Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 2: Đoạt Mệnh Nhổ Đinh - Chương 14: Chợ Đồ Cũ Chợ Lớn

Ánh đèn pha từ ba chiếc xe tải của tập đoàn Trần Thị quét rực một góc đường Nguyễn Trãi, hắt bóng những dãy nhà phố thương mại thời Pháp thuộc lên nền…

Nội dung chương

Ánh đèn pha từ ba chiếc xe tải của tập đoàn Trần Thị quét rực một góc đường Nguyễn Trãi, hắt bóng những dãy nhà phố thương mại thời Pháp thuộc lên nền trời đêm ẩm ướt. Thanh Nhã lôi mạnh vạt áo tôi, kéo tôi nép sâu vào hốc tối dưới chân cầu thang một căn chung cư mục nát xây từ thập niên sáu mươi.

Mùi ẩm mốc của rêu phong bám trên tường vôi bong tróc hòa cùng mùi dầu máy khét lẹt xộc thẳng vào cánh mũi. Phía ngoài lộ lớn, tiếng đế giày bảo hộ nện ầm ĩ xuống mặt đường nhựa kèm theo những tiếng quát tháo cộc cằn của đám tay chân do Trần Vĩnh Khang phái tới. Chúng đập mạnh vào cửa cuốn của mấy xưởng cưa, tra hỏi từng chủ vựa gỗ về tung tích của một người đàn ông có mùi nhựa cây và một cô gái mang hòm đồ nghề mộc.

Tôi ép lưng vào bức tường xi măng lở loét, nín thở. Khớp ngón tay của bàn tay trái cứng đờ như một khúc củi lim phơi khô qua nhiều mùa mưa nắng, mỗi lần co duỗi đều phát ra tiếng răng rắc khô khốc bên trong thớ thịt. Vết nứt trên ngực sau đợt phản phệ ở bến cảng Waterfront Plaza vẫn không ngừng rỉ ra thứ dịch nhờn màu đen quánh, bốc lên mùi hăng hăng đặc trưng của gỗ sưa ngâm dưới bùn lăng mộ.

- Cởi chiếc áo khoác vest đó ra mau - Thanh Nhã thì thầm, giọng nói dứt khoát rành rọt giữa tiếng động cơ xe tải gầm rú ngoài phố.

Cô rút từ trong chiếc tay nải bằng vải bạt sờn rách ra một chiếc áo sơ mi bạc màu dính đầy bụi mạt cưa, cùng chiếc mũ vải lưỡi trai sụp vành. Tôi nhận lấy, lặng lẽ cởi bỏ lớp áo hàng hiệu rách tơi tả vứt vào góc đống rác phế liệu, rồi tròng chiếc áo thợ mộc rộng thùng thình lên người. Thanh Nhã xé một đoạn băng vải thô, quấn chặt lấy bàn tay trái của tôi, che kín những đường vân gỗ elip đang lan rộng từ đầu ngón tay lên tận cẳng tay, xong xuôi mới trùm thêm một chiếc găng tay da công nghiệp cáu bẩn ra ngoài.

- Chợ đồ cũ phía sau đình Minh Hương chỉ họp lúc nửa đêm về sáng - Thanh Nhã vừa cài lại chốt dây chiếc hòm đồ nghề bằng gỗ dâu, vừa nói khẽ - Đó là nơi duy nhất ở Chợ Lớn gom nhặt xác của những ngôi nhà cổ, đình miếu bị đập bỏ khắp vùng Nam Kỳ. Muốn làm ra dụng cụ đủ sức nhổ cây cọc bọc đồng đen bảy tấc của cha anh, chúng ta bắt buộc phải tìm được đinh bạc cổ thời Nguyễn. Loại đinh từng nằm trong rui mè, hoành phi của chốn thờ tự qua cả trăm năm, thấm đẫm khói hương thanh tịnh.

- Vĩnh Khang đang rải quân khắp các ngả đường chính - Tôi kéo sụp vành mũ, cảm nhận khớp vai nhức buốt - Nó nắm toàn bộ hệ thống camera an ninh và bảo an công trường của Trần Thị. Đi lối ngõ chính chẳng khác nào tự chui đầu vào rọ.

- Em biết một lối mòn xuyên qua hệ thống hẻm da cá của người Hoa - Thanh Nhã gật đầu, ánh mắt cô trong trẻo và tỉnh táo giữa đêm đen - Đi sát sau em, đừng để rơi lại.

Chúng tôi luồn qua gầm cầu thang chung cư, trườn qua một khe hở hẹp giữa hai bức tường gạch rêu phong để tiến vào mạng lưới hẻm sâu Chợ Lớn. Nơi này như một mê cung khép kín, những mái tôn gỉ sét đan chéo vào nhau trên đầu che khuất cả bầu trời đêm, tạo nên một không gian chật chội, tù đọng và nồng nặc mùi thuốc bắc pha lẫn mùi ẩm thấp của cống rãnh ngầm.

Đi bộ gần hai mươi phút qua những khúc quanh ngoằn ngoèo không có bảng tên, trước mắt tôi mở ra một khoảng sân rộng lọt thỏm giữa bốn bề vách tường cao vút của các khu nhà tập thể cũ.

Đó là chợ phế liệu ve chai Chợ Lớn, hay còn gọi là chợ đồ cũ âm phủ, nơi chuyên mua bán những món đồ rã xác từ các công trình xây dựng đổ nát.

Khu chợ không dùng đèn điện cao áp. Dưới ánh sáng vàng vọt lờ mờ của những bóng đèn ắc quy con cóc và đèn dầu hỏa, hàng chục gian sạp tự phát nằm chen chúc nhau trên nền đất sũng nước. Mùi rỉ sét kim loại, mùi mùn cưa mục rữa, mùi mỡ bò bôi trơn và mùi hương muỗi quyện vào nhau đậm đặc. Người bán lẫn người mua đều đội nón lá sụp vành hoặc quấn khăn rằn, giao dịch với nhau bằng những tiếng xì xào trầm đục, tuyệt nhiên không ai cất cao giọng.

Trên mặt đất, la liệt những đống phế liệu khổng lồ: các thanh dầm thép xoắn quẩy, xà gồ gỗ gõ đỏ mục ruỗng từng mảng do mối mọt cắn phá, những cánh cửa lá sách vỡ kính của biệt thự Pháp, hàng trăm chiếc khóa đồng hoen ố, lư hương nứt toác, và vô số xô chậu đựng ốc vít, bu lông gỉ sét.

- Nhớ kỹ - Thanh Nhã ghé sát tai tôi dặn dò - Đinh bạc cổ dùng trong đình chùa thời xưa thường được đúc thủ công, thân đinh hình vuông, bốn cạnh đều khắc vân hoa chìm để nêm chặt mộng gỗ. Người bình thường nhìn vào chỉ tưởng đó là sắt tây gỉ hoặc chì vụn. Anh có giác quan mộc tính, hãy dùng trực giác để tìm.

Tôi gật đầu, kéo lại cổ áo để che kín vết nứt rỉ nhựa cây nơi cổ họng. Từng bước đi của tôi nặng trịch, mỗi khi gót chân nện xuống nền đất, tôi lại cảm thấy những mạch rễ vô hình bên trong xương ống chân rung rinh ăn sâu vào lòng đất ẩm.

Chúng tôi dừng lại trước một sạp hàng trải bạt ni lông xanh rộng chừng ba mét vuông. Người bán là một ông lão gầy gò, mặc áo ba lỗ sờn rách, miệng ngậm tẩu thuốc lá sâu kèn phả khói mù mịt. Trên tấm bạt của ông ta đổ đầy những món đồ cơ khí rã xác: lưỡi bào tay, đục thợ mộc gỉ sét, đinh thuyền bằng đồng thau và cả chục vòng xích sắt to bản.

Thanh Nhã ngồi xổm xuống, đôi bàn tay thoăn thoắt bới tìm trong đống phế liệu. Cô nhấc lên một chiếc đinh ba phân bằng đồng gỉ xanh, lật qua lật lại dưới ánh đèn dầu rồi khẽ lắc đầu, đặt xuống chỗ cũ.

- Đinh đồng này chỉ là đồng thau phế liệu của ghe thuyền miền Tây, không có linh tính trừ tà - Cô nói nhỏ với tôi.

Tôi bước lại gần, bàn tay phải lành lặn lướt qua mép bạt. Khi ánh mắt tôi dừng lại ở một chiếc hộp sắt han gỉ nằm khuất dưới đáy chiếc cối xay đá, cơ thể tôi đột nhiên giật nảy một cái. Một luồng ớn lạnh từ tim truyền thẳng xuống đầu các ngón tay. Tôi không tự chủ được, vươn cánh tay trái bọc trong lớp băng vải và găng tay da ra, muốn gạt đống then cài cửa sang một bên để chạm vào chiếc hộp.

Ngay khi ngón tay bọc da của tôi vừa chạm vào bề mặt một chiếc mâm đồng cũ kỹ đặt cạnh chiếc hộp, một hiện tượng kỳ quái lập tức xảy ra.

Chiếc mâm đồng không hề bị va đập mạnh, nhưng mặt kim loại hoen ố bỗng nhiên rung lên bần bật. Từ đáy mâm phát ra một tiếng rền rĩ trầm đục u u, nghe như tiếng kim khí bị bẻ gãy dưới tầng nước sâu, nghẹn ngào và thê lương đến rợn tóc gáy. Dao động ấy lan truyền qua lớp găng tay da, đâm thẳng vào các thớ gỗ sưa trong cánh tay tôi, khiến lớp nhựa sưa dưới da tôi sôi trào dữ dội.

Ông lão bán hàng giật bắn mình, suýt nữa làm rơi chiếc tẩu thuốc trên miệng. Ông ta trợn trừng đôi mắt đục ngầu, nhìn chòng chọc vào chiếc mâm đồng đang tự rung lắc trên nền bạt rồi ngước lên nhìn tôi bằng ánh mắt đầy cảnh giác:

- Cậu làm cái quái gì thế? Muốn mua hay muốn phá hàng của tôi?

Tôi vội rụt tay về, giấu cánh tay trái vào túi áo sơ mi rộng. Tiếng rền rĩ của kim loại tắt ngấm ngay khi tôi dứt tiếp xúc, nhưng mặt đồng vẫn còn âm ỉ một lớp màng hơi ẩm lạnh buốt bốc lên.

- Xin lỗi chú, bạn cháu trượt chân - Thanh Nhã nhanh trí lên tiếng xoa dịu, đồng thời kín đáo rút từ túi áo ra tờ năm mươi nghìn nhét vào tay ông lão - Chúng cháu chỉ muốn tìm mấy chiếc đinh vuông cổ rã từ các cột đình cũ thôi ạ.

Ông lão cầm lấy tờ tiền, nét mặt bớt gay gắt nhưng ánh mắt nhìn tôi vẫn tràn ngập sự nghi ngờ:

- Đinh vuông đình chùa ở đây không có đâu. Mấy thứ đó dính đồ thờ tự, người ta kiêng mang ra chợ xả xui. Muốn mua thì đi sâu vào trong góc rào tôn phía tây, chỗ thằng cha Ba Mắt chuyên gom đồ rã xác chùa chiền miếu mạo mà hỏi.

Thanh Nhã kéo tôi đứng dậy, nhanh chóng rời khỏi sạp hàng trước khi ông lão kịp soi mói thêm. Chúng tôi lách qua những lối đi hẹp giữa các đống sắt vụn cao quá đầu người. Không khí trong chợ càng về khuya càng trở nên oi bức ngột ngạt đến khó thở.

- Chuyện vừa rồi là sao? - Thanh Nhã hạ giọng hỏi tôi khi cả hai dừng lại sau một tấm tôn rỉ - Cánh tay anh... nó có thể phát ra mộc khí tác động lên kim loại à?

- Tôi không chủ ý làm vậy - Tôi siết chặt bàn tay trái đang run lẩy bẩy dưới lớp băng vải - Cây sưa đỏ nghìn năm dưới sa bàn tầng hầm thứ ba vốn bị cắm đinh đồng để trấn áp oán khí. Cơ thể tôi đã mộc hóa, mang theo ký ức đau đớn của cây gỗ đó. Khi tay tôi chạm vào kim loại đồng, kim khí và mộc khí khắc chế lẫn nhau, tự nhiên sinh ra phản ứng cộng hưởng. Kim loại bị oán khí trong tủy xương tôi kích động mà kêu lên.

Thanh Nhã nhìn tôi, trong mắt hiện lên một tia âu lo sâu sắc:

- Tốc độ mộc hóa của anh đang nhanh hơn dự tính. Nếu cứ để kim khí cộng hưởng như vậy, chúng ta chưa tìm được thợ rèn thì người của Vĩnh Khang đã nghe ngóng được mà bao vây khu chợ này rồi. Anh phải kiềm chế hơi thở, tuyệt đối không được dùng tay trái chạm vào bất kỳ món đồ kim loại nào nữa.

Chúng tôi tiếp tục đi sâu vào góc tây của khu chợ, nơi giáp ranh với một bãi đất hoang ngập ngụa xà bần. Đúng như lời ông lão bán tẩu thuốc chỉ dẫn, ở đây có một gian lều che bạt rách nát, bên trong chất đầy những tấm ván gỗ mục, câu đối sơn son thiếp vàng tróc lở và các xô nhựa đựng đầy đinh sắt gỉ sét.

Một người đàn ông trung niên chột một mắt, trên trán có vết sẹo dài trông như con mắt thứ ba, đang ngồi xổm dùng giũa mài một thanh sắt nhọn dưới ngọn đèn bão mờ căm.

- Cần gì? - Gã Ba Mắt không ngẩng đầu lên, giọng khàn đặc như nuốt phải cát.

- Cháu cần tìm mười hai cây đinh bạc cổ thời Nguyễn - Thanh Nhã bước lên phía trước, đặt lên bàn gỗ một xấp tiền mặt - Loại đinh vuông nêm vì kèo ở các gian tiền tế đình chùa, từng qua tay thợ mộc đóng dấu son.

Gã Ba Mắt ngừng tay giũa. Con mắt còn lành lặn của gã đảo một vòng qua xấp tiền rồi ngước lên nhìn Thanh Nhã, sau đó liếc sang tôi. Khóe miệng gã nhếch lên một nụ cười giễu cợt:

- Đinh bạc chùa chiền? Cô bé biết nhìn hàng đấy. Nhưng thứ đó hiếm như vàng mắt cua. Cách đây ba hôm, có người của một tập đoàn lớn đến gom sạch toàn bộ đinh đồng, đinh bạc cổ ở khắp cái chợ này rồi. Họ trả giá gấp mười lần bình thường, gom về chất đống trong bao tải chở đi bằng xe tải đen.

Lòng tôi thắt lại. Trần Thế Hùng và Vĩnh Khang đã đi trước chúng tôi một bước. Cha tôi hiểu rõ quy luật của Bạch Lỗ Ban, ông ta đang triệt hạ tận gốc mọi nguồn nguyên liệu có thể dùng để chế tác công cụ nhổ đinh phong thủy trên khắp đất Sài Gòn này.

- Không còn sót lại cây nào sao chú? - Thanh Nhã vẫn kiên trì hỏi, bàn tay cô nắm chặt quai chiếc hòm đồ nghề.

Gã Ba Mắt nhổ một bãi nước bọt màu đỏ quạch của bã trầu xuống đất:

- Hết sạch. Chỉ còn một đống sắt vụn gỉ sét kia thôi. Muốn mua thì vác cả xô về mà lựa.

Thanh Nhã thở dài một tiếng nặng nề. Sự thất vọng hiện rõ trên gương mặt thanh tú lấm lem bụi bặm của cô. Nếu không có đinh bạc cổ để tôi luyện cùng nước ngâm vỏ dâu tằm, cây thước Lỗ Ban và đục giải mộc của cô sẽ không thể phá vỡ lớp phù chú đồng đen mà cha tôi đã yểm lên các long mạch thành phố.

Tôi đứng nhìn chiếc xô nhựa cáu bẩn đựng đầy phế liệu kim loại góc lều. Bản năng mách bảo tôi rằng bên dưới đáy xô có một thứ gì đó đang phát ra lực hút kỳ dị. Dù nhớ lời Thanh Nhã dặn, tôi vẫn vô thức tiến lại gần. Tôi dùng bàn tay phải lành lặn thò vào đáy xô bới lật những thanh sắt vụn sắc nhọn.

Đầu ngón tay tôi chạm phải một vật dài chừng ba tấc, bọc kín trong một lớp vải bố dầu đen đúa.

Tôi rút vật đó lên. Dù đã được bọc kỹ, nhưng khi cẳng tay trái của tôi vô tình quét qua lớp vải bố dầu, hiện tượng dị thường lại tái diễn một cách mãnh liệt hơn.

Thanh kim loại bên trong bọc vải rung lên bần bật như một sinh vật sống bị bóp nghẹn. Một tiếng rền rĩ kim khí chói tai rít lên, xé toạc không gian tĩnh mịch của khu lều bạt. Âm thanh ấy nhọn hoắt, nghe như tiếng thét căm hờn của một linh hồn bị giam cầm trong lò lửa luyện kim hàng chục năm ròng rã. Lớp vải bố dầu đột ngột bốc lên một làn khói trắng mỏng tanh, nồng nặc mùi lưu huỳnh và mỡ người.

Gã Ba Mắt nhảy dựng lên, mặt cắt không còn giọt máu:

- Quỷ tha ma bắt! Mày mang tà thuật gì vào lều của tao? Bỏ nó xuống mau!

Tôi lập tức buông tay. Thanh kim loại bọc vải rơi cộp xuống nền đất nện, tiếng rền rĩ mới từ từ lắng xuống rồi biến mất hoàn toàn. Cả người tôi toát mồ hôi lạnh, vết nứt trên ngực nhói lên dữ dội, nhựa sưa rỉ ra làm ướt đẫm vạt áo sơ mi thợ mộc.

Chưa kịp để gã Ba Mắt xông vào xua đuổi, từ trong bóng tối của đống xà bần phía sau lều bạt bỗng vang lên một tiếng vỗ tay lẹp xẹp khô khốc.

- Hay cho một thân thể cốt mộc khí kim - Một giọng nói the thé, đục ngầu cất lên từ góc khuất - Đã ba mươi năm rồi, tôi mới lại thấy có người dùng chính huyết nhục của mình để đánh thức linh hồn của kim khí cổ.

Từ sau bức tường tôn rỉ sét, một bóng người gầy guộc bước ra ánh sáng mờ của ngọn đèn bão.

Đó là một người đàn ông trạc sáu mươi tuổi, dáng người thấp bé, lưng gù gập xuống như một chiếc dấu hỏi. Gã mặc chiếc áo chẽn đen cài khuy vải kiểu người Tiều, cổ quấn chiếc khăn rằn nhuộm chàm đã ngả màu xám xịt. Đôi mắt gã sâu hoắm, một bên tai bị xẻo mất một nửa để lộ vết sẹo lồi dị dạng. Trên thắt lưng gã giắt lủng lẳng một chùm chìa khóa bằng đồng cổ và một chiếc kéo cắt sắt dài ngoằng hoen gỉ.

Gã Ba Mắt vừa nhìn thấy người này liền lùi lại một bước, giọng lắp bắp:

- Chú... Chú Sáu Thẹo? Sao chú lại ở đây giờ này?

Người đàn ông tên Sáu Thẹo không thèm nhìn gã Ba Mắt. Đôi mắt sâu hoắm của gã dán chặt vào tôi, lướt từ bàn tay trái quấn băng kín mít lên đến vết nứt đang rỉ nhựa cây nơi cổ áo tôi. Khóe môi nhăn nheo của gã co giật tạo thành một nụ cười quái đản:

- Đinh bạc cổ ở cái chợ ve chai này đều bị chó săn của Trần Thị hốt sạch rồi. Nhưng có gom hết đinh bạc thời Nguyễn về nấu chảy ra, các người cũng chẳng nhổ nổi một cái dằm trên Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng đâu.

Nghe thấy cụm từ Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng thốt ra từ miệng kẻ dắt mối bí ẩn này, đồng tử tôi co thắt lại. Thanh Nhã lập tức rút cây thước Lỗ Ban khắc chữ son dắt sau lưng ra, chắn ngang trước ngực tôi với tư thế phòng thủ tuyệt đối.

- Ông là ai? - Thanh Nhã lạnh lùng cất tiếng - Sao ông biết về sa bàn của dòng họ Trần?

Sáu Thẹo khẽ cười khẩy, tiếng cười the thé như tiếng kim loại cạo trên mặt kính vỡ:

- Cô bé là đệ tử đời sau của Giải Mộc Phái đúng không? Cầm thước Lỗ Ban gỗ dâu mà tay còn run thế kia thì giải được bùa ngải của ai? Còn cậu thanh niên này... cậu mang dòng máu của kẻ đã găm đinh vào lăng mộ cổ, nhưng thân xác cậu lại đang bị chính cái sa bàn đó nuốt chửng từng ngày. Đúng là quả báo của trời cao, tuần hoàn không sót một ai.

Gã dắt mối cúi xuống, dùng bàn chân đi dép cao su giẫm nhẹ lên thanh kim loại bọc vải bố dầu dưới đất:

- Muốn tìm nguyên liệu đúc đinh bạc phá trận, hay muốn tìm cách tháo chiếc đinh đồng đen bảy tấc đang cắm trên Hình Nhân Trấn Nghiệp ở tầng hầm sâu mười hai mét kia?

Tôi cố nén cơn đau buốt từ các thớ gỗ trong lồng ngực, bước lên một bước ngang hàng với Thanh Nhã, nhìn thẳng vào mắt gã Sáu Thẹo:

- Cả hai. Ông biết ai có thể làm được điều đó?

- Tôi chỉ là một kẻ dắt mối ve chai dưới cống ngầm Chợ Lớn thôi - Sáu Thẹo nheo con mắt đục ngầu, thanh âm hạ thấp xuống như một lời thì thầm của cõi âm - Nhưng người duy nhất trên cõi đời này hiểu rõ kết cấu của một trăm lẻ tám cây đinh đồng đen của Trần gia... hiện đang ngồi chờ chết trong bóng tối. Ông ấy đã đợi người mang mùi nhựa sưa này suốt ba mươi năm qua.

- Ông ấy ở đâu? - Tôi gằn giọng hỏi.

Sáu Thẹo quay người, chiếc lưng gù lắc lư theo từng nhịp bước khập khiễng hướng về phía con đường mòn ngập rác phía sau bãi xà bần:

- Muốn sống thì đi theo tôi. Nhưng nhớ kỹ, phố thợ sắt không có chỗ cho kẻ yếu tim. Đám chó săn của thằng nhóc Vĩnh Khang đang lùng sục ngoài đầu hẻm, nếu để chúng bám đuôi, tất cả chúng ta sẽ thành củi mục chôn dưới chân móng bê tông của Trần Thị đêm nay.

Thanh Nhã nhìn tôi, ánh mắt đầy thăm dò và cảnh giác. Nhưng chúng tôi không còn lựa chọn nào khác. Đinh bạc cổ ở khu chợ đã bị cướp sạch, manh mối về người thợ rèn năm xưa là tia hy vọng duy nhất để chúng tôi lật ngược thế cờ trước khi đại trận long mạch được kích hoạt toàn diện.

Tôi gật đầu với Thanh Nhã. Cả hai nhanh chóng rảo bước bám sát theo bóng lưng gù của Sáu Thẹo.

Gã dắt mối dẫn chúng tôi luồn qua những bãi phế liệu ngổn ngang, chui qua một cống hộp thoát nước cạn khô trơ đáy rồi rẽ vào một con hẻm tối tăm nằm sâu hút sau lưng chợ sắt Lương Nhữ Học. Càng đi sâu vào trong, tiếng ồn ào của phố thị bên ngoài càng lùi xa, nhường chỗ cho một sự tĩnh mịch ngột ngạt đến ghê rợn.

Hai bên hẻm là những bức tường gạch cổ xây bằng vôi vữa trộn mật mía thời xưa, đen kịt vì muội than và bồ hóng tích tụ qua hàng trăm năm của nghề rèn sắt thủ công. Mùi than đá nồng nặc hòa cùng mùi rỉ sắt chua loét bốc lên nồng nặc trong không khí đặc quánh. Không có một bóng đèn đường nào chiếu sáng, chỉ có những đốm lửa tàn đỏ quạnh le lói qua khe cửa gỗ của vài căn nhà cổ đóng kín im ỉm.

Sáu Thẹo dừng lại trước một ngã ba hẹp, đưa tay chỉ về phía một con hẻm cụt sâu hoắm phía trước.

Nơi đó hoàn toàn chìm trong bóng tối dày đặc, không có lối thoát, chỉ có một bức tường đá xám xịt chắn ngang ở cuối hẻm, và phảng phất trong gió đêm là tiếng búa nện đều đặn xuống đe sắt vang lên từng nhịp trầm buồn, nặng trĩu oán hận.

- Đi vào đi - Sáu Thẹo quay lại nhìn tôi, nụ cười trên gương mặt đầy sẹo của gã trở nên lạnh lẽo - Lò rèn cuối hẻm cụt. Người mà các người cần tìm đang ngồi bên trong.

Chương khác

Xem thêm