Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 2: Đoạt Mệnh Nhổ Đinh - Chương 77: Thợ Thẩm Định Vô Danh
Mùi dầu thông và mạt cưa ẩm bốc lên từ chiếc áo bảo hộ lao động bằng vải kaki bạc màu tôi khoác trên người. Bộ vest đắt tiền may đo ở Luân Đôn ngày nào…
Nội dung chương
Mùi dầu thông và mạt cưa ẩm bốc lên từ chiếc áo bảo hộ lao động bằng vải kaki bạc màu tôi khoác trên người.
Bộ vest đắt tiền may đo ở Luân Đôn ngày nào đã nằm lại trong tủ kính của căn biệt thự họ Trần, thay vào đó là chiếc áo thợ rộng thùng thình mua vội ở chợ dân sinh Tân Thành với giá vài chục ngàn. Cổ tay áo bên trái được thả dài, cài kín cúc để che đi lớp da sần sùi mang vân gỗ nâu sẫm đang ăn dần lên khuỷu tay. Bàn tay trái tôi xỏ vào chiếc găng tay sợi thô dày cộm, trông bề ngoài chẳng khác gì bàn tay của một gã phu hồ vừa bước ra từ công trường.
Nắng sớm Chợ Lớn rọi qua những khe hẹp giữa hai dãy nhà cổ ở Hào Sĩ Phường, biến những hạt bụi gỗ lơ lửng trong không khí thành từng vệt sáng màu hổ phách.
- Đừng nhìn quanh quất nữa, cúi đầu xuống, đi sát mép tường. - Thanh Nhã đi trước tôi nửa bước, cất giọng rất khẽ.
Cô mặc chiếc áo bà ba màu xám tro, mái tóc đen cột gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ trắc. Chiếc ba lô bạt bạc màu đựng bộ đục thép, ống mực và cây thước Lỗ Ban bằng xương vắt ngang vai cô, bước chân vững chãi và dứt khoát trên mặt ngõ lát đá xanh trơn trượt rêu ẩm.
Chúng tôi dừng lại trước căn nhà số mười bốn ở cuối con hẻm cụt.
Đó là một căn nhà ống hai tầng điển hình xây dựng từ đầu thế kỷ trước, tầng trệt dùng làm tiệm kim hoàn nhỏ, tầng lầu lợp ngói âm dương với ban công gỗ đã mục rỗng một nửa. Tấm biển hiệu bằng gỗ sơn son thiếp vàng đề ba chữ "Vĩnh Hưng Kim Điếm" treo trên ngạch cửa đã bong tróc nham nhở, lớp sơn đen lót bên trong lộ ra như những vết lở loét. Không khí xung quanh ngôi nhà nặng trĩu một thứ mùi chua nồng của tro than luyện bạc trộn lẫn hơi ẩm mốc bốc lên từ những bức tường gạch vồ nứt toác.
Một ông lão người Hoa trạc ngoài sáu mươi tuổi, dáng người gầy guộc, mặc chiếc áo thun ba lỗ ngả màu ố vàng bước ra mở cửa sắt kéo. Đôi mắt ông ta trũng sâu, vành mắt thâm quầng vì mất ngủ kinh niên, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào song sắt gỉ sét.
- Cô Nhã... cô tới rồi sao? - Ông lão nói bằng giọng lơ lớ, tiếng thở dốc nặng nhọc. - Đêm qua nó lại gõ. Cứ đúng ba giờ sáng, trên cây đà ngang chỗ bàn thờ Thổ Địa lại phát ra tiếng đập chan chát như có người cầm búa nện vào đầu cột. Vợ tôi sợ quá phát sốt li bì, mấy mẻ bạc nấu hôm qua đều bị nứt đáy nồi, hao hụt sạch vốn liếng.
- Bác Tiêu bình tĩnh. - Thanh Nhã khẽ nghiêng đầu chào rồi bước vào trong. - Cháu đưa thợ phụ đến kiểm tra giúp bác. Cứ xem lại kết cấu rui mè trước đã.
Tôi bước theo sau cô, cúi đầu chào ông lão thợ bạc. Căn nhà tối và hẹp, chiều ngang chưa đầy ba mét nhưng sâu hun hút vào bên trong. Ánh sáng chỉ lọt qua một giếng trời nhỏ xíu ở giữa nhà, nơi đặt chiếc lò nung bạc cũ kỹ nguội ngắt.
Ngay khi bước chân qua ngưỡng cửa bằng đá xanh, lồng ngực tôi bỗng nhói buốt. Cây đinh bảy tấc bằng đồng đen găm trên ngực ở sa bàn cách đây mấy cây số dường như phản ứng với một luồng uế khí ẩm thấp đang đọng lại ở góc nhà. Mùi nhựa sưa đỏ tanh nồng dâng lên nơi cuống họng, nhưng tôi cắn chặt răng, nuốt ngụm đắng chát ấy xuống.
Tôi ngước mắt quan sát hệ kết cấu chịu lực của ngôi nhà bằng con mắt của một chuyên gia thẩm định kiến trúc được đào tạo bài bản.
Ngôi nhà này chịu lực bằng hệ khung gỗ kết hợp tường bao xây gạch đặc dày hai mươi phân. Toàn bộ trọng lượng của tầng lầu và mái ngói đè nặng lên bốn cây cột cái bằng gỗ sao đen chôn thẳng xuống nền đất. Dưới góc nhìn kết cấu hiện đại, ngôi nhà đang gặp vấn đề nghiêm trọng: bức tường phía đông xuất hiện một vết nứt xiên bốn mươi lăm độ kéo dài từ chân giếng trời lên đến trần nhà. Đây là dấu hiệu điển hình của việc móng lún không đều, tải trọng lệch tâm khiến toàn bộ khung giàn phía trên bị vặn xoắn.
- Thợ hồ quanh chợ bảo nhà tôi bị ma ám, đòi đập bỏ bức tường xây lại, nhưng làm sao tôi có tiền? - Bác Tiêu run rẩy đứng bên cạnh, giọng nghẹn ngào. - Với lại, nhà này là sản nghiệp tổ phụ để lại, đụng một viên gạch cũng sợ sập cả dãy phố.
Tôi không trả lời ông lão. Tôi tháo chiếc găng tay thô bên bàn tay trái ra, nhét vào túi quần.
Lớp da hóa gỗ màu nâu sẫm trên các ngón tay lộ ra dưới ánh đèn dây tóc lờ mờ. Tôi bước đến bên cây cột cái nằm sát chân cầu thang gỗ, nơi vết nứt tường giao nhau với đầu dầm chịu lực.
Tôi áp lòng bàn tay trái vào thân cột gỗ sao đen.
Một luồng lạnh buốt từ thớ gỗ cổ xưa xộc thẳng vào da thịt tôi. Cánh tay cứng đờ của tôi lập tức rung lên theo tần số rung động của khối gỗ già. Nhận thức của tôi vượt qua lớp sơn PU cũ kỹ bên ngoài, chìm sâu vào cấu trúc rỗng bên trong lõi cột.
Bản vẽ mặt cắt ngang của toàn bộ ngôi nhà lập tức dựng lên trong đầu tôi một cách chuẩn xác đến từng milimet. Cây cột cái này không bị mục, nhưng ở vị trí liên kết giữa cây quá giang và đầu cột - nơi đặt chiếc mộng mang cá truyền thống - đã bị trượt ra ngoài ba phân. Nguyên nhân do lớp đất bùn phía dưới nền nhà ngậm nước từ cống thoát của con hẻm bên cạnh, làm lún lệch góc móng phía đông. Khi mộng gỗ bị trượt, toàn bộ ứng suất uốn của mái nhà dồn ép lên cây xà ngang, khiến hai mặt gỗ cọ xát vào nhau dưới sức nén cực lớn.
Mỗi khi đêm xuống, nhiệt độ hạ thấp, gỗ co ngót lại, tạo ra những âm thanh nổ lách tách và tiếng va đập khô khốc mà người phàm tưởng là tiếng gõ của quỷ ma.
Thế nhưng, sâu hơn cả vết nứt kết cấu, tôi cảm nhận được một luồng âm khí trì trệ đang bám chặt vào mộng gỗ ấy. Một cái dằm gỗ nhọn hoắt bị cố tình đóng chêm vào khe hở từ nhiều năm trước, chắn ngang mạch lưu chuyển của sinh khí trong căn nhà, khiến tiền tài của gia chủ không thể tụ lại mà liên tục thất thoát ra đường cống.
- Bác Tiêu, mang cho tôi một chiếc kích thủy lực mười tấn, hai đoạn gỗ kê dày mười phân và một xô nước sạch. - Tôi lên tiếng, giọng trầm và đặc lại vì mộc khí đè nén thanh quản.
Ông lão ngẩn ra nhìn tôi, rồi nhìn sang Thanh Nhã. Thanh Nhã gật đầu dứt khoát:
- Cứ làm theo lời anh ấy. Anh ấy biết cách giữ lại căn nhà cho bác mà không cần đập một viên gạch nào.
Ông lão vội vã chạy xuống căn hầm nhỏ sau bếp để tìm đồ nghề. Trong gian nhà chỉ còn lại tôi và Thanh Nhã.
- Anh thấy gì? - Cô bước lại gần, tay đã cầm sẵn cây thước Lỗ Ban bằng xương.
- Mộng mang cá ở đầu quá giang bị trượt ba phân do lún lệch nền. - Tôi chỉ tay lên điểm tiếp giáp giữa trần và cột. - Nhưng có kẻ từng đóng một cái nêm gỗ dâu tằm vào khe nứt để triệt hạ tài lộc của tiệm bạc. Gỗ dâu khắc chế phong thủy của người thợ kim hoàn. Càng nung bạc, mộc khí từ dâu tằm càng hun nóng uế khí, biến thành tiếng động kinh dị lúc nửa đêm.
Đôi mắt Thanh Nhã lóe lên tia nhìn sắc sảo:
- Lại là trò bẩn thỉu của mấy tay thầy bùa nửa mùa. Chúng muốn bức bách gia đình ông lão phải bán rẻ căn nhà này cho một dự án thu gom đất nào đó.
Khi bác Tiêu khệ nệ bê chiếc kích thủy lực bằng gang nặng trịch và xô nước lên, tôi lập tức bắt tay vào việc.
Tôi đặt chiếc kích lên hai thanh gỗ kê chịu lực dưới chân cột cái, dùng toàn bộ sức nặng của cánh tay phải để gạt cần bơm. Từng nhát kích nâng lên cọt kẹt, đội nhẹ cây đà ngang lên khỏi mặt tiếp xúc của mộng gỗ chừng nửa phân, giải phóng áp lực hàng tấn đang đè nén lên đầu cột.
Vết nứt trên tường dừng lại, không còn tiếng răng rắc đe dọa nữa.
Tôi trèo lên chiếc thang tre cũ, tiếp cận vị trí mộng mang cá. Từ khe gỗ nứt hẹp chưa đầy một ngón tay, tôi dùng chiếc đục thép cán cẩm lai của Thanh Nhã khéo léo bẩy thanh nêm gỗ dâu mục đen ra ngoài. Thanh gỗ rơi tõm vào xô nước bên dưới, sủi lên những bọt khí xám xịt tanh tưởi rồi chìm nghỉm.
- Giờ là phần quan trọng nhất. - Tôi thì thầm.
Mộng gỗ âm dương đã bị lệch suốt mấy năm, các thớ gỗ đã biến dạng vênh váo, không thể dùng búa thông thường gõ vào vị trí cũ vì sẽ làm toác đầu cột, gây sập mái ngói bên trên.
Tôi buông chiếc đục xuống, đưa bàn tay trái trần trụi áp thẳng vào hai nửa của mộng gỗ đang so le.
Tôi vận lực từ lồng ngực. Cây đinh bảy tấc trong tim khẽ cựa quậy, ép một dòng nhựa sưa đỏ nóng rực chạy dọc theo kinh mạch xuống cánh tay trái. Bề mặt da của tôi nứt ra những đường rãnh li ti, mộc khí nồng nặc phát ra từ các đầu ngón tay.
Bàn tay tôi bỗng chốc trở nên cứng như một khối sắt đúc, nhưng đồng thời lại vô cùng nhạy cảm với từng đường thớ của cây gỗ sao đen. Tôi cảm nhận được độ đàn hồi sót lại của thớ gỗ cổ thụ. Thay vì dùng lực thô bạo, tôi dùng lòng bàn tay nắn nhẹ, truyền một xung lực rung chấn đều đặn vào lõi gỗ.
Hai thớ gỗ mục rỗng dưới tác động của mộc khí bỗng mềm ra trong giây lát. Tôi dùng gót bàn tay đẩy mạnh một nhát dứt khoát.
Rắc!
Một tiếng khấc đanh gọn vang lên. Chiếc mộng mang cá trượt trở lại đúng ngàm âm dương nguyên bản của nó, khít khao như thể chưa từng bị lệch một ly nào suốt một thế kỷ qua.
Ngay thời điểm mộng gỗ khớp lại, một hiện tượng kỳ dị xảy ra trong thân thể tôi.
Không có sự đau đớn dữ dội của những lần bị phản phệ trước đây. Khi kết cấu ngôi nhà tìm lại được sự cân bằng, luồng sinh khí tích tụ từ bao đời của mảnh đất bỗng chốc khai thông, chảy ngược qua mộng gỗ rồi tràn vào lòng bàn tay trái của tôi.
Dòng sinh khí ấm áp, thanh khiết như nước mưa đầu mùa xộc thẳng vào kinh mạch, cuốn trôi bớt lớp tử khí lạnh lẽo đang đóng băng ở bả vai tôi. Cơn đau rát buốt nơi lồng ngực do vết thương gỗ sưa gây ra bỗng dịu đi trông thấy. Lớp da khô nứt màu nâu sẫm trên mu bàn tay trái của tôi như được tưới tắm, những đường nứt rạn khép lại đôi chút, sắc da bớt đi vẻ ma quái chết chóc.
Tôi thở phào một hơi dài, trán ướt đẫm mồ hôi nhưng cơ thể lại nhẹ nhõm đến lạ lùng.
Hóa ra là vậy. Mỗi khi tôi dùng kiến thức và mộc thuật để chữa lành một vết thương phong thủy cho một ngôi nhà, chính sinh khí của ngôi nhà đó sẽ hồi đáp lại, giúp tôi chống chọi với sự ăn mòn của Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng.
Tôi trèo xuống thang, vặn van xả kích thủy lực. Cả hệ khung nhà hạ xuống êm ru, không một tiếng rạn nứt. Bức tường gạch phía đông như được giải tỏa toàn bộ ứng suất uốn, các vết nứt dừng hẳn lại, tĩnh lặng như tờ.
Ông lão thợ bạc đứng chết trân nhìn tôi, hai mắt mở to không dám tin vào những gì vừa diễn ra trước mắt. Không gian căn nhà lúc này trở nên thoáng đãng kỳ lạ, mùi tro than ngột ngạt dường như đã bị một luồng gió mát từ giếng trời thổi bay mất.
- Xong rồi, bác Tiêu. - Tôi rút chiếc găng tay thô đeo lại vào bàn tay trái, giọng nói đã bình ổn trở lại. - Đêm nay sẽ không còn tiếng gõ nào nữa. Bác có thể tiếp tục nhóm lò nấu bạc.
Bác Tiêu run rẩy quỳ sụp xuống trước mặt tôi, hai tay chắp lại định vái lạy nhưng tôi đã nhanh chóng dùng tay phải đỡ ông lão dậy.
- Ơn trời phật... Cậu không phải thợ hồ, cậu là thầy phong thủy, là ân nhân của cả nhà tôi! - Ông lão mếu máo, lục lọi trong túi áo lôi ra một cọc tiền lẻ nhăn nhúm dúi vào tay tôi. - Tôi chỉ còn ngần này... xin cậu nhận lấy!
Tôi lắc đầu, đẩy cọc tiền lại:
- Chúng tôi chỉ nhận tiền công sửa chữa theo giá thợ mộc bình thường. Bác đưa cho cô Nhã năm trăm ngàn là đủ.
Rời khỏi căn nhà số mười bốn, bóng lưng gầy guộc của bác Tiêu vẫn đứng cúi đầu ở đầu con hẻm tiễn chúng tôi.
Tin đồn về một người thợ mộc trẻ tuổi, ít nói, đeo găng tay thô ráp bên tay trái nhưng có khả năng "chữa lành" những căn nhà cổ sắp sập mà không cần phá bỏ lan truyền trong giới tiểu thương người Hoa ở khu vực Chợ Lớn.
Những ngày tiếp theo, căn gác xép rêu phong của xưởng mộc trở thành điểm hẹn bí mật.
Tôi bước chân vào những ngóc ngách tối tăm nhất của khu Chợ Lớn. Khi thì là một sạp vải ở chợ Soái Kình Lâm bị nghiêng đòn dông khiến hàng hóa liên tục ẩm mốc, mối mọt; khi thì là một tiệm bán phụ tùng xe máy cũ ở đường Đỗ Ngọc Thạnh bị lún nứt móng do dòng nước ngầm từ kênh Tàu Hủ tràn vào.
Mỗi một ngôi nhà, tôi đều kết hợp triệt để hai phương pháp: dùng nguyên lý cơ học kết cấu phương Tây để tính toán tải trọng chịu lực, và dùng bàn tay mộc hóa để nắn chỉnh lại các mộng âm dương bị lỗi phong thủy.
Càng sửa chữa nhiều, sự hiểu biết của tôi về hệ thống nhà cổ Sài Gòn càng trở nên sâu sắc. Cơ thể tôi dần thích nghi với mộc khí, cánh tay trái tuy vẫn cứng đờ nhưng đã có thể điều khiển chuẩn xác từng lực đạo nhỏ nhất. Những cơn đau rát từ tử khí sưa đỏ trong tim cũng thưa dần nhờ vào dòng sinh khí tích lũy từ sự biết ơn của những mái nhà được cứu rỗi.
Nhưng chuỗi ngày yên bình ngắn ngủi ấy không kéo dài được bao lâu.
Vào một buổi chiều mưa tầm tã cuối tuần, khi tôi và Thanh Nhã đang ngồi trên căn gác xép mài lại bộ đục thép, tiếng bước chân vội vã từ dưới cầu thang gỗ dồn dập vang lên.
Một người đàn ông trung niên mặc áo xá xẩu bằng lụa đen, người ướt sũng nước mưa, khuôn mặt tái mét không còn một giọt máu hớt hải chạy lên gác. Vừa nhìn thấy Thanh Nhã, ông ta đã ngã quỵ xuống sàn, hai tay bám chặt vào mép phản gỗ:
- Cô Nhã... cứu mạng! Tiệm thuốc bắc của tôi... tiệm thuốc Vạn Hòa Đường trên đường Hải Thượng Lãn Ông...
Thanh Nhã buông chiếc bào gỗ trắc xuống, đỡ người đàn ông ngồi dậy:
- Chú Trương, chú từ từ nói. Vạn Hòa Đường là tiệm thuốc trăm năm tuổi của dòng họ chú, có chuyện gì xảy ra?
Người đàn ông tên Trương nuốt nước bọt ực một cái, run rẩy chỉ tay ra phía ngoài màn mưa:
- Liên tiếp ba đêm nay, cứ vào giờ Tý, kho chứa dược liệu quý trên tầng áp mái lại bốc cháy vô cớ. Không có tàn thuốc, không chập điện, lửa cứ bùng lên từ cây đòn dông chính của gian giữa. Hôm qua, chúng tôi dập được lửa thì phát hiện trên thân đòn dông bằng gỗ lim già... ứa ra từng vệt máu đen ngòm!
Tôi đang cầm viên đá mài trong tay, động tác bỗng khựng lại.
Máu đen rỉ ra từ thớ gỗ.
Đó không phải là hiện tượng lún nứt kết cấu thông thường, cũng không phải là tà thuật vặt vãnh của mấy tay thầy bùa dỏm.
Một mùi hương quen thuộc đến rợn người bỗng xộc vào khứu giác của tôi qua lời kể của người đàn ông họ Trương - mùi tử khí tanh nồng của gỗ sưa đỏ nghìn năm, thứ mùi vị tàn khốc mà cha tôi, Trần Thế Hùng, vẫn luôn dùng để thanh trừng những kẻ ngáng đường tập đoàn Trần Thị.
Tôi đứng bật dậy, chiếc găng tay thô siết chặt lấy chiếc đục thép cán cẩm lai. Bóng ma của gia tộc họ Trần rốt cuộc đã bắt đầu vươn móng vuốt đến mảnh đất cổ kính này.