Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 3: Huyết Mạch Tương Tàn - Chương 37: Bức Thư Của Người Mẹ
Mùi hương trầm phảng phất từ chiếc túi bùa hộ mệnh bằng vải điều đỏ xua bớt mùi tanh lợm của nhựa gỗ sưa đang trào ra từ lồng ngực tôi. Cơn mưa rừng bên…
Nội dung chương
Mùi hương trầm phảng phất từ chiếc túi bùa hộ mệnh bằng vải điều đỏ xua bớt mùi tanh lợm của nhựa gỗ sưa đang trào ra từ lồng ngực tôi.
Cơn mưa rừng bên ngoài ngôi miếu hoang vẫn trút xuống ràn rạt trên mái ngói sứt mẻ. Từng giọt nước đục ngầu nhỏ qua kẽ nứt, rơi lộp bộp xuống nền gạch tàu vỡ vụn bên cạnh chân tôi. Bột chu sa hòa cùng nước lá dâu tằm của Thanh Nhã đắp trên vết thương bắt đầu khô lại thành một mảng cứng màu nâu xám, tạm thời ngăn dòng nhựa đen không phun ra thêm. Tuy vậy, cảm giác tê dại đã bò lên đến tận quai hàm bên trái, khiến mỗi cử động nuốt nước bọt của tôi đều nặng nề như nuốt phải dăm bào.
Tôi quỳ một gối trên nền gạch, vươn bàn tay phải còn lành lặn ra phía trước. Những ngón tay thịt da run rẩy chạm vào bề mặt chiếc túi bùa nhỏ.
Lớp vải điều đỏ đã phai thành màu cánh gián úa, những đường viền thêu sợi chỉ ngũ sắc xung quanh chữ "An" đã tơ tước từng sợi mục nát. Lão Thất câm điếc suốt mấy chục năm qua cặm cụi quét dọn dinh thự dòng họ Trần, giữ chìa khóa tầng hầm thứ ba, một kẻ tật nguyền chưa từng hé răng nói nửa lời với ai. Trước khi tôi và Thanh Nhã bắt chuyến tàu đêm ra Bắc tìm lăng mộ cổ, ông già ấy đã âm thầm giấu vật này vào hành lý.
- Lão Thất đưa cho cô lúc nào? - Giọng tôi khàn đặc, phát ra nghèn nghẹn từ vòm họng nửa mộc hóa.
Thanh Nhã ngồi bệt xuống bên cạnh, hai tay cô vẫn còn dính đầy bột chu sa đỏ quạch. Cô khẽ đáp:
- Đêm hôm trước khi chúng ta lên tàu. Lúc anh ra ngoài sân lấy xe máy, Lão Thất chặn tôi ở hành lang sau tiệm đồ mộc. Ông ấy kéo góc túi bạt của tôi ra, nhét chiếc túi này vào tận đáy lót. Ông ấy nắm chặt cổ tay tôi, lắc đầu rất mạnh, rồi dùng ngón tay chỉ vào ngực mình, sau đó chỉ xuống đất. Ánh mắt ông ấy lúc đó đầy sự sợ hãi. Tôi hỏi gì ông ấy cũng không đáp, chỉ đưa hai ngón tay làm dấu chữ thập, ra hiệu rằng đây là thứ giữ mạng cuối cùng.
Tôi nuốt một ngụm khí lạnh lùng từ cơn gió lùa qua cửa miếu.
Bàn tay trái bằng gỗ lim của tôi nằm bất động trên đùi, các ngón gỗ co quắp cứng đờ. Tôi phải dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay phải cẩn thận cạy từng mũi chỉ khâu ở miệng túi bùa. Đường chỉ đã quá cũ, vừa giật nhẹ đã đứt phựt.
Bên trong lớp vải điều không có tro bùa hay mạt sắt phong thủy như những túi bùa hộ thân thông thường.
Thứ nằm gọn trong đó là một mảnh giấy dầu màu vàng sáp ong được gấp thành hình chữ nhật nhỏ bằng bao diêm. Bề mặt giấy bọc một lớp sáp nến trong suốt để chống ẩm mốc. Thời gian hai mươi năm dường như đã làm lớp sáp nứt nẻ thành những đường rạn li ti, nhưng tờ giấy bên trong vẫn khô ráo.
Tôi cẩn thận dùng móng tay cạo sạch lớp sáp nến bám ngoài mép gấp.
Tờ giấy dầu từ từ mở ra dưới ánh sáng xám xịt của buổi chiều mưa rừng. Mùi giấy cũ nồng nặc mùi ẩm mốc xen lẫn hương hoa lài phai nhạt xộc thẳng vào mũi tôi.
Ngay khi bốn nếp gấp mở bung ra toàn bộ, mắt tôi dán chặt vào hàng chữ đầu tiên.
Những nét chữ viết tay nghiêng nghiêng, thanh mảnh, nét móc cong rất mềm mại nhưng dứt khoát. Nét chữ ấy lập tức đánh thẳng vào ký ức sâu kín nhất trong đầu tôi.
Đó là nét chữ của mẹ tôi. Nguyễn Thục Quyên.
Những năm tôi bốn, năm tuổi, trước khi bà biến mất khỏi dinh thự họ Trần, mẹ vẫn thường dùng loại mực đen này viết tên tôi lên từng trang sách vỡ lòng. Bà nắn nót từng nét cho tôi tập tô, kiên nhẫn cầm tay tôi vẽ từng hình ngôi nhà, hàng cây. Tôi nhớ như in cái móc chữ "Q" rộng bản rất đặc trưng mà cả đời này tôi không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai khác.
Hai mươi năm qua, cha tôi - Trần Thế Hùng - luôn nói với tôi bằng giọng khinh miệt lạnh lùng mỗi khi tôi gặng hỏi về mẹ: "Mẹ mày là người đàn bà hèn hạ, ham mê tiền bạc hư vinh. Bà ta không chịu nổi cảnh gia tộc nghiêm ngặt, đã gom một bọc vàng rồi bỏ trốn theo nhân tình sang trời Tây từ lúc mày mới năm tuổi. Đừng bao giờ nhắc đến kẻ phản bội ấy trước mặt tao."
Lời nói dối ấy găm vào đầu tôi suốt thời thơ ấu, biến sự nhung nhớ của một đứa trẻ thành nỗi tủi nhục và hận thù vô cớ. Tôi từng căm ghét những bức ảnh chụp chung hiếm hoi bị cha đốt cháy xém góc. Tôi từng tự nhủ mình là một đứa con bị vứt bỏ.
Nhưng lúc này, trước mắt tôi, tờ giấy dầu chi chít những dòng chữ đẫm nước mắt, nhiều chỗ nét mực bị nhòe đi vì những giọt nước rơi xuống khi người viết đang run rẩy tột cùng.
Tôi ghì chặt tờ giấy vào lòng bàn tay thịt, từng thớ cơ trên mặt run bần bật, bắt đầu đọc từng câu chữ:
"Quang ngoan của mẹ,
Nếu con đọc được những dòng này, mẹ biết chắc con đã lớn khôn, và điều mẹ khiếp sợ nhất suốt bao năm qua cuối cùng cũng đã giáng xuống tấm thân bé bỏng của con.
Mẹ viết bức thư này trong căn phòng áp mái của dinh thự, giữa đêm rằm tháng Bảy năm con vừa tròn năm tuổi. Dưới lầu, cha con cùng đám tay chân của ông ta đang làm lễ tế Mộc Tinh. Tiếng tụng niệm tà thuật vẳng lên qua kẽ sàn gỗ buốt lạnh như tiếng quỷ khóc. Mẹ không còn nhiều thời gian nữa. Lão Thất đã mạo hiểm tính mạng nhận lời giúp mẹ giữ bức thư này, chờ đợi đến ngày con rơi vào tuyệt lộ mới trao lại."
Tôi ngừng thở. Một luồng điện lạnh toát chạy dọc sống lưng, lan thẳng lên đỉnh đầu.
Thanh Nhã ngồi bên cạnh nhìn thấy ngực áo tôi phập phồng dữ dội, cô vội vàng quỳ sát lại, giữ lấy bả vai gỗ của tôi để giữ thăng bằng cho tôi:
- Anh Quang, trong thư viết gì?
Tôi không trả lời được. Tôi cắn chặt môi đến mức bật máu tươi, tiếp tục nuốt từng con chữ xé lòng:
"Quang ơi, cha con đã lừa dối tất cả. Ông ta nói dối cả dòng tộc, nói dối cả đất trời.
Hai tháng trước, mẹ thấy con liên tục sốt cao co giật vào mỗi đêm rằm. Làn da non nớt của con bỗng nhiên nứt nẻ, tỏa ra mùi nhựa cây tanh nồng, các khớp xương chân cứng đờ không thể đi lại. Cha con cấm mẹ đưa con đến bệnh viện. Ông ta nhốt con trong phòng kín, tự tay bôi những thứ dầu đen gớm ghiếc lên người con. Mẹ nghi ngờ, mẹ lén lục tìm chùm chìa khóa bằng đồng cổ trong két sắt của ông ta vào một đêm ông ta say rượu sau chuyến công tác miền Trung.
Mẹ đã bước xuống cầu thang xoắn ốc dẫn vào tầng hầm thứ ba sâu mười hai mét dưới lòng đất.
Nơi đó không phải hầm chứa rượu hay kho tiền như ông ta vẫn rêu rao. Đó là một địa ngục trần gian.
Mẹ đã tận mắt nhìn thấy Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng khổng lồ chạm khắc bằng thứ gỗ sưa đỏ ma quái ngâm tử khí. Ở chính giữa sa bàn, mẹ nhìn thấy một bức tượng gỗ nhỏ tạc hình hài một đứa trẻ năm tuổi.
Trên lưng bức tượng gỗ đó, cha con đã dùng chu sa đỏ lòm viết chính xác họ tên, ngày tháng năm sinh và bát tự giờ sinh của con. Dưới chân bức tượng có chôn một lọn tóc và những mẩu móng tay của con mà ông ta từng tự tay cắt cho con vào dịp thôi nôi.
Và ngay giữa đỉnh đầu bức tượng gỗ ấy, một cây đinh đồng đen dài bảy tấc đã được đóng ngập vào một phân.
Mẹ chết lặng dưới chân sa bàn. Mẹ đọc được cuốn sổ tay bùa chú của Hắc Lỗ Ban mà ông ta để trên bàn thờ tổ. Cha con không hề yêu thương con như một người cha yêu con ruột. Ông ta sinh con ra không phải vì tình mẫu tử hay nối dõi tông đường.
Con chính là Hình Nhân Trấn Nghiệp được ông ta lựa chọn cẩn thận ngay từ ngày mẹ mới mang thai.
Dòng họ Trần muốn chiếm đoạt long mạch thành phố, muốn cắm một trăm lẻ tám cây đinh đồng để hút sạch tài lộc và tuổi thọ của hàng triệu sinh linh nhằm luyện thành Mộc Tinh Đan trường sinh bất tử. Nhưng tà thuật Lỗ Ban cướp đoạt mệnh trời luôn đi kèm phản phệ khủng khiếp. Kẻ thi triển nếu không có người chịu trận thay thì toàn bộ lục phủ ngũ tạng sẽ hóa thành tro bụi ngay khi cây đinh thứ ba mươi sáu được cắm xuống.
Ông ta cần một vật chứa mang chính dòng máu ruột thịt của mình. Một đứa con trai trùng bát tự với gốc sưa nghìn năm dưới mộ cổ, nuôi nấng nó trong giàu sang nhung lụa để bồi bổ nguyên khí, rồi từng bước biến cơ thể nó thành gỗ sống để làm chiếc cọc thu lôi gánh toàn bộ oán khí và phản phệ thay cho ông ta.
Hai người bác ruột của con đã chết thảm khốc dưới chân cầu và đáy sông Sài Gòn cũng vì trò thế mạng này của ông ta mười năm trước. Giờ đây, kẻ tiếp theo bước lên đoạn đầu đài chính là con trai bé bỏng của mẹ."
Một giọt nước mắt nóng hổi rơi cộp xuống mặt giấy dầu, làm nhòe đi chữ "đoạn đầu đài".
Tôi run lên bần bật. Ngón tay thịt bấu chặt vào mép giấy khiến lớp giấy dó dày dặn nhăn nhúm lại.
Hai mươi năm qua.
Hai mươi năm sống trong nhung lụa, đi xe sang, mặc âu phục đắt tiền, được cho ăn học ở những ngôi trường danh giá nhất trời Tây, được cha dắt tay giới thiệu trước hội đồng quản trị tập đoàn Trần Thị Mộc Nghiệp như người kế vị tương lai kiêu hãnh.
Mọi sự ưu ái, mọi ánh mắt hài lòng của ông ta khi nhìn tôi lớn lên khỏe mạnh, thông minh, thực chất chỉ là ánh mắt của một gã đồ tể đang nhìn con vật tế thần của mình béo tốt từng ngày.
Ông ta nuôi tôi để tôi chết thay ông ta.
Ông ta biến cánh tay tôi thành gỗ lim, biến ngực tôi thành mộc bia, để hứng trọn mũi dùi nguyền rủa của trời đất khi ông ta điên cuồng cướp đoạt long mạch Sài Gòn.
- Anh Quang... bình tĩnh... - Tiếng Thanh Nhã nghẹn ngào bên tai. Cô đã đọc được những dòng chữ trên giấy qua vai tôi. Đôi mắt trong veo của người con gái dòng dõi Bạch Lỗ Ban ngấn lệ, bàn tay cô siết chặt lấy cánh tay tôi như muốn truyền chút hơi ấm ít ỏi giữa chốn hoang vu lạnh lẽo này.
Tôi nghiến răng nuốt ngược vị mặn chát của nước mắt vào trong, ngón tay run rẩy lật tiếp mặt sau của tờ giấy dầu.
Nét chữ ở mặt sau trở nên vội vã, xiêu vẹo hơn, có những vệt mực kéo dài như thể người viết vừa viết vừa phải lắng tai nghe ngóng từng tiếng bước chân ngoài hành lang:
"Quang ơi,
Mẹ đã quỳ dưới chân cha con suốt ba ngày ba đêm, dập đầu đến chảy máu trán để van xin ông ta dừng tay, van xin ông ta tha cho con, xin ông ta hãy để hai mẹ con mình rời khỏi đất Sài Gòn, đi đến một vùng quê nghèo nào đó sống một đời bình dị.
Nhưng ông ta là một con ác quỷ đội lốt người.
Ông ta đá văng mẹ ra cửa, cười gằn bảo rằng số mệnh của con đã được định đoạt từ khi thụ thai. Ông ta bảo rằng được làm vật tế cho sự trường tồn vạn đại của họ Trần là vinh hạnh lớn nhất của đời con.
Mẹ đã tính ôm con bỏ trốn ngay trong đêm. Mẹ đã thu xếp hành lý, giấu con sau cốp xe của một người làm công quen biết.
Thế nhưng khi chiếc xe vừa lăn bánh ra khỏi cổng dinh thự được ba cây số, cơ thể con bắt đầu tím tái, máu mũi con chảy ra đặc quánh mùi gỗ mục, tim con ngừng đập từng nhịp dài.
Mẹ hoảng loạn đưa con quay lại. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa dinh thự, con mới thở lại được.
Lão Thất câm điếc lúc đó mới lén viết lên lòng bàn tay mẹ ba chữ: Đinh Khóa Hồn.
Cây đinh bảy tấc cắm trên đỉnh đầu bức tượng gỗ ở tầng hầm thứ ba đã khóa chặt sinh mệnh con với sa bàn gỗ sưa. Con không thể rời xa sa bàn quá một trăm dặm. Máu của con đã hòa vào nhựa của cây sưa quỷ dữ. Nếu mẹ đưa con trốn đi, bùa yếm sẽ bẻ gãy kinh mạch của con ngay trên đường, con sẽ chết trong đau đớn cùng cực mà không ai cứu được.
Không còn đường lùi nữa, con trai của mẹ.
Chạy trốn là con đường chết. Để con ở lại dinh thự này cũng là con đường chết từng ngày từng giờ.
Chỉ có một cách duy nhất để con được sống sót làm một con người trọn vẹn.
Mẹ phải hủy hoại gốc rễ của tà thuật đó. Mẹ phải phá tan cội nguồn nuôi dưỡng dã tâm của người đàn ông tàn độc ấy."
Những dòng chữ tiếp theo trên bức thư đột ngột đứt quãng bởi một vệt mực dài quẹt ngang trang giấy, như thể có một lực giật cực mạnh vừa tác động lên ngòi bút.
Một khoảng giấy bị rách toạc ở góc dưới bên phải, chỉ còn lại vài chữ xiêu vẹo được viết nguệch ngoạc bằng máu ngón tay đã khô đen từ 27 năm trước (1998):
"... Đêm nay, khi trăng lên đỉnh đầu... mẹ sẽ xuống tầng hầm thứ ba..."
Hết rồi.
Bức thư kết thúc đột ngột ở đó. Không có lời dặn dò cuối cùng, không có chữ ký trọn vẹn, chỉ có vệt máu khô khốc và mùi hương trầm cay xé mắt đọng lại giữa hai nếp gấp giấy dầu.
Hai mươi năm qua, tôi đã sống trong sự dối trá tàn nhẫn nhất của cuộc đời.
Mẹ tôi chưa từng bỏ rơi tôi theo nhân tình như lời cha nói. Bà không hề tham lam vinh hoa hay sợ hãi bỏ chạy.
Người mẹ ấy đã ở lại dinh thự, đã quỳ gối van xin đến nát trán vì sinh mạng của tôi, và khi nhận ra sợi xích vô hình trói buộc đứa con trai năm tuổi vào sa bàn (khi ấy mẹ vẫn còn sống, trước khi qua đời khi tôi vừa tròn một tuổi) quỷ quái, bà đã chọn cách đối đầu trực diện với ác quỷ.
Lồng ngực tôi rung lên bần bật. Vết thương mộc hóa vừa mới se miệng dưới lớp lá dâu tằm lại nứt toác ra từng đường rãnh nhỏ. Cơn giận dữ và nỗi đau đớn tột cùng xé toạc mọi giác quan của tôi. Nhựa gỗ sưa màu đen sẫm rỉ ra, hòa lẫn với những giọt nước mắt đang lăn dài trên gò má tôi, rơi lộp bộp xuống mặt sau của bức thư ố vàng.
Tôi ngửa mặt lên nhìn trần miếu hoang rách nát, nhìn những đám mây đen kịt đang cuồn cuộn vần vũ trên bầu trời phương Bắc.
Gió rừng gầm rú qua những kẽ đá dựng đứng của thung lũng chết, nghe như tiếng khóc than xé ruột xé gan của người phụ nữ 27 năm trước (1998) trong căn phòng áp mái lạnh lẽo.
- Bà ấy đã xuống tầng hầm thứ ba... - Giọng tôi nghẹn lại, từng từ thốt ra như đâm vào cuống họng - Đêm hôm đó... mẹ tôi đã cầm thứ gì đó bước xuống tầng hầm thứ ba để cứu tôi...
Thanh Nhã nhìn tôi, đôi mắt cô tràn ngập sự bàng hoàng và thương cảm tột độ. Cô run run đưa tay đón lấy mảnh giấy dầu từ tay tôi, nhìn chằm chằm vào vết mực bị quẹt ngang dang dở ở dòng.
- Lão Thất đã chứng kiến tất cả... - Thanh Nhã thì thào, giọng cô lạc đi giữa tiếng mưa - Đêm hôm đó, chắc chắn đã xảy ra một chuyện kinh hoàng ở tầng hầm thứ ba. Trần Thế Hùng đã làm gì mẹ của anh?
Tôi không thể trả lời.
Tôi siết chặt nắm tay phải đến mức móng tay găm sâu vào da thịt ứa máu.
Hình ảnh người cha uy quyền, đạo mạo với bộ vest phẳng phiu đứng trên bục vinh danh của tập đoàn tài chính, nụ cười bí hiểm của ông ta trong căn hầm ngập mùi tử khí, tất cả hiện lên sắc lạnh như một lưỡi dao cắm thẳng vào tim tôi.
Ông ta đã giết hai người anh ruột. Ông ta biến tôi thành vật chứa nghiệp.
Và người mẹ yêu dấu của tôi, người duy nhất liều mạng bước xuống địa ngục mười hai mét dưới lòng đất để bảo vệ tôi, đã vĩnh viễn không bao giờ trở lên khỏi cầu thang xoắn ốc đó nữa.
Tôi từ từ chống bàn tay gỗ lim xuống sàn gạch ẩm ướt, gượng đứng dậy giữa ngôi miếu hoang tàn.
Cơn đau buốt từ vết nứt nơi lồng ngực không còn làm tôi gục ngã được nữa. Sự thật tàn khốc về người mẹ đã đốt cháy chút sợ hãi còn sót lại trong tâm hồn tôi. Máu trong huyết quản tôi rần rật chảy qua những thớ thịt nửa người nửa gỗ, sôi sục một ngọn lửa căm hờn chưa từng có.
- Chúng ta phải quay về Sài Gòn - Tôi cất giọng lạnh ngắt, nhìn thẳng vào màn mưa xám xịt ngoài cửa miếu - Ngay lập tức.
Thanh Nhã ngẩng đầu nhìn tôi, đôi mắt cô kiên định gật đầu:
- Tôi sẽ đi cùng anh. Dù sa bàn có cắm đủ một trăm lẻ tám cây đinh, chúng ta cũng phải nhổ sạch từng cây một.
Tôi cẩn thận gấp bức thư của mẹ lại theo đúng những nếp gấp cũ, nhét sâu vào chiếc túi vải điều đỏ, rồi đặt trang trọng vào túi áo ngực bên phải, ngay sát quả tim người đang đập dồn dập những nhịp phẫn nộ.
Bức thư nằm áp chặt vào lồng ngực tôi, truyền qua lớp vải một sự ấm áp kỳ lạ, như bàn tay năm xưa của mẹ vẫn đang ôm lấy đứa con trai bé bỏng.
Thế nhưng, bức thư dừng lại ở dòng chữ dang dở ấy vẫn còn một bí mật đen tối chưa được giải đáp.
Người mẹ năm xưa đã làm gì trước mặt Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng? Và tại sao suốt hai mươi năm qua, không một mẩu hài cốt, không một nấm mồ nào của bà được tìm thấy ở bất kỳ đâu trên mảnh đất Sài Gòn?
Tiếng sấm sét rạch ngang bầu trời rọi sáng vách miếu hoang tàn, soi rõ vết nứt đen ngòm trên ngực tôi đang giật mạnh theo từng nhịp thở dồn dập.