Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 5: Vạn Đại Tái Sinh - Chương 73: Bài Học Cho Đời Sau
Nắng sớm Chợ Lớn rọi qua những chấn song gỗ của gian nhà cổ, dát lên sàn xi măng những vệt vàng óng ả. Bụi cưa lơ lửng trong không khí, bốc lên mùi thơm…
Nội dung chương
Nắng sớm Chợ Lớn rọi qua những chấn song gỗ của gian nhà cổ, dát lên sàn xi măng những vệt vàng óng ả. Bụi cưa lơ lửng trong không khí, bốc lên mùi thơm ngai ngái của gỗ dổi, gỗ xoan đào và mùi ngai ngái quen thuộc của dầu trẩu. Tiệm mộc cũ sau những ngày biến động dữ dội nay đã mở toang hai cánh cửa bức bàn hướng ra con hẻm nhỏ. Không còn những tấm bùa chú đỏ quạch, không còn tử khí rình rập, nơi đây đã trở lại thành một xưởng mộc đích thực giữa lòng phố cổ.
Thanh Nhã đặt chiếc ấm đất nung pha trà hoa cúc xuống góc bàn gia công. Cô mặc chiếc áo bà ba màu lam giản dị, mái tóc đen búi gọn sau gáy, để lộ gương mặt thanh thoát và đôi mắt sáng ngời. Cô nhìn tôi, khẽ mỉm cười khi thấy tôi đang cẩn thận sắp xếp lại từng chiếc cưa tay, từng chiếc đục sắt cỡ nhỏ lên mặt bàn thợ.
Hôm nay là ngày đầu tiên tiệm mộc của chúng tôi nhận những đứa trẻ học việc.
Đó không phải là những thiếu gia con nhà giàu có tìm đến để học phong thủy đổi vận, cũng không phải những tay buôn đồ cổ ranh ma muốn kiếm nghề kiếm bạc. Bốn đứa trẻ đứng lấp ló ngoài bậu cửa đều là những phận đời lang bạt nơi góc chợ, gầm cầu rạch Tàu Hủ. Đứa lớn nhất mười bốn tuổi tên Toàn, người gầy guộc, đôi mắt lấm lét và đôi bàn tay chằng chịt những vết sẹo cũ. Ba đứa nhỏ hơn chừng chín đến mười một tuổi, quần áo lấm lem bùn đất, đứa co ro nép vào góc cột, đứa giương đôi mắt tròn xoe đầy sợ sệt nhìn vào trong xưởng.
- Mấy đứa vào đi, đừng sợ. - Tôi bước ra bậu cửa, cất tiếng gọi nhẹ nhàng.
Bàn tay trái của tôi, nơi những thớ gỗ sưa sẫm màu đã hóa thành lớp vỏ bảo bọc cứng cáp, khẽ đưa ra vẫy chúng. Thằng Toàn khựng lại một nhịp khi nhìn thấy những vân gỗ kỳ lạ hằn rõ trên mu bàn tay tôi. Nó đã nghe nhiều lời đồn đại kỳ quái về người thợ mộc trẻ ở hẻm Hào Sĩ Phường, người có cánh tay bằng gỗ và ánh mắt thấu suốt tâm can kẻ khác. Nhưng mùi thơm của bánh bao nóng hổi mà Thanh Nhã vừa dọn ra trên chiếc bàn con đã chiến thắng nỗi e ngại của bọn trẻ.
Lũ trẻ rụt rè bước qua ngưỡng cửa gỗ lim. Chúng ngồi túm tụm quanh chiếc bàn gỗ, cầm lấy những chiếc bánh bao trắng ngần, vừa ăn vừa đưa mắt ngắm nhìn những kệ gỗ, những chiếc bào tay và những khúc gỗ thô nằm ngay ngắn dọc theo vách tường.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện với chúng, đặt bốn thanh gỗ xoan đào dài chừng ba tấc đã được xẻ vuông vức lên mặt bàn.
- Chú Quang ơi, học làm thợ mộc có nhanh giàu không chú? - Một đứa nhỏ tên Tí vừa nhai nhồm nhoàm vừa lên tiếng hỏi - Con nghe người ta nói làm đồ thờ với sửa nhà cổ cho người giàu kiếm được nhiều tiền lắm.
Tôi nhìn Tí, rồi đưa mắt nhìn sang Toàn. Thằng bé lớn tuổi nhất này không ăn ngấu nghiến như các em. Nó cắn từng miếng nhỏ, ánh mắt luôn liếc nhìn về phía chiếc tủ gỗ mun nơi tôi cất chiếc đục *Bảo Chân Tâm* và những cuốn sổ ghi chép thước tấc cổ truyền. Ánh mắt ấy mang theo sự toan tính già dặn vượt quá lứa tuổi của nó, một nét ranh mãnh của đứa trẻ phải sớm bươn chải giữa chốn chợ trời phức tạp.
- Nghề mộc có thể nuôi sống các cháu cả đời, - tôi chậm rãi nói, giọng trầm ấm vang lên giữa gian nhà tĩnh lặng - nhưng nếu các cháu đến đây với ý nghĩ học nghề để đoạt tài cướp lộc, để làm giàu bằng mọi giá, thì các cháu đã gõ nhầm cửa rồi.
Thanh Nhã bước lại gần, đặt bốn chiếc cưa tay lưỡi thép sáng loáng trước mặt từng đứa trẻ:
- Chú Quang của các cháu từng là một kiến trúc sư, từng sống trong nhung lụa và quyền thế của một tập đoàn lớn. Nhưng chú ấy đã từ bỏ tất cả để quay về cầm chiếc cưa này.
Tôi cầm lấy một thanh gỗ xoan đào, dùng bút chì kẻ một đường thẳng tắp ngang qua thân gỗ. Sau đó, tôi cầm chiếc cưa tay, đặt lưỡi thép vuông góc với thớ gỗ.
- Thớ gỗ cũng giống như lòng người vậy. - Tôi nói, ngón tay gỗ sưa miết nhẹ lên bề mặt ráp mịn của thanh gỗ - Cây cối lớn lên nhờ mưa nắng của trời đất, thớ gỗ thẳng hay cong đều do tự nhiên hun đúc. Khi các cháu đặt lưỡi cưa xuống, nếu tâm các cháu dao động, nếu các cháu nóng vội muốn cưa cho thật nhanh để xong việc, lưỡi cưa sẽ tự động xiên xẹo. Một khi nhát cưa đã lệch, thớ gỗ sẽ bị xé toạc, khúc gỗ coi như vứt bỏ.
Tôi kéo nhẹ lưỡi cưa. Tiếng *roạt, roạt* vang lên đều đặn, nhịp nhàng. Bụi gỗ màu hồng nhạt rơi lả tả xuống sàn nhà. Từng chuyển động của cánh tay tôi đều đặn như một chiếc đồng hồ quả lắc, không một chút gượng gạo, không một tiếng rít chói tai. Chỉ trong vài nhịp thở, thanh gỗ xoan đào đứt đôi. Vết cắt phẳng lì, mịn màng đến mức có thể soi rõ từng vòng tuổi gỗ mà không cần dùng đến giấy ráp.
Lũ trẻ trố mắt nhìn. Thằng Tí reo lên:
- Đẹp quá! Nhát cưa phẳng như mặt gương vậy chú!
- Đó là vì chú không ép thanh gỗ phải đứt theo ý muốn của chú. - Tôi mỉm cười, trao chiếc cưa cho Tí - Chú chỉ nương theo chiều thớ gỗ, dùng sự chân thành và kiên nhẫn để dẫn đường cho lưỡi thép. Bây giờ đến lượt các cháu.
Ba đứa nhỏ háo hức cầm lấy cưa, bắt đầu thử sức trên những thanh gỗ của riêng mình. Tiếng cưa gỗ bập bõm vang lên, lúc nhanh lúc chậm, kèm theo những tiếng cười đùa giòn tan khi những mẩu gỗ vụn rơi xuống đất. Thanh Nhã kiên nhẫn cúi xuống bên cạnh từng đứa, sửa lại thế đứng, nắn lại cách cầm cán cưa sao cho cổ tay không bị mỏi.
Riêng thằng Toàn vẫn đứng bất động trước khúc gỗ của mình. Bàn tay nó nắm chặt cán cưa, nhưng các ngón tay lại run rẩy. Trán nó lấm tấm những giọt mồ hôi dù gió ban mai từ bờ kênh thổi vào rất mát mẻ.
Nó đặt lưỡi cưa lên thanh gỗ, kéo mạnh một nhát. Một tiếng rít chát chúa vang lên. Lưỡi cưa bị kẹt cứng giữa thớ gỗ xoan đào. Thay vì bình tĩnh rút lưỡi cưa ra để điều chỉnh lại góc độ, Toàn lại nghiến răng, dùng hết sức bình sinh giật mạnh.
*Rắc!*
Một mảng gỗ lớn ở mép thanh xoan đào bị xé toạc ra, để lại một vết sẹo nham nhở, xấu xí. Đường cưa của nó lệch hẳn sang một bên, xiêu vẹo như một con rắn uốn khúc.
Gương mặt Toàn tái mét. Thằng bé hoảng hốt nhìn quanh. Thấy tôi đang quay lưng về phía chiếc bàn bào, nó vội vàng cúi xuống, bốc một nắm mùn cưa mịn dưới sàn, nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay rồi nhào trộn mùn cưa lại thành một thứ bột dẻo quánh. Nó run rẩy trét thứ bột ấy vào vết nứt trên thanh gỗ, cố gắng dùng ngón tay cái miết thật phẳng để che giấu vết sẹo vừa tạo ra.
Hành động ấy của Toàn không lọt qua được mắt tôi. Tôi không quay đầu lại, nhưng qua sự dao động của luồng sinh khí mộc trong căn phòng, qua tiếng thở gấp gáp và mùi mồ hôi lạnh của sự dối trá, tôi đã cảm nhận rõ từng cử động của nó.
Cảnh tượng này khiến tôi nhớ lại những ngày tháng cũ ở tập đoàn Trần Thị. Cha tôi, Trần Thế Hùng, cũng từng dùng những lớp sơn son thiếp vàng, dùng những lời hứa hẹn hào nhoáng và những thuật yếm bùa đen tối để che đậy những công trình rỗng ruột, những móng nhà cắm trên máu và nước mắt của người khác. Sự dối trá trong nghề mộc bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt nhất: một chút keo trám vết nứt, một lớp sơn che thớ gỗ mục, rồi dần dà biến thành sự tha hóa tột cùng của nhân cách.
Tôi chậm rãi bước lại gần bàn của Toàn. Thằng bé giật thót mình, vội vàng lấy tay che kín vết trám còn ướt trên thanh gỗ.
- Cháu... cháu cưa xong rồi... - Toàn lắp bắp, ánh mắt nhìn xuống đất, không dám đối diện với tôi.
Tôi không mắng nó. Tôi chỉ nhẹ nhàng gỡ bàn tay gầy gò của nó ra, để lộ thanh gỗ bị xé toạc đang dính bê bết thứ mùn cưa nhào nước bọt.
- Nhát cưa này bị lệch rồi, phải không cháu? - Giọng tôi rất trầm.
- Con... con lỡ tay... - Toàn lí nhí, hai vai co rúm lại như thể đang chờ đợi một cái tát giáng xuống đầu, thói quen của một đứa trẻ đường phố thường xuyên bị chủ quán hoặc bọn đầu gấu đánh đập mỗi khi làm sai việc.
- Lỡ tay thì không có tội. - Tôi nói, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đang ầng ậc nước của nó - Người thợ mộc nào khi mới cầm cưa cũng đều làm hỏng hàng chục, hàng trăm thanh gỗ. Nhưng tội lỗi nằm ở chỗ cháu đã dùng sự giả dối để che đậy khuyết điểm của mình.
Tôi nhặt thanh gỗ hỏng lên, bẻ nhẹ một cái. Do vết nứt bên trong đã làm suy yếu kết cấu chịu lực, thanh gỗ lập tức gãy đôi ngay tại chỗ Toàn vừa trét mùn cưa.
- Cháu thấy không? - Tôi chỉ vào vết gãy nham nhở - Một thanh gỗ bị che đậy vết nứt trông có vẻ nguyên vẹn ở bề ngoài, nhưng khi dùng nó để làm rui mè, làm xà gồ đỡ mái nhà, nó sẽ gãy sụp xuống bất cứ lúc nào. Khi mái nhà sụp đổ, người phải gánh chịu tai họa chính là những người tin tưởng vào tay nghề của cháu. Sự trung thực của người thợ mộc không nằm ở chỗ cháu làm ra một món đồ hoàn hảo không tì vết, mà nằm ở chỗ cháu dám nhìn thẳng vào vết nứt, dám vứt bỏ thứ hư hỏng để bắt đầu lại từ đầu.
Toàn đứng chết trân. Những lời tôi nói dường như chạm vào một nỗi đau sâu kín nào đó trong lòng nó. Bờ môi thâm tím của thằng bé run bần bật, nhưng nó vẫn cắn chặt răng, cố gắng giữ vẻ lì lợm của một đứa trẻ giang hồ.
Đúng lúc đó, thằng Tí chạy vụt qua để với lấy chiếc giũa thép trên kệ. Chân nó vấp phải chiếc hộp gỗ cũ đặt ở góc xưởng, làm chiếc hộp lật nghiêng. Một phiến gỗ lim dày chừng hai tấc rơi ra ngoài, lăn lông lốc trên sàn rồi dừng lại ngay dưới chân Toàn.
Đó là phiến gỗ lim đoạt vận mà tôi đã thu gom từ tàn tích của một căn biệt thự bị yểm bùa Hắc Lỗ Ban trước đây. Mặc dù bùa chú tà ác đã bị Thanh Nhã dùng nước ngâm vỏ dâu tằm hóa giải, nhưng bề mặt phiến gỗ vẫn còn hằn sâu những đường nét uốn éo méo mó của oán khí tích tụ qua nhiều năm tháng.
Toàn vô thức cúi xuống, toan nhặt phiến gỗ lên để trả lại góc xưởng.
Nhưng ngay khi những đầu ngón tay khẳng khiu của nó vừa chạm vào bề mặt phiến gỗ lim đen bóng, một luồng khí lạnh buốt từ thớ gỗ bốc lên. Thằng bé rùng mình dữ dội. Khuôn mặt nó biến sắc, từ tái mét chuyển sang trắng bệch như không còn một giọt máu.
Những hình ảnh méo mó của lòng tham, của sự trừng phạt và những tai ương vô hình mà phiến gỗ từng gánh chịu bỗng chốc dội thẳng vào tâm thức non nớt của nó. Toàn buông rơi phiến gỗ xuống sàn, lùi lại ba bước, hai tay ôm chặt lấy đầu.
- Con không làm đâu! Con không dám làm nữa đâu! - Thằng bé bỗng nhiên thét lên một tiếng kinh hoàng rồi sụp quỳ xuống nền xi măng lạnh ngắt.
Nó ôm mặt, bật khóc nức nở. Tiếng khóc nghẹn ngào, xé ruột xé gan của một đứa trẻ bị dồn nén đến tận cùng của sự sợ hãi và cắn rứt lương tâm. Ba đứa nhỏ kia ngơ ngác buông cưa, sợ hãi dạt sang một bên.
Thanh Nhã bước nhanh lại, kéo phiến gỗ lim ra xa rồi nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh Toàn. Cô đặt bàn tay dịu dàng lên vai nó:
- Toàn, có chuyện gì xảy ra với em? Nói cho chị và chú Quang nghe đi.
Toàn vừa khóc vừa run rẩy thò tay vào trong túi áo rách rưới của mình. Nó lôi ra một gói nhỏ bọc trong mảnh nilon đen, ném ra sàn nhà. Gói nilon bung ra, để lộ ba cây đinh sắt dài bốn tấc được mài nhọn hoắt, trên thân đinh có khắc những ký hiệu ngoằn ngoèo bằng sơn đỏ tươi.
Tôi nhìn ba cây đinh ấy, đáy mắt hơi co lại. Đó chính là đinh đồng pha sắt dùng trong thuật yếm mộc cấp thấp của những kẻ học mót Hắc Lỗ Ban ngoài chợ trời.
- Có người... có người bảo con... - Toàn nấc nghẹn, từng giọt nước mắt rơi lã chã xuống nền xi măng - Một người đàn ông ở bến xe Miền Tây... ông ta cho con năm trăm ngàn, bảo con phải xin vào tiệm mộc này học việc... Ông ta dặn con... canh lúc chú Quang với cô Nhã không để ý, cắm ba cây đinh này vào bốn góc chân bàn thờ tổ... rồi tìm cách lấy cắp chiếc đục thép cán mun trong tủ...
Gian nhà chìm vào một sự im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng gió xào xạc qua rặng me ngoài ngõ và tiếng nấc nghẹn ngào của Toàn.
- Ông ta bảo... nếu con làm được, ông ta sẽ cho con thêm năm triệu... để con đưa mẹ con đi chữa bệnh thận... - Toàn gục đầu sát đất, hai tay đập thình thịch xuống sàn xi măng - Nhưng con thấy chú cho con ăn bánh bao nóng... chú dạy con cưa gỗ... chú nói về sự ngay thẳng... Con sợ lắm chú ơi! Con chạm vào miếng gỗ đen đó, con thấy nhà cửa sụp đổ, con thấy người ta chết... Con không muốn mẹ con chết, nhưng con cũng không muốn làm người xấu nữa đâu chú ơi!
Thanh Nhã nhìn tôi, ánh mắt cô đượm vẻ xót xa. Những tàn dư của Hắc Lỗ Ban ngoài xã hội vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Những kẻ tham lam, những kẻ muốn tìm kiếm bí thuật phong thủy của dòng họ Trần vẫn đang lẩn khuất đâu đó trong bóng tối, và chúng không từ một thủ đoạn bỉ ổi nào, kể cả việc lợi dụng một đứa trẻ mồ côi cùng quẫn vì mẹ bệnh tật.
Tôi bước lại gần, cúi xuống, dùng đôi bàn tay mộc hóa của mình nâng Toàn dậy. Bàn tay gỗ của tôi vững chãi và ấm áp, ôm lấy bờ vai gầy guộc đang run lên từng hồi của thằng bé.
- Đứng dậy đi cháu. - Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ hoe, đẫm nước mắt của nó - Cháu đã không cắm những cây đinh đó xuống đất. Cháu đã thú nhận tất cả trước khi quá muộn. Điều đó chứng tỏ thớ gỗ trong tâm hồn cháu vẫn chưa bị mục ruỗng.
Tôi cầm lấy ba cây đinh sắt trên sàn, ném chúng vào chiếc lò than nhỏ dùng để nấu keo da trâu ở góc xưởng. Ngọn lửa than đỏ rực lập tức liếm trọn lấy những cây đinh, thiêu rụi lớp sơn đỏ tà khí thành một làn khói trắng mỏng manh rồi tan biến vào không khí.
Tôi quay sang chiếc bàn gia công, cầm lên cây thước Bạch Lỗ Ban bằng gỗ dâu tằm mà Thanh Nhã đã gìn giữ bấy lâu. Cây thước dài một thước bốn tấc bốn phân, trên thân khắc rõ tám cung lớn: Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bản.
Tôi đặt cây thước gỗ vào lòng bàn tay còn đang run rẩy của Toàn:
- Cháu nhìn cây thước này xem. Kẻ xấu ngoài kia nghĩ rằng thước Lỗ Ban là công cụ ma thuật để đoạt lấy tài lộc, để yểm hại kẻ thù nhằm chiếm đoạt đất đai, tiền bạc. Nhưng tổ sư Lỗ Ban truyền lại cây thước này cho hậu thế không phải vì mục đích đó. Bốn cung Hung: Bệnh, Ly, Kiếp, Hại là để nhắc nhở người thợ phải biết tránh những điều tà ác, tránh làm những công trình gây tổn hại đến sinh mệnh con người. Bốn cung Cát: Tài, Nghĩa, Quan, Bản là để đo đạc sự hòa hợp giữa con người với đất trời, giữ cho ngôi nhà vững chãi trước bão giông.
Tôi chỉ tay vào chữ *Bản* được khắc son đỏ tươi ở cuối cây thước:
- Chữ *Bản* này nghĩa là gốc rễ, là bản tâm của con người. Một người thợ mộc dù có tay nghề cao siêu đến đâu, dù có dựng nên những tòa tháp chọc trời, nhưng nếu đánh mất chữ *Bản*, đánh mất sự lương thiện và trung thực trong lòng mình, thì toàn bộ sự nghiệp của kẻ đó chỉ là một đống gỗ mục chờ ngày sụp đổ.
Toàn ôm cây thước gỗ vào lòng. Nước mắt nó vẫn chảy dài, nhưng ánh mắt đã không còn vẻ lấm lét, sợ hãi nữa. Ánh mắt ấy giờ đây tràn đầy sự hối lỗi và niềm tin son sắt.
- Chú Quang... chú cho con ở lại đây học việc nha chú? - Toàn nấc lên, giọng khẩn thiết - Con không cần tiền năm triệu của kẻ xấu nữa. Con sẽ đi bốc vác thêm buổi tối để kiếm tiền mua thuốc cho mẹ. Con muốn học làm thợ mộc chân chính, con muốn học cách cưa thẳng từng khúc gỗ giống như chú!
Tôi mỉm cười, đưa tay xoa đầu nó:
- Về chuyện bệnh tình của mẹ cháu, chiều nay cô Nhã sẽ cùng cháu đến bệnh viện để thanh toán viện phí và nhờ bác sĩ giỏi chăm sóc. Tiệm mộc của chúng ta có quỹ hỗ trợ bà con nghèo từ các công trình sửa nhà cũ. Cháu không phải đi bốc vác ở đâu hết. Việc của cháu là ở lại đây, chăm chỉ học nghề, học làm người ngay thẳng.
Ba đứa nhỏ Tí, Bông cũng chạy lại, nắm lấy vạt áo Toàn, cười ríu rít:
- Anh Toàn ở lại cưa gỗ với tụi em đi! Tụi em không sợ anh nữa đâu!
Thanh Nhã bước đến, nhặt một thanh gỗ xoan đào mới đặt lên bàn trước mặt Toàn. Cô trao lại chiếc cưa tay cho nó, ánh mắt dịu dàng khích lệ:
- Nào, bây giờ lau nước mắt đi. Hãy cưa lại nhát cưa đầu tiên của đời mình bằng tất cả sự trung thực trong lòng em.
Toàn hít một hơi thật sâu. Nó lấy mu bàn tay quệt sạch nước mắt trên má, đứng thẳng người lên trước bàn thợ. Bàn chân nó trụ vững trên sàn nhà, hai vai thả lỏng, bàn tay cầm cán cưa chắc chắn nhưng không còn gồng cứng như trước.
Nó đặt lưỡi cưa vuông góc với thớ gỗ.
Tiếng cưa gỗ lại vang lên giữa gian nhà cổ. *Roạt... roạt... roạt...* Từng nhát cưa đều đặn, nhịp nhàng, mang theo sự tĩnh lặng của một tâm hồn vừa tìm lại được phương hướng đúng đắn. Mùi mùn cưa xoan đào ngát hương bay lơ lửng trong nắng sớm, hòa vào tiếng cười trong trẻo của những đứa trẻ học việc.
Tôi đứng bên cạnh Thanh Nhã, nhìn theo từng đường cưa thẳng tắp của Toàn đang ăn sâu vào thớ gỗ. Bài học đầu tiên cho đời sau đã bắt đầu như thế, không phải bằng huyền thuật cao siêu, mà bằng sự thức tỉnh của một chữ Tâm bình dị giữa chốn nhân gian.