Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 3: Huyết Mạch Tương Tàn - Chương 23: Thung Lũng Chết
Sương mù xứ Huế lúc rạng sáng đọng thành từng hạt nước nặng trĩu trên những tán lá kim xơ xác. Đoàn tàu sắt bỏ lại hai chúng tôi ở một ga xép heo hút nằm…
Nội dung chương
Sương mù xứ Huế lúc rạng sáng đọng thành từng hạt nước nặng trĩu trên những tán lá kim xơ xác.
Đoàn tàu sắt bỏ lại hai chúng tôi ở một ga xép heo hút nằm cách xa trung tâm thành phố. Không có ánh đèn neon rực rỡ của các tòa cao ốc Sài Gòn, cũng không có tiếng còi xe inh ỏi trên những cây cầu vượt đan xen chằng chịt. Xung quanh chúng tôi là không gian tĩnh mịch của vùng đồi núi phía tây nam cố đô, nơi bóng tối của đêm tàn vẫn còn bám chặt lấy triền dốc đất đỏ bazan nhão nhoét sau trận mưa dầm dề.
Tôi quấn chặt chiếc khăn rằn quanh cánh tay trái, cố giấu đi lớp da thịt đang ngày càng cứng đờ như một khúc gỗ lim già. Dưới lớp áo khoác dày, nút gỗ tròn nơi lồng ngực trái cộm lên từng hồi buốt giá. Nó không còn nhói lên theo từng nhịp tim đập bình thường nữa, mà mỗi nhịp co bóp lại phát ra một cảm giác rạn nứt âm ỉ, giống như thớ gỗ khô bị người ta dùng nêm sắt đóng vào giữa ruột.
- Cố thêm một đoạn nữa, qua khỏi trảng đồi này sẽ vào đến vùng bình độ ghi trên trích lục - Thanh Nhã khẽ nói, hơi thở phả ra thành luồng khói trắng mỏng manh giữa cái lạnh đầu đông.
Cô mang trên lưng chiếc gùi mây đựng đồ nghề phục chế mộc: mấy ống đinh bạc dự phòng còn lại, hộp mực tàu pha chu sa đỏ thẫm, xơ vỏ dâu tằm khô và cây thước Lỗ Ban bằng gỗ thị đen nhánh vắt ngang hông. Khuôn mặt cô tái đi vì thiếu ngủ sau hai ngày ròng rã trên tàu hỏa, nhưng đôi mắt vẫn giữ nguyên vẻ tỉnh táo, sắc sảo của một thợ mộc am tường thuật phong thủy gia truyền.
Tôi trải tấm bản đồ trích lục địa chính thời Pháp thuộc lên một tảng đá rêu phong bên mép đường mòn.
Tấm bản đồ này được vẽ bằng mực nho trên nền giấy can dầu từ năm 1928, mang tựa đề tiếng Pháp "Carte Topographique de la Province de Thừa Thiên - Région Sud-Ouest". Nhờ kỹ thuật thẩm định tài sản và bản vẽ kiến trúc đô thị từng được đào tạo bài bản ở nước ngoài, tôi dễ dàng đọc ra những ký hiệu trắc địa cổ xưa: các đường đồng mức dày đặc biểu thị một thung lũng lòng chảo sâu hoắm, nằm lọt thỏm giữa ba ngọn đồi bát úp. Trên góc bản đồ, một ô chữ nhật bị viên công sứ Pháp gạch chéo bằng bút chì đỏ kèm dòng ghi chú vắn tắt: "Khu vực cấm khai thác lâm sản - Địa hình sụt lún bất thường".
Thanh Nhã đặt chiếc la bàn Lỗ Ban bằng đồng thau lên tâm bản đồ. Kim nam châm hình con thoi vốn chỉ hướng nam bỗng chao đảo dữ dội. Đầu kim quét qua quét lại trên mặt đĩa đồng khắc hai mươi tư sơn hướng, phát ra những tiếng lách cách sắc nhọn rồi dừng khựng lại ở góc chỉ đúng chữ "Tuyệt Mạng".
- Địa khí ở đây loạn rồi - Thanh Nhã cau mày, ngón tay miết nhẹ lên gờ la bàn - La bàn phong thủy không nhận được từ trường tự nhiên của quả đất. Có một luồng sát khí khổng lồ từ dưới lòng đất đang bẻ cong toàn bộ phương vị.
Tôi thu tấm bản đồ lại, nhét vào túi chống nước trước ngực rồi ngước nhìn về phía trước.
Chúng tôi vừa đặt chân đến ranh giới của một vùng thung lũng kỳ dị. Rừng thông hai bên sườn đồi trước đó vẫn còn mang màu xanh thẫm ướt át của xứ mưa dầm, nhưng ngay khi bước qua cột mốc đá hoa cương mòn vẹt cắm xiêu vẹo bên vệ đường, cảnh quan biến đổi hoàn toàn.
Trước mắt chúng tôi mở ra một dải đất rộng hàng chục héc ta trơ trụi. Toàn bộ những cây thông cổ thụ mọc dưới lòng thung lũng đều bị cháy đen thui, thân cây khẳng khiu vươn lên nền trời xám xịt như những bàn tay xương xẩu của cõi âm. Cành lá rụng sạch, mặt đất dưới chân không có lấy một ngọn cỏ non hay một mảng rêu xanh. Bề mặt đất nứt nẻ thành những đường rãnh ngoằn ngoèo, phủ đầy một lớp tro xám dày cộm bốc lên mùi ngai ngái khó tả.
Điều làm tôi rùng mình là sự vắng lặng tuyệt đối của không gian.
Khu rừng thông này không hề có tiếng chim hót, không có tiếng sóc chuyền cành, thậm chí không có cả tiếng ve sầu hay tiếng rỉ rả quen thuộc của dế mèn dưới các bụi gai. Cả vạt rừng bạt ngàn chìm sâu trong một sự im lìm tuyệt đối, nặng nề đến nghẹt thở. Tiếng động duy nhất phát ra trong không gian là tiếng đế giày của tôi và Thanh Nhã dẫm lên lớp tro mục nát, vang lên lạo xạo như tiếng xương vụn bị nghiền nát dưới chân.
- Rừng thông này bị cháy bao lâu rồi? - Tôi hỏi, mắt quan sát những thân cây trơ trọi.
- Nhìn vào vỏ cây đi, không phải do cháy rừng thông thường - Thanh Nhã ngồi xổm xuống bên một gốc thông có chu vi hai người ôm, rút con dao trổ nhỏ từ thắt lưng cạo nhẹ vào lớp vỏ ngoài.
Lớp than đen bên ngoài bong ra từng mảng mỏng. Tôi bước lại gần, nhìn kỹ vào thớ gỗ lộ ra bên dưới. Thớ gỗ không hề có màu vàng hay nâu nhạt của thông dầu, mà chuyển sang một màu xám xịt, khô khốc như rơm rạ mục nát phơi nắng lâu ngày.
- Cháy do sét đánh hay hỏa hoạn tự nhiên sẽ để lại vết cháy lan từ trên ngọn xuống gốc hoặc từ cành nhỏ vào thân chính - Thanh Nhã giải thích, ngón tay cô miết vào lớp bụi gỗ vụn rơi ra từ lưỡi dao - Nhựa thông chứa nhiều tinh dầu, nếu bắt lửa từ bên ngoài, thân cây sẽ bị nung chảy nhựa rồi để lại những cục nhựa thông đóng bánh màu hổ phách. Đằng này, toàn bộ tinh dầu bên trong thớ gỗ đã biến mất sạch sẽ trước khi vỏ cây biến thành than. Cây bị rút cạn sinh khí từ dưới rễ lên tận ngọn, khô kiệt đến mức tự phát hỏa từ chính tâm gỗ bên trong.
Lời giải thích của cô làm tôi giật thót lồng ngực. Cơn đau nơi vết thương lại cựa quậy, dịch sưa đen dưới lớp băng gạc dường như đang sôi lên đáp lại mặt đất cằn cỗi dưới chân.
Tôi mở lại trích lục địa chính, quan sát thế đất chung của cả vùng thung lũng. Ba ngọn đồi đất tròn bao bọc lấy vùng trũng này theo hình tam giác quỷ quái. Giữa lòng thung lũng có một lạch nước cạn khô trơ đáy, lòng suối lởm chởm những tảng đá mồ côi màu đen sắc cạnh. Dòng suối cạn không uốn lượn mềm mại theo quy luật tự nhiên của dòng chảy phong thủy mà gãy khúc thành từng đoạn thẳng tắp, đâm thẳng từ hướng tây bắc xộc thẳng vào tâm thung lũng rồi bẻ ngoặt một góc chín mươi độ về phía nam.
- Đây là thế đất Tuyệt Mạng Thủy Quy Đao - Tôi chỉ tay theo đường nét gãy khúc của con suối cạn - Trong thẩm định địa hình công trình, những khu đất nằm ngay khúc cua nhọn của dòng chảy luôn chịu áp lực thủy động học lớn nhất, móng cọc rất dễ bị xói mòn và sụt lở. Nhưng theo thuật phong thủy âm trạch thời phong kiến, đây là ba cục dùng dòng nước làm lưỡi đao chém đứt long mạch tự nhiên. Dòng nước này mang hình dáng một thanh đao cong chém thẳng vào huyệt vị trung tâm, biến toàn bộ sinh khí của ba ngọn đồi xung quanh thành tử khí tụ lại một điểm.
Thanh Nhã gật đầu, ánh mắt cô hiện lên vẻ căng thẳng:
- Ba tôi từng ghi chép lại trong cuốn sổ tay nghề mộc: kẻ nào muốn nuôi dưỡng một cây sưa ngàn năm hấp thụ tử khí để chế tác Sa Bàn Yếm Thắng, kẻ đó phải tìm một huyệt mộ nằm ngay nơi hạ đao của thế Thủy Quy Đao. Tử khí tích tụ qua hàng trăm năm không thể tự tiêu tán ra sông lớn, mà bị địa hình lòng chảo này khóa chặt lại.
Cô ngừng lại một chút, nhìn xoáy vào cánh tay trái của tôi:
- Toàn bộ vạt rừng thông bạt ngàn này không chết vì hỏa hoạn bên ngoài. Suốt một thế kỷ qua, huyệt mộ cổ bên dưới đã liên tục hút cạn toàn bộ địa khí, dưỡng chất và sinh mệnh của mảnh đất này. Những cái cây này bị cướp mất nhựa sống, kiệt quệ đến mức tự bốc cháy từ bên trong thớ thịt. Vết thương của anh phản ứng dữ dội như vậy, vì Mộc Tinh trên người anh đang nhận ra nguồn cội nuôi dưỡng nó.
Một cơn gió lạnh bất chợt thốc qua thung lũng, cuốn theo lớp tro tàn bay mù mịt như một trận bão cát xám xịt. Không gian xung quanh càng lúc càng lạnh buốt, một cái lạnh không thuộc về mùa đông xứ Huế, mà là hơi lạnh thấu xương của lòng đất sâu hun hút phả ngược lên trần gian.
Chúng tôi tiếp tục bước đi dọc theo lòng suối cạn trơ sỏi đá. Mỗi bước chân tiến sâu vào thung lũng, mặt đất dưới chân lại càng trở nên xốp mềm một cách kỳ lạ. Lớp đất đá không còn độ kết dính của phù sa hay sỏi son miền Trung, thay vào đó là hỗn hợp bùn đen pha lẫn mùn gỗ mục nát, bốc lên mùi ẩm mốc nồng nặc.
Cánh tay trái của tôi bắt đầu co giật từng chập. Những thớ thịt gỗ bên dưới lớp vải tang phồng rộp lên, các đường vân gỗ sưa sẫm màu bò lan qua khuỷu tay, tiến sát về phía bả vai. Dòng máu mang mùi nhựa tanh tưởi rỉ qua lớp gạc trắng, nhỏ tong tong xuống lớp tro xám dưới đất.
Kỳ lạ thay, những giọt máu đen vừa rơi xuống mặt đất lập tức bị hút cạn sạch sẽ, để lại một vệt khói xám bốc lên nghi ngút kèm theo tiếng xèo xèo ghê rợn.
- Anh Quang, nhìn đằng kia kìa! - Thanh Nhã bỗng dừng phắt lại, cánh tay cô vươn ra chỉ về phía gờ đá dốc đứng ở cuối lạch suối.
Tôi nén cơn đau buốt nơi lồng ngực, ngước mắt nhìn theo hướng tay cô.
Tại điểm giao nhau giữa khúc ngoặt của con suối cạn và chân vách đá hoa cương, mặt đất bị sụt lún tạo thành một lòng chảo khổng lồ. Miệng hố sụt có đường kính rộng gần ba mươi mét, sâu hun hút, thành hố là những lớp đất đá đen sì bị nứt toác từng mảng lớn, đan xen chằng chịt bởi những rễ cây thông cháy khô queo nhô ra tua tủa như những chiếc gai nhọn hoắt.
Từ miệng hố sâu hoắm đó, một luồng tử khí đặc quánh đang cuồn cuộn bốc lên. Mùi thối rữa của xác chết cổ xưa hòa lẫn với mùi thơm ngai ngái, nồng đậm đến phát buồn nôn của nhựa gỗ sưa đỏ lâu năm tạo nên một thứ tử khí quánh đặc làm cay xè cả hai mắt.
Tôi bước chầm chậm lại mép hố, cúi đầu nhìn xuống vực thẳm đen ngòm bên dưới. Ánh sáng le lói của buổi ban mai hoàn toàn bị bóng tối dưới đáy hố nuốt trọn. Ở độ sâu khoảng mười lăm mét dưới mặt đất, thấp thoáng những khối đá xẻ vuông vức màu xám trắng bị gãy đôi, nằm ngổn ngang giữa bùn lầy và rễ cây khô khốc. Đó rõ ràng là tàn tích của một công trình kiến trúc ngầm được xây dựng bằng kỹ thuật ghép đá tinh xảo của thời phong kiến.
- Miệng hố sụt này... - Tôi thì thầm, giọng nói khàn đặc vì hít phải luồng tử khí lạnh buốt - Nó không phải do thiên tai tự nhiên tạo thành. Kết cấu sụt lún có dạng hình phễu nhân tạo, các khối đá viền quanh miệng hố mang dấu vết nứt gãy cơ học rất đồng đều.
Thanh Nhã quỳ một gối bên bờ hố sụt, lấy cây thước Lỗ Ban cắm phập xuống lớp đất bùn sát mép đá. Ngay khi mũi thước vừa ngập sâu ba tấc, những chữ số son khắc trên thân thước phát ra một luồng ánh sáng đỏ rực le lói, rồi một đường nứt nhỏ chạy dọc từ đuôi thước lan thẳng lên thân gỗ.
- Cung Tử Biệt... - Cô ngẩng đầu lên, sắc mặt trắng bệch - Toàn bộ cấu trúc phong thủy của khu lăng mộ này đã bị phá hủy từ bên trong. Nơi này từng có một hệ thống yểm trấn cực kỳ kiên cố để khóa chặt Mộc Tinh, nhưng ai đó đã cố tình kích hoạt một nguồn năng lượng tàn bạo nhằm giải phóng một phần tà khí mang đi nơi khác.
Tôi siết chặt bàn tay phải còn lành lặn, ngón tay bấu chặt vào gờ đá sắc nhọn.
Hình ảnh Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng nằm sâu mười hai mét dưới tầng hầm thứ ba của dinh thự tập đoàn Trần Thị tại Sài Gòn lại hiện rõ trước mắt tôi. Bức tượng gỗ khắc tên họ bát tự của tôi bị cây đinh đồng bảy tấc găm thẳng vào ngực, tấm gỗ sưa đỏ khổng lồ ngâm tử khí mô phỏng toàn bộ thành phố... Tất cả những thứ tà ác đó đều bắt nguồn từ chính lòng vực thẳm đen ngòm đang há miệng chờ đợi chúng tôi dưới chân.
Trần Thế Hùng đã từng đến đây.
Ông ta không chỉ đến một mình, mà 27 năm trước (1998), ông ta cùng hai người bác ruột của tôi đã mang theo la bàn, bộc phá và những xấp tài liệu quy hoạch địa chính để mở toang cánh cửa huyệt mộ này. Họ đã cướp đi khúc gỗ sưa đỏ ngàn năm tuổi mang về Sài Gòn để dựng nên đế chế nghìn tỷ của dòng họ Trần, và cũng chính tại nơi đây, mẹ tôi cùng hai người bác ruột đã vĩnh viễn bị chôn vùi sinh mệnh để trả giá cho lòng tham không đáy của kẻ cầm đầu Hắc Lỗ Ban.
Cánh tay trái mộc hóa của tôi rung lên bần bật, từng thớ gỗ cọ xát vào nhau phát ra những âm thanh ken két khô khốc. Tôi bước thêm một bước sát mép hố, cảm nhận rõ rệt một lực hút vô hình từ dưới đáy sâu đang kéo ghì lấy từng giọt máu đen trong cơ thể mình.
Lăng mộ cổ của vị Hoàng thân phong kiến nằm ngay dưới đáy vực thẳm này. Cửa tử đã mở toang, và chúng tôi không còn con đường nào khác ngoài việc dấn thân thẳng vào lòng đất tối tăm để tìm kiếm lời giải đáp cuối cùng cho vận mệnh của chính mình.