo nên những nhịp điệu chính xác đến từng phần nghìn giây.
Cốc... cốc... cắc.
Mỗi nhịp gõ vang lên, vết thương trên ngực tôi lại đập theo một nhịp tương ứng. Sự va chạm giữa kim loại và thớ gỗ đằng xa dường như đang tạo ra một làn sóng chấn động vô hình, quét qua con hẻm ẩm ướt, đập thẳng vào khối gỗ sưa đang phong ấn trong xương ức tôi.
Tôi bước chậm lại, nén tiếng thở dốc đang dâng lên trong cuống họng. Bàn tay phải nắm chặt lấy mép áo khoác, tôi lách qua giàn hoa giấy đầy gai nhọn.
Trước mắt tôi hiện ra một khoảng sân nhỏ lát gạch tàu đỏ au, sạch bong không một cọng rác. Khoảng sân nằm lọt thỏm giữa bốn bức tường gạch cổ cao vút, bên trên được che chắn bởi một tán cây dâu tằm cổ thụ xum xuê cành lá. Dưới gốc dâu tằm, một cánh cổng gỗ hai cánh mở hờ, bên trên treo một tấm biển gỗ mộc mạc khắc ba chữ son đã phai màu:
"Bạch Gia Mộc".
Tiếng đục đẽo phát ra từ chính bên trong cánh cổng ấy.
Mùi gỗ dâu tằm ngâm nước và mùi mùn cưa mới bào bay ra ngào ngạt, át đi toàn bộ uế khí của thành phố chật chội bên ngoài. Tôi đứng sững lại trước bậc thềm đá của xưởng mộc, bàn tay cứng đờ khẽ run lên trong túi áo khoác, chuẩn bị đối mặt với cánh cửa duy nhất có thể cứu vãn mạng sống của mình.