Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 5: Vạn Đại Tái Sinh - Chương 71: Tiếng Bào Giữa Đêm Vắng

Gió đêm từ phía kênh Tàu Hủ thổi luồn qua những con hẻm quanh co của khu Chợ Lớn, mang theo hơi nước ẩm mặn phả vào gian nhà gỗ số mười hai ngõ Hào Sĩ…

Nội dung chương

Gió đêm từ phía kênh Tàu Hủ thổi luồn qua những con hẻm quanh co của khu Chợ Lớn, mang theo hơi nước ẩm mặn phả vào gian nhà gỗ số mười hai ngõ Hào Sĩ Phường. Đồng hồ quả lắc trên vách điểm đúng mười hai tiếng trầm đục. Cả con hẻm cổ kính chìm vào giấc ngủ sâu sau một ngày dài buôn bán, chỉ riêng tiệm mộc của chúng tôi vẫn sáng rực ánh đèn vàng treo lơ lửng giữa trần.

Trên sàn xi măng mộc mạc, những khúc gỗ xoan đào và gỗ sao vừa chuyển về từ chiều nằm xếp lớp ngay ngắn. Mùi gỗ tươi thơm hắc quyện lẫn với mùi dầu tràm ngai ngái, át đi vị khói xe ban ngày.

Tôi quỳ một gối bên cạnh bàn gia công, hai bàn tay giữ chặt lấy chiếc bào gỗ bằng gỗ cẩm lai. Cánh tay trái vốn đã mộc hóa hoàn toàn, lớp da xù xì màu nâu sẫm của lõi sưa đỏ ép chặt xuống thân bào, tạo nên một lực tì vững chắc đến kinh ngạc.

*Sàn sạt... sàn sạt...*

Lưỡi thép tôi bén ngọt lướt trên bề mặt thanh gỗ sao xù xì, gọt đi những phần thô ráp lồi lõm ngoài vỏ. Từng dải phoi mỏng tang cuộn tròn như cánh ve, mềm mại tuôn ra khỏi khe thoát, rơi là đà xuống vạt áo bảo hộ và phủ trắng xóa hai đầu gối tôi. Âm thanh ấy vang lên nhịp nhàng, giòn giã và đều đặn giữa không gian tĩnh mịch.

Nhiều năm trước, mỗi khi đêm xuống, hai tai tôi luôn bị tra tấn bởi những âm thanh rợn người. Đó là tiếng búa nện chát chúa vào đầu đinh đồng bảy tấc, tiếng kim loại cào xé từng thớ thịt gỗ sưa dưới căn hầm sâu mười hai mét của dinh thự họ Trần, hay tiếng thở dốc đầy ám ảnh của cha tôi khi ông đứng trước Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng để điều khiển vận mệnh của cả thành phố. Những thanh âm tàn nhẫn ấy từng bám riết lấy tôi trong từng giấc ngủ, biến từng giấc mơ thành những bãi tha ma ngập ngụa mùi máu đen và tử khí.

Nhưng lúc này đây, tiếng đẩy bào *sàn sạt* mộc mạc đã thay thế tất cả. Âm thanh thuần khiết của gỗ bị gọt giũa xua tan đi từng chút một những tàn dư đen tối còn đọng lại sâu kín. Tôi thở ra một hơi dài, cảm nhận từng mạch nhựa sưa đỏ trong cánh tay trái mình đang khẽ rung lên theo từng đường bào, đập nhịp nhàng cùng với sự sống ẩn chứa bên trong khối gỗ.

- Cẩn thận đường vân mắt gỗ chỗ này, anh Quang. Thớ gỗ sao này đi xoắn, đẩy mạnh tay quá sẽ làm tưa mặt ngoài.

Giọng nói êm dịu của Thanh Nhã vang lên bên cạnh. Cô đang ngồi xếp bằng trên một chiếc chiếu cói trải góc phòng, tay cầm chiếc thước Lỗ Ban khắc chữ son đo đạc từng cạnh của khung bao cửa sổ. Mái tóc đen của cô được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ trắc giản dị, vài sợi tóc mai lòa xòa trước trán ướt đẫm mồ hôi. Dưới ánh đèn tròn, khuôn mặt cô toát lên vẻ thanh thản và tập trung tuyệt đối.

Tôi dừng tay bào, ngón tay gỗ miết nhẹ qua chỗ mắt gỗ sẫm màu mà cô vừa chỉ:

- Thớ gỗ này uốn ngược về phía tây nam. Chỗ này là điểm chịu lực của khung cửa sổ, nếu gọt mỏng quá thì mùa mưa bão tới, gió giật sẽ làm nứt mộng.

Thanh Nhã đặt chiếc thước Lỗ Ban xuống mặt bàn, mỉm cười gật đầu:

- Đúng vậy. Nhà của bác Bảy và những hộ dân dưới chân cầu Chà Và đều là dạng nhà tập thể xây từ thời cũ, tường gạch mục ruỗng hết cả rồi. Khung cửa sổ này không đơn thuần để chắn gió, mà còn phải gánh bớt tải trọng cho mảng tường phía ngoài ban công. Em đã tính toán theo cung Nghinh Phúc và Thuận Khoa trên thước Giải Mộc. Chiều cao một mét hai mươi mốt, chiều rộng tám mươi mốt phân. Kích thước này vừa đón gió lành từ sông thổi vào, vừa giúp xua tan chướng khí đọng lại sau trận yểm mộc ban sáng.

Cô cầm ống mực chỉ kéo một đường dây thừng nhỏ tẩm mực đen tuyền, đặt thẳng tắp trên mặt gỗ rồi bật nhẹ ngón tay.

*Tách.*

Một vệt mực đen nhánh in hằn trên thớ gỗ vàng nhạt, chuẩn xác đến từng mi-li-mét. Tôi nhìn từng cử chỉ khéo léo của cô, lòng dâng lên niềm khâm phục khôn xiết. Dòng họ Bạch Lỗ Ban lưu truyền bí thuật giải mộc hàng trăm năm qua, hóa ra không nằm ở những câu thần chú ma mị, mà nằm trọn vẹn trong sự tỉ mỉ, tôn trọng quy luật tự nhiên và lòng trắc ẩn dành cho những người cư ngụ dưới mái nhà.

Tôi đổi sang chiếc bào ngắn hơn, chỉnh lại độ thò của lưỡi thép mỏng bớt một phần mười ly.

*Sàn sạt... sàn sạt...*

Thanh gỗ sao dần trở nên láng mịn dưới bàn tay tôi, phẳng như mặt nước hồ mùa thu. Khi tôi đưa ngón tay chạm vào bề mặt gỗ vừa hoàn thiện, luồng sinh khí ấm áp từ vết sẹo hình hoa sưa trên ngực bỗng truyền qua cánh tay trái, tạo nên một sự liên kết vô hình. Cánh tay gỗ của tôi không còn là một gánh nặng quái dị hay lời nguyền tàn độc của thuật yếm nữa. Nó trở thành một công cụ chuẩn xác, có thể cảm nhận được từng khuyết tật nhỏ nhất ẩn sâu bên trong thân cây, nơi mà mắt thường không thể nào nhìn thấy.

Chúng tôi cứ thế miệt mài làm việc. Tôi xẻ gỗ, đục mộng, bào nhẵn các thanh giằng; Thanh Nhã so thước, đánh dấu vị trí các chốt âm dương và thoa một lớp dầu bảo quản thảo mộc lên các mối nối.

Căn phòng ngập tràn tiếng đục *cộc cộc*, tiếng cưa tay *xoèn xoẹt* và tiếng thì thầm trao đổi về cách gia cố xà gồ. Mười bộ khung bao cửa sổ và sáu thanh đòn tay mới cho khu nhà dột nát dần thành hình dưới bàn tay của hai đứa. Đêm càng về khuya, không khí càng mát lạnh, nhưng hai bên thái dương chúng tôi mồ hôi vẫn chảy ròng ròng.

Khoảng hơn hai giờ sáng, Thanh Nhã đứng dậy vươn vai, rót một chén trà hoa cúc nóng bốc khói nghi ngút đưa cho tôi:

- Anh nghỉ tay uống ngụm trà đi. Cả đêm nay anh bào liên tục sáu thanh đòn tay rồi, cánh tay gỗ dù không biết mỏi nhưng kinh mạch bên trong vẫn cần dưỡng khí.

Tôi đón lấy chén trà bằng bàn tay phải bằng thịt da, nhấp một ngụm. Vị đắng nhẹ đầu lưỡi nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho vị ngọt thanh nơi cuống họng. Hơi ấm của nước trà xua đi cái lạnh buốt của sương đêm đang len lỏi qua khe cửa.

- Nhã này, - tôi nhìn chén trà sóng sánh ánh vàng - anh chưa từng nghĩ có một ngày mình lại tìm thấy sự an định trong một xưởng mộc nhỏ như thế này. Suốt hai mươi lăm năm ở tập đoàn, mỗi đêm mở mắt ra là những con số hàng chục tỷ, những bản vẽ quy hoạch đè nặng lên đầu, và nỗi sợ hãi không biết ngày mai ai sẽ là người tiếp theo bị cắm đinh đoạt mạng. Lúc đó, anh cứ ngỡ sự giàu sang là đỉnh cao của cuộc đời.

Thanh Nhã ngồi xuống mép bàn cưa, ánh mắt nhìn ra con hẻm vắng lặng qua khung cửa sổ khép hờ:

- Cha em từng dạy, cái nhà là nơi che chở cho linh hồn con người sau những giông bão ngoài xã hội. Người thợ mộc dựng nhà bằng cái tâm thiện lành thì từng cái mộng, từng cây đòn tay đều tỏa ra hơi ấm, giúp gia chủ bình an, con cháu thuận hòa. Còn nếu dựng nhà bằng mưu mô cướp đoạt, dùng tà thuật ép người thì dù có xây cao ốc trăm tầng dát vàng, nơi đó cũng chỉ là một ngôi mộ lộng lẫy giam cầm những linh hồn bất hạnh mà thôi.

Tôi gật đầu, thấu hiểu sâu sắc từng lời cô nói. Những gì gia tộc họ Trần từng xây dựng trên khắp dải đất Sài Gòn này thực chất chỉ là những cái bẫy phong thủy khổng lồ, rút cạn phúc lộc của người khác để vỗ béo cho một dã tâm hão huyền. Giờ đây, đứng giữa đống mùn cưa đơn sơ này, tôi mới thực sự hiểu được thế nào là sự trường tồn.

Đúng lúc đó, từ đầu ngõ Hào Sĩ Phường bỗng vang lên tiếng bước chân chậm chạp.

*Cộp... lết... cộp... lết...*

Tiếng bước chân rất nhẹ, không đều nhịp, một bên chân dường như kéo lê trên nền đá xanh của con hẻm. Giữa đêm khuya thanh vắng, âm thanh này nghe rõ mồn một, mỗi lúc một gần hơn về phía tiệm mộc.

Tôi và Thanh Nhã cùng đưa mắt nhìn nhau. Thanh Nhã lập tức cầm lấy chiếc đục *Chính Tâm* để bên hông, ánh mắt cô trở nên cảnh giác. Dù trận chiến phong thủy lớn nhất đã kết thúc, những tàn dư của giới phong thủy ngầm hay những kẻ từng chịu ơn mưa móc của Trần Thế Hùng vẫn có thể tìm đến để báo thù.

Tôi đứng dậy, bước về phía cửa gỗ, bàn tay gỗ sưa siết chặt lấy chiếc đục vát mép. Qua khe hở của hai cánh cửa gỗ bức bàn, tôi nhìn thấy một bóng người cao gầy, lưng còng rạp xuống, khoác trên mình chiếc áo bà ba màu chàm đã bạc thếch.

Người đó dừng lại ngay trước bậc tam cấp của tiệm mộc. Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt ra từ ngọn đèn đường, khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây cổ thụ của ông lão hiện rõ. Đôi mắt ông đục ngầu vì năm tháng nhưng sâu thẳm bên trong lại ánh lên một sự sáng suốt lạ thường.

- Lão Thất... - Tôi khẽ thốt lên, vội vã rút chốt cài, đẩy toang hai cánh cửa gỗ.

Người đứng ngoài cửa chính là Lão Thất, người gác hầm sa bàn tật nguyền câm điếc của dòng họ Trần suốt mấy mươi năm qua. Sau ngày tòa tháp sụp đổ và Sa Bàn Bách Mộc bị thiêu rụi, ông biến mất không để lại dấu vết. Tôi cứ ngỡ ông đã rời khỏi thành phố này để tìm một chốn thanh nhàn dưỡng già, không ngờ đêm nay ông lại xuất hiện ở đây.

Lão Thất nhìn tôi, khóe miệng móm mém run rẩy nở một nụ cười hiền hậu. Ông không bước vào nhà, chỉ đứng trên bậc thềm đá, đưa đôi mắt già nua nhìn khắp xưởng mộc ngổn ngang gỗ và phoi bào, rồi dừng lại trên cánh tay gỗ của tôi. Ánh mắt ông tràn đầy sự nhẹ nhõm và mãn nguyện.

Thanh Nhã buông chiếc đục xuống, bước tới cúi đầu chào ông:

- Bác Thất, đêm hôm khuya khoắt thế này, mời bác vào nhà uống chén trà nóng cho ấm người ạ.

Lão Thất xua xua đôi bàn tay gầy guộc đầy những vết chai sần của một đời tiếp xúc với gỗ. Ông là người câm điếc, không thể nói, cũng không thể nghe, nhưng ánh mắt và cử chỉ của ông lại truyền đạt rõ ràng hơn bất cứ lời nói nào.

Từ trong bọc áo bà ba trước ngực, Lão Thất chậm rãi lấy ra một bọc vải thô màu chàm đã ố vàng theo thời gian. Ông nâng niu bọc vải bằng cả hai tay, cẩn thận mở từng nếp gấp.

Bên trong bọc vải là một chiếc đục thép dài chừng tám tấc. Cán đục làm bằng gỗ mun đen bóng, lên nước nhẵn thín vì đã qua tay nhiều thế hệ thợ mộc. Phần lưỡi đục bằng thép rèn thủ công, mép cắt ánh lên sắc xanh biếc lạnh lùng nhưng không hề mang một chút tà khí nào. Trên thân lưỡi thép, người ta khắc chìm ba chữ triện tinh xảo: *Bảo Chân Tâm*.

Lão Thất cầm chiếc đục bằng hai tay, trịnh trọng đưa về phía tôi.

Tôi ngỡ ngàng nhìn món bảo vật trước mắt. Là người am hiểu về lịch sử nghề mộc và các cổ vật phong thủy, tôi nhận ra ngay lai lịch của nó. Đây chính là chiếc đục gia bảo của ba anh em họ Trần Trần thị Mộc Nghiệp từ hơn một trăm năm trước, từ cái thời dòng họ Trần còn là những người thợ mộc chân chính, dựng nhà cứu người ở vùng đất Gia Định xưa, trước khi bị lòng tham và thuật Hắc Lỗ Ban làm cho tha hóa. Chiếc đục này tưởng như đã thất lạc từ thời ông nội tôi, không ngờ lại được Lão Thất âm thầm gìn giữ suốt bấy nhiêu năm qua dưới tầng hầm tăm tối.

- Bác Thất... món đồ này quá quý giá... - Tôi ngập ngừng, hai tay không dám vội đón nhận.

Lão Thất nhìn thẳng vào mắt tôi, khẽ lắc đầu. Ông cầm lấy bàn tay gỗ của tôi, mở rộng các ngón tay rồi đặt chiếc đục thép vào lòng bàn tay tôi. Bàn tay già nua của ông vỗ nhẹ lên mu bàn tay gỗ sưa của tôi ba cái, thật dứt khoát.

Một luồng cảm giác ấm áp truyền từ thân đục vào kinh mạch tôi. Chiếc đục thép gia bảo không hề bài xích bàn tay mộc hóa của tôi, mà ngược lại, nó như tìm thấy người chủ đích thực sau cả một thế kỷ ngủ vùi. Ba chữ *Bảo Chân Tâm* ánh lên một tia sáng mờ nhạt rồi chìm sâu vào thớ thép.

Lão Thất lùi lại một bước trên bậc tam cấp. Ông nhìn tôi và Thanh Nhã, hai bàn tay chắp lại trước ngực, cúi đầu chào theo nghi lễ cổ xưa nhất của người thợ mộc. Nụ cười trên khuôn mặt đầy nếp nhăn của ông rạng rỡ và thanh thản vô cùng.

Trước khi tôi kịp bước ra giữ ông lại, Lão Thất đã xoay người bước đi. Bóng dáng còng rạp của ông hòa vào màn sương đêm mờ ảo của ngõ Hào Sĩ Phường, từng bước chân khập khiễng xa dần, rồi lặng lẽ biến mất sau khúc quanh dẫn ra bờ kênh Tàu Hủ.

Tôi đứng lặng bên bậu cửa, gió đêm lùa qua mái tóc làm dịu đi hơi nóng trên trán. Trong lòng bàn tay tôi, chiếc đục gia bảo tỏa ra một sức nặng vô hình, sức nặng của trách nhiệm và sự phục hưng một dòng họ bằng con đường chân chính.

- Bác Thất đến đây để trao lại sự khởi đầu cho anh. - Thanh Nhã bước đến bên cạnh tôi, nói - Dòng họ Trần đã kết thúc tội ác của nó dưới tòa tháp kia, và đêm nay, một dòng họ Trần mới bắt đầu từ chính chiếc đục này.

Tôi quay người bước vào trong, cẩn thận đặt chiếc đục *Bảo Chân Tâm* lên giá gỗ mun cạnh bàn thờ sư tổ.

Ánh mắt tôi dừng lại ở chiếc hũ sành màu da lươn đặt ngay ngắn trên kệ gỗ cao nhất. Bên trong chiếc hũ ấy là toàn bộ tro tàn của Sa Bàn Bách Mộc Yếm Thắng nghìn năm tuổi, thứ mà tôi và Thanh Nhã đã thu gom sau khi trận đại hỏa thiêu đốt rụi toàn bộ tà niệm của Trần Thế Hùng. Nắm tro tàn ấy từng là cội nguồn của bao nhiêu tai ương, máu và nước mắt của thành phố này suốt nhiều thập kỷ.

Tôi nhìn ra ngoài trời. Phương đông đã bắt đầu ửng lên những vệt sáng màu lam nhạt của rạng đông. Đêm dài u tối đã sắp đi qua.

- Sáng mai, - tôi quay sang nói với Thanh Nhã, giọng nói trầm tĩnh và kiên định - chúng ta sẽ mang chiếc hũ này đến một nơi thanh tịnh nhất ở Chợ Lớn để chôn cất. Đã đến lúc trả lại sự bình yên vĩnh viễn cho những linh hồn từng bị giam cầm trong thớ gỗ sưa nghìn năm.

Thanh Nhã mỉm cười gật đầu. Cô bước lại gần bàn gia công, cầm chiếc cưa tay lên, sẵn sàng cho những công việc cuối cùng trước khi mặt trời ló rạng. Tiếng bào, tiếng đục lại tiếp tục vang lên giữa không gian Chợ Lớn đang cựa mình thức giấc.

Chương khác

Xem thêm