Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 1: Bát Diện Khí Hung - Chương 68: Mùi Hương Quen Thuộc

Gió đêm từ ngã ba đường thốc vào vòm lá cây đa, cuốn tung những hạt bụi đất mịn cuối cùng còn sót lại trên tấm bạt nilon. Tôi siết chặt mảnh vải điều…

Nội dung chương

Gió đêm từ ngã ba đường thốc vào vòm lá cây đa, cuốn tung những hạt bụi đất mịn cuối cùng còn sót lại trên tấm bạt nilon. Tôi siết chặt mảnh vải điều rách nát trong lòng bàn tay phải, còn bàn tay trái mộc hóa đã bắt đầu mất dần cảm giác nhạy bén, cứng đờ tựa hồ như một khúc gỗ trắc đen bị chôn dưới bùn lầy lâu năm.

Thanh Nhã thu dọn nhanh chóng đống dụng cụ vào chiếc túi vải thô. Cô nhìn tôi, đôi mắt sáng dưới ánh đèn đường vàng vọt lộ rõ vẻ lo ngại:

- Anh giữ mảnh vải đó làm gì? Oán khí trên đó dù đã bị tẩy bớt bằng nước vỏ dâu, nhưng tà tính vẫn còn bám chặt vào sợi dệt. Cầm lâu bên người chỉ khiến cánh tay anh đông cứng nhanh hơn thôi.

- Tôi cần xác nhận một chuyện. - Tôi đáp, giọng khàn đặc vì hít phải khói khét của mớ tóc chết trôi vừa bị thiêu hủy. - Mùi hương này rất đặc thù. Nó không thuộc về những kẻ hành nghề bùa chú trôi nổi ngoài bến xe hay chợ trời. Tôi phải quay về dinh thự ngay bây giờ.

Thanh Nhã không gặng hỏi thêm. Cô hiểu rõ tính tôi một khi đã tìm ra đầu mối kết cấu của một bản vẽ hay một trận đồ. Cô dặn tôi giữ liên lạc qua chiếc điện thoại phụ rồi nhanh chóng hòa vào bóng tối của những con hẻm ngoằn ngoèo khu Chợ Lớn.

Tôi ngồi vào ghế lái chiếc xe bán tải cũ, ném túi nilon chứa mảnh vải đỏ lên ghế phụ bên cạnh. Khi động cơ gầm lên, tôi hạ kính cửa sổ để gió lùa vào khoang lái. Mùi xăng xe, mùi cống rãnh đô thị và hơi ẩm nồng nặc của sông Sài Gòn ùa vào mũi, nhưng tất cả những thứ mùi hỗn tạp ấy đều không thể xóa nhòa mùi hương kỳ dị đang tỏa ra từ mảnh vải.

Đó là hương trầm Tây Tạng loại thượng phẩm, nhưng bị biến tính bởi một tỷ lệ pha trộn tàn nhẫn. Trầm hương tự nhiên mang lại cảm giác thanh tịnh, ấm áp nơi đầu mũi, song thứ hương trên tay tôi lại mang một vị ngọt ngào lạnh buốt thấu tận xương tủy, xen lẫn mùi tanh nồng của máu tim gia súc và vị hăng ngai ngái của bột chu sa nguyên chất khai thác từ vỉa đá sâu.

Trong suốt hai mươi lăm năm lớn lên dưới mái nhà họ Trần, tôi đã ngửi thấy mùi hương này hàng trăm lần. Nó xuất hiện mỗi khi cha tôi - Trần Thế Hùng - hoàn tất một hợp đồng thâu tóm đất đai lớn, hoặc sau những đêm ông tự giam mình hàng giờ đồng hồ trên tầng lầu biệt lập.

Chiếc xe lăn bánh qua những đại lộ thênh thang rồi rẽ vào khu biệt thự Pháp cổ nằm ẩn mình sau những hàng cây dầu cổ thụ trăm tuổi tại trung tâm thành phố. Khác với sự ồn ào không ngủ của Chợ Lớn, nơi này chìm trong sự im lặng đặc quánh của giới siêu giàu. Những bức tường rào bằng đá hoa cương cao vút, những cánh cổng sắt đúc uốn lượn hình hoa văn dây leo che giấu hoàn toàn cuộc sống xa hoa lẫn những bí mật đen tối bên trong.

Hai giờ bốn mươi phút sáng.

Căn dinh thự họ Trần hiện ra như một khối kiến trúc xám xịt khổng lồ dưới bầu trời đêm mây mù. Tòa nhà ba tầng được xây dựng từ thập niên ba mươi của thế kỷ trước, với những cột trụ Ionic đồ sộ, các ô cửa sổ mái vòm bọc chấn song sắt dày và lớp vôi vàng đã ngả màu rêu phong theo thời gian. Nhưng bên dưới vẻ ngoài cổ kính sang trọng ấy là một cấu trúc ngầm sâu mười hai mét, nơi đặt Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng và hình nhân trấn nghiệp mang họ tên bát tự của chính tôi.

Tôi tắt đèn pha từ đằng xa, để xe trôi êm ái vào góc sân phụ rợp bóng cây sứ cổ thụ. Người bảo vệ ca đêm gục đầu ngủ gật trong chòi gác kính, hoàn toàn không nhận ra tiếng lốp xe lăn trên nền sỏi. Tôi luồn người qua cánh cửa ngách dành cho người làm, bước chân nhẹ nhàng không gây ra một tiếng động nhỏ.

Mỗi viên gạch bông, mỗi bậc cầu thang gỗ lim trong căn nhà này đều nằm sâu trong trí nhớ của tôi từ thuở ấu thơ. Khi một người học về kiến trúc và kết cấu chịu lực, họ sẽ nhìn ngôi nhà theo từng thớ gỗ, từng điểm tựa và từng góc chết của tầm nhìn. Tôi biết chính xác bậc thang nào sẽ kêu cọt kẹt nếu dẫm phải, thanh xà nào truyền âm thanh vang nhất lên tầng trên.

Tôi rút mảnh vải điều ra khỏi túi áo khoác, đưa lên mũi hít sâu một hơi để giữ chặt ký ức khứu giác.

Khắp tầng trệt nồng nặc mùi nước hoa xịt phòng đắt tiền hương lavender do đám người làm xịt vào buổi tối. Mùi hương công nghiệp đó cố tình che lấp sự ẩm mốc của một công trình cổ. Nhưng khi tôi bước lên cầu thang uốn lượn dẫn lên tầng hai, mùi hương lavender nhạt dần, nhường chỗ cho mùi sáp ong đánh bóng gỗ sàn.

Cánh tay trái của tôi khẽ giật liên hồi. Lớp vỏ da xù xì cọ xát vào lớp vải áo sơ mi, phát ra những tiếng sột soạt khô khốc. Mỗi bước tôi tiến gần về phía hành lang phía đông tầng hai, những đường vân gỗ dưới da tôi lại căng rát như bị kim châm. Cơ thể mộc hóa của tôi dường như đang cộng hưởng với một nguồn tà khí cùng gốc gác đang lẩn khuất đâu đây.

Hành lang tầng hai trải thảm len dày màu đỏ sẫm, hai bên tường treo những bức tranh sơn dầu tả cảnh phong cảnh phương Tây ảm đạm. Cuối dãy hành lang chính là thư phòng của cha tôi. Căn phòng rộng lớn này luôn khóa trái bằng khóa cơ kết hợp mật mã điện tử. Đó là cấm địa đối với tất cả mọi người trong nhà, kể cả người vợ sau của ông và Trần Vĩnh Khang.

Tôi dừng lại trước cửa phòng của Vĩnh Khang trước. Cửa phòng nó hé mở một khe nhỏ, bên trong tối om, chỉ có tiếng ngáy khò khè đứt quãng vọng ra. Mùi rượu ngoại đắt tiền và mùi khói xì gà nồng nặc phả ra từ căn phòng của đứa em cùng cha khác mẹ.

Tôi đứng im trước cửa phòng nó suốt hai phút, tập trung lắng nghe và phân tích từng tầng mùi vị trong không khí.

Không có.

Trong phòng Vĩnh Khang chỉ toàn mùi hưởng lạc xa xỉ của một gã thiếu gia bất tài, hoàn toàn không có lấy một hạt bụi chu sa hay một sợi khói trầm Tây Tạng. Một kẻ nông cạn, bốc đồng và sợ chết như nó không bao giờ dám giữ thứ hương liệu ma quái kia bên giường ngủ.

Vậy thì khúc rễ dâu tằm bọc vải điều đào được dưới gốc đa ngã ba đường đến từ đâu? Ai đã chuẩn bị sẵn cho nó thứ pháp cụ tàn độc ấy để đi cắm đinh phá hoại khu đất vàng Chợ Lớn?

Tôi rời khỏi cửa phòng Vĩnh Khang, bước chân vô thanh hướng thẳng về phía cuối hành lang.

Càng đến gần cánh cửa gỗ gõ đỏ của thư phòng Trần Thế Hùng, mùi hương trên mảnh vải trong túi áo tôi càng trở nên sống động. Nó không còn là một ký ức xa xăm, mà đang hiện hữu rõ ràng từng phân tử trong không khí. Thứ hương thơm quái đản này dày đặc đến mức dường như có thể nếm được vị đắng chát nơi cuống họng.

Cánh cửa thư phòng đóng kín mít. Hai ngọn đèn tường bằng đồng chiếu ánh sáng vàng vọt lên tay nắm cửa mạ vàng sáng loáng.

Tôi quỳ một gối xuống sàn thảm, áp mũi sát vào khe hở hẹp giữa chân cánh cửa và sàn nhà.

Một luồng gió lạnh buốt từ bên trong thổi nhẹ ra qua khe cửa. Cùng với luồng gió ấy là mùi trầm hương Tây Tạng trộn chu sa thượng hạng ùa ra mãnh liệt. Độ đậm đặc của nó cao gấp mười lần so với những gì còn lưu lại trên mảnh vải rách.

Ruột gan tôi thắt lại từng cơn.

Bàn tay phải của tôi bấu chặt vào mép thảm len. Nghi vấn tồi tệ nhất đang dần biến thành sự thật trần trụi.

Tôi rút chùm chìa khóa đa năng và một thanh thép mỏng chuyên dùng để móc chốt cửa từ trong túi quần. Trước khi đi du học ngành kiến trúc, tôi từng dành cả năm trời nghiên cứu các loại khóa cơ cổ điển. Khóa cửa thư phòng của cha tôi là loại khóa chốt ba nấc sản xuất từ Đức vào thập niên năm mươi, cực kỳ chắc chắn nhưng lại có một điểm yếu chết người ở lẫy hãm thứ hai.

Tôi nín thở, lắng nghe tiếng nhịp tim đập thình thịch bên tai. Cánh tay trái cứng ngắc tựa vào khung cửa để giữ thăng bằng, các ngón tay phải khéo léo luồn thanh thép vào ổ khóa.

"Tách."

Một tiếng động cơ học cực nhỏ vang lên khô khốc trong đêm vắng. Lẫy khóa bật mở.

Tôi xoay nhẹ quả đấm cửa, đẩy cánh gỗ dày sang một bên vừa đủ để một thân người lách qua, rồi nhanh chóng khép cửa lại, cài then trong cẩn thận.

Thư phòng của Trần Thế Hùng chìm trong bóng tối dày đặc. Mùi hương trầm ma quái bao trùm toàn bộ không gian rộng lớn hàng trăm mét vuông. Tôi không dám bật đèn chùm, chỉ dùng đèn pin mini ánh sáng đỏ gắn trên móc khóa để rọi đường. Ánh sáng đỏ gom lại một điểm hẹp, quét qua những giá sách cao chạm trần chất đầy tài liệu trích lục địa chính, bản đồ quy hoạch thành phố qua các thời kỳ và hàng loạt pho sách cổ bọc da sờn rách viết bằng chữ Hán Nôm.

Ở giữa phòng là chiếc bàn làm việc đồ sộ bằng gỗ mun đen bóng. Trên mặt bàn không hề có máy vi tính xách tay hay hồ sơ thương mại thông thường. Đặt ngay ngắn ở trung tâm bàn là một chiếc la bàn phong thủy bằng đồng cổ, một nghiên mực chu sa đã khô cạn đáy và một chiếc hộp gỗ trắc dài chừng hai gang tay.

Tôi bước lại gần chiếc bàn, tim đập dồn dập từng chặp.

Tôi mở nắp chiếc hộp gỗ trắc. Bên trong lót một lớp lụa vàng đã ố màu. Trống rỗng. Nhưng hình dáng lòng hộp lõm xuống rất rõ ràng: một khuôn chứa dành cho hai chiếc đinh dài bảy tấc và một ngăn nhỏ chứa bột bùa.

Mùi hương không phát ra từ chiếc hộp này. Nó chỉ là vật chứa tạm thời.

Nguồn phát thực sự của làn hương nồng nặc đang nằm ở một góc khác của căn phòng.

Tôi lần theo luồng khí lạnh đang cuộn tròn dưới chân, bước vòng qua chiếc bàn làm việc lớn, tiến về phía bức tường phía sau lưng ghế chủ tọa. Nơi đó treo một bức hoành phi lớn thếp vàng bốn chữ "Bảo Gia Vạn Đại" viết theo lối chữ thảo sắc lạnh như gươm đao.

Dưới bức hoành phi là một chiếc két sắt âm tường khổng lồ bằng thép hợp kim, loại nặng hơn nửa tấn thường dùng trong các ngân hàng thương mại thời trước.

Khi tôi đưa mũi lại gần mép cửa két sắt, mùi trầm hương Tây Tạng trộn máu và chu sa xộc thẳng vào mũi mạnh đến mức khiến tôi suýt sặc.

Chính là nó.

Mùi hương từ kẽ nứt của cánh cửa két sắt này trùng khớp với mùi hương trên mảnh vải điều dùng để bọc khúc rễ dâu tằm yếm thắng dưới gốc đa. Không sai lệch dù chỉ một phần triệu.

Tôi quan sát kỹ khe hở hẹp chạy dọc theo mép gioăng cao su của cánh cửa két sắt. Lớp gioăng cách nhiệt màu đen ở góc trên bên phải đã bị chai cứng và rách một vệt nhỏ dài chừng hai đốt ngón tay. Từ vệt nứt ấy, một lớp bụi mịn màu đỏ thẫm bám li ti trên bề mặt thép xám tro.

Tôi đưa ngón tay trỏ quét nhẹ lên lớp bụi đỏ, rồi đưa lên đầu lưỡi nếm thử.

Vị mặn chát của muối khoáng, vị cay gắt của chu sa thượng hạng, và vị tanh lợm giọng của máu khô.

Một cảm giác chua xót và phẫn nộ tột cùng dâng trào trong lồng ngực tôi, bóp nghẹt khí quản.

Trần Vĩnh Khang không hề tự mình tìm kiếm tà thuật. Đứa em trai ngông cuồng của tôi không đủ trình độ, không đủ bản lĩnh, và càng không đủ kiến thức phong thủy để chạm vào những cấm thuật Lỗ Ban thâm sâu bực này.

Kẻ thực sự đứng sau toàn bộ màn kịch này, kẻ đã mở chiếc két sắt này ra, tự tay lấy những khúc rễ dâu tẩm máu người chết đuối, tự tay rắc bột chu sa và ướp hương trầm Tây Tạng lên mảnh vải điều rồi trao nó cho Vĩnh Khang - chính là người cha mà tôi từng kính trọng.

Trần Thế Hùng chưa từng đứng ngoài cuộc chơi như một vị trọng tài lạnh lùng quan sát hai đứa con tranh giành quyền thừa kế. Ông ta không hề thử thách năng lực của Vĩnh Khang. Ông ta đang biến đứa con thứ thành một công cụ xua quân tiên phong, dùng bàn tay của nó để thực hiện những nước cờ đẫm máu nhất trong trận đồ phong thủy mà tay ông ta không tiện nhúng vào trực tiếp.

Mục tiêu của ông ta là gì?

Phá nát long mạch khu Chợ Lớn? Ép các khu dân cư cổ phải giải tỏa để tập đoàn Trần Thị thâu tóm toàn bộ dải đất vàng ven kênh Tàu Hủ? Hay tất cả những thứ đó chỉ là bước đệm để chuẩn bị cho việc cắm 108 cây đinh đồng xuống toàn bộ các điểm huyết mạch của thành phố?

Tôi đứng chết trân trước chiếc két sắt, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau đến mức bật máu tươi nơi khóe môi.

Suốt bao nhiêu năm qua, ông ta đóng vai một người cha nghiêm khắc nhưng công bằng, gửi tôi ra nước ngoài học hành đàng hoàng, trao cho tôi quyền điều hành các dự án lớn, tỏ vẻ hài lòng khi tôi dùng kiến thức hiện đại để phát triển tập đoàn. Nhưng đằng sau tấm bình phong đạo mạo ấy, ông ta nuôi nấng tôi như một vật chứa nghiệp béo tốt, chờ ngày hiến tế nơi tầng hầm sâu mười hai mét. Và giờ đây, ông ta lại trang bị tà khí giết người cho đứa con trai thứ để nó đi gieo rắc tai ương khắp thành phố.

Đối với người đàn ông đó, máu mủ ruột rà chẳng qua chỉ là những quân cờ bằng gỗ trên bàn cờ quyền lực vô tận của ông ta.

Cơn giận dữ bùng lên khiến luồng nhựa sưa trong lồng ngực tôi sôi trào. Cánh tay trái mộc hóa run lên bần bật, lớp vỏ gỗ nứt toác phát ra tiếng rắc rắc khe khẽ. Tôi phải dùng bàn tay phải nắm chặt lấy cổ tay trái, cố gắng đè nén cơn xung động nội tại đang muốn xé toạc cơ thể mình ra.

Tôi phải rời khỏi đây ngay lập tức. Biết được sự thật này đồng nghĩa với việc tôi đã chính thức bước qua lằn ranh đỏ. Nếu cha tôi phát hiện tôi đã đột nhập vào thư phòng và khám phá ra bí mật của chiếc két sắt, chiếc bẫy phong thủy sẽ lập tức khép lại trước khi tôi kịp tìm cách cứu lấy chính mình.

Tôi quay người, cẩn thận lau sạch vết dấu ngón tay trên mép cửa két sắt bằng vạt áo.

Vừa bước được hai bước về phía cửa ra vào, đôi tai tôi bỗng giật nảy lên.

Từ phía hành lang bên ngoài, xuyên qua lớp gỗ gõ đỏ dày dặn của cánh cửa thư phòng, một âm thanh nặng nề vang lên phá tan sự tĩnh mịch của đêm khuya.

"Thình... thình... thình..."

Tiếng bước chân.

Đó không phải là bước chân rón rén của kẻ đi trộm, cũng không phải là bước chân nhẹ tênh của người hầu gái. Đó là tiếng bước chân dồn dập, nặng trịch của một đôi giày da đế cứng nện thẳng xuống sàn gỗ không thèm kiêng nể.

Tiếng bước chân ấy đang tiến lại gần thư phòng với tốc độ rất nhanh, kèm theo tiếng thở dốc đầy bực bội và tiếng kim loại va chạm leng keng - âm thanh của một chùm chìa khóa riêng đang được rút ra khỏi túi quần.

Khoảng cách chỉ còn chưa đầy mười mét.

Tôi đứng chôn chân giữa căn thư phòng tối tăm, tim đập thắt lại, ánh mắt khóa chặt vào tay nắm cửa mạ vàng đang bắt đầu từ từ lay động.

Chương khác

Xem thêm